CĂN
BỆNH MÃN TÍNH
CỦA
ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
GSTS
Trần Văn Khê
Trong bàn tròn âm nhạc
của Giai điệu xanh, em Hữu Trịnh đã lên tiếng « báo động
», giáo sư Ca Lê Thuần đã hưởng ứng và nêu lên sự kiện
kinh tế thị trường, làm «nẩy nở chủ nghĩa thực dụng
», nhiều nơi đã coi « nghệ thuật là một phuơng tiện kinh
doanh », và đã đưa ra những đề nghị rất xác thực, hợp
thời, hữu hiệu như «giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật»,
«tạo môi trường âm nhạc lành mạnh», «soạn lại chương
trình giảng dạy âm nhạc », «đào tạo đội ngũ kế thừa»,
xem lại «chế độ, chánh sách ưu đãi học sinh học
nhạc dân tộc, và nghệ nhân đang gìn giữ vốn âm nhạc dân
tộc». Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan đã ưu tư vì «những
em học nhạc dân tộc ra trường không thể sống bằng nghề’’,
đôi khi mệt mỏi vì tổ chức những buổi biểu diễn là
muốn xây những chiếc « cầu nối » để dẫn công chúng
đến với âm nhạc dân tộc, hao công tốn của mà vẫn phải
«tự lực cánh sinh», chưa có ai tiếp tay trong công việc đó.
Còn nhiều ý kiến rất hay của những bạn khác, kể ra không
xiết.
Để góp ý với các
bạn trên diễn đàn nầy, tôi xin đưa ra vài nhận xét về
những nguyên nhân nào đã tạo ra một tình trạng đáng buồn
của âm nhạc dân tộc trong xã hội Việt Nam ngày nay,
và nếu biết rõ được con vi trùng hay siêu trùng nào gây
ra căn bịnh, hoặc vì đâu âm dương trong cơ thể ta mất quân
bình, thì chúng ta sẽ tìm những phương thuốc để trị bịnh
đó.
Có lẽ, như các bạn
vừa thấy, tôi vì «méo mó nghề nghiệp», vừa là nhà dân
tộc âm nhạc học mà có lúc học Y tại Hà nội, nên thấy
tình trạng khó khăn của âm nhạc dân tộc như một «căn
bịnh». Bản chất của truyền thống âm nhạc Việt Nam rất
vững chắc, sinh lực truyền thống rất dồi dào. Giá trị
nghệ thuật rất cao. Tại sao lại bị chìm vào quên lãng?
Như người đang khoẻ mạnh, bỗng kiệt sức, thì chỉ vì
lâm bịnh
.
Chẩn mạch xong, tôi
thấy rầt nhiều nguyên nhân, lịch sử, chánh trị, tâm lý,
kinh tế, xã hội , từ rất lâu, đã làm cho dân tộc ta, nhứt
là giới thanh niên lần lần đi xa âm nhạc dân tộc..
Nguyên nhân từ hơn
một thế kỷ.
Trong lịch sử, từ hơn
một trăm năm, nước Việt Nam mất chủ quyền. Chánh sách
thuộc địa , tuy không cấm đoán chúng ta học tập hay biểu
diễn âm nhạc dân tộc, nhưng người thống trị thường phổ
biến và đề cao văn hoá của họ, và tất nhiên đẩy lùi
văn hoá người bị trị vào trong bóng tối.
Tình trạng dân
bị trị dẫn đến tâm trạng tự ti : thấy người thống
trị có lực lượng quân sự hùng hậu, nếp sống vật chất
cao với nhiều tiện nghi, bị choá mắt vì cái hào nhoáng bên
ngoài, nhạc cụ lộng lẫy, dàn nhạc đông đảo, người dân
Việt sanh ra tự ti, thấy cái gì mình cũng thua kém, thì
văn hoá mình cũng không bằng văn hoá người thống trị. Thấy
cây đàn piano bóng bẩy, cả mấy chục dây, nhìn lại cây
đàn bầu, thùng tre thùng gỗ trông nó nghèo nàn làm sao, và
nó lại nằm trong tay những người ăn mày, mà quên đi cái
giá trị của nó trong chỗ chỉ một dây mà tạo ra bao nhiêu
âm thanh, có âm vực trên ba quảng tám, phối hợp hai nguyên
tắc vật lý là tạo bồi âm bằng cách khảy dây đàn đúng
chỗ nút giao động để tạo ra bồi âm, rồi thay đổi độ
căng của sợi dây để làm cho bồi âm có độ cao thấp khác
nhau, không thấy rằng «một dây nũng nịu đủ lời, nửa
bầu chứa cả một trời âm thanh » (Thơ của Văn Tiến Lê)
. Chỉ thấy hình dáng thô sơ mà quên rằng trong sự cấu tạo
nhạc khí, cha ông chúng ta đã dùng «một dây căng giữa đất
trời, cần nghiêng nghiêng tựa dáng người vươn lên» (Thơ
Nguyễn Hải Phương), có cả thiên, địa, nhân trong vóc dáng,
mà «tiếng ngân, ngân tận cõi nào, dư âm rơi ngẩn ngơ vào
tim ai (Thơ Nguyễn Hải Phương ). Đi học đàn cò, thì xấu
hổ, dấu kín cây đàn cò trong bị. Đi học đàn violon, thì
hãnh diện xách cây đàn trong hộp gỗ cho mọi người thấy.
Lòng tự ti đó dẫn tới chỗ nhiều người nghĩ rằng : «
đàn dân tộc là lạc hậu, đàn Tây là tiến bộ » !! Đi
đến chỗ bỏ đàn Việt, học dàn Tây.
Rồi những nguyên nhân
kinh tế lại càng làm cho thanh niên xa lần âm nhạc truyền
thống. Trong những buổi hoà nhạc , trên các Đài phát thanh,
sau nầy trên Đài truyền hình, trong các hãng làm dĩa hát,
tiền thù lao cho nhạc công truyền thống thua xa tiền thù lao
của những nhạc công đàn Tây và từ năm sáu chục năm nay,
thua cả diễn viên tân nhạc. Bỏ công luyện tập đàn dân
tộc để không sống được với nghề nghiệp của mình. Cùng
một thời gian luyện tập, đi vào nhạc mới, nhạc Tây sẽ
làm ra tiền nhiều hơn. Tính thực dụng đã làm cho thanh niên
quay lưng với âm nhạc truyền thống.
Tiếp theo là nạn chiến
tranh. Trong hơn 30 năm, nước Việt bị chìm trong khói lửa.
Nông dân cấy lúa ban đêm, im lặng không hò không lý. Đối
ca nam nữ, hát đúm, hát ghẹo, hát xoan, hát quan họ cũng im
hơi vắng tiếng vì ngày đêm bom đạn có thể rơi trên đầu
mình bất cứ lúc nào. Tất cả năng lực trong nước đều
tập trung để chống ngoại xâm, phục vụ kháng chiến. Văn
nghệ dân tộc vì thế không được phát triển.
Nếp sống trong xã
hội thay đổi.
Đàn bà không phải như
ngày xưa chỉ là nội trợ, mà đi làm việc bên ngoài. Con
ít bú sữa mẹ, và tiếng hát ru cũng đã tắt trên môi của
bà , mẹ, chị, để nhường chỗ cho những chương trình
của Đài phát thanh giới thiệu những ca sĩ tân nhạc,
hay nhạc kích động của nước ngoài. Đứa trẻ đã mất
đi bài giáo dục âm nhạc đầu tiên của mẹ gieo vào tiềm
thức em .
Trẻ em không còn hát
những bài đồng dao mà hát những bài do người lớn đặt
ra cho em
Thanh niên thiếu nữ
gặp nhau, không còn thích đối đáp bằng những câu ca
tình tứ, những bài hát huê tình, mà thích ôm nhau và khiêu
vũ theo những điệu tango, bolero.
Tiến bộ kỹ thuật
có giúp con người đỡ tay, và nâng cao mức sản xuất, nhưng
cũng làm mất đi vài vài điệu dân ca.Trong đồng ruộng không
còn những giàn hò, hò cái hò con, cất lên những câu kể
câu xô Đã có đài phát thanh cho nghe những bài hát tân nhạc
rồi ! Không còn những tiếng chày tiếng cối nhịp theo những
câu hò giã gạo hay xay lúa, vì đã có những nhà máy thay người,
chỉ cần đổ lúa đầu nầy, hốt gạo đầu kia.
Trên sông nước không
còn những tiếng cất lên trong đêm vắng gọi «Bớ chiếc
thuyền loan khoan khoan gác mái. Tôi có một đôi lời phải
trái phân nhau». Vì bao nhiêu đò máy đã thay thế chiếc đò
chèo. Tiếng máy xình xịch đã thay tiếng Hò khoan vang trên
mặt nước.
Các rạp hát thưa lần
và tụ điểm mọc lên như nấm
Trên các đài phát thanh
hay truyền hình, vắng tiếng đờn ca dân tộc tân nhạc và
nhạc ngoại» chiếm những giờ có thể đông người nghe.
Lại có bao nhiêu bộ
môn bị hiểu lầm, đôi khi chịu hàm oan mang tiếng xấu. Những
đào nương, gốc nông dân, chịu khó luyện tập để hát được
tròn vành rõ chữ, vững tay phách, lại phải có tánh hạnh
tốt mới được tuyển đi hát thờ hay hát cửa đình. Người
đào nương đến khi mang tiếng «cô đầu bị liệt
vào phường bán phấn buôn hương » , vì ít ai biết cô
đầu hát và cô đầu rượu là hai hạng người khác nhau rất
xa. Cô đầu rượu nhờ tài nghệ của cô đầu hát dẫn khách
vào nhà để cô đầu rượu rót chén rượu nồng mời « quan
viên» uống cho say, rồi rỉ tai bày chuyện gió trăng. Nhưng
nghệ thuật ca trù vì vậy mà bị coi thường và chìm lần
vào sự lãng quên.
Chầu Văn bị xem là
mê tín, nên có lúc bị bài trừ chớ không phải là một sinh
hoạt văn hoá toàn diện, có hát có đàn, có trang phục, có
múa.
Những nguyên nhân
tôi nêu ra cho chúng ta thấy vì đâu âm nhạc truyền thống
mất lần sinh lực, nên trước sự tấn công của các luồn
văn hoá ngoại bang, đã bị đẩy lần vào trong bóng tối.
Đa số thanh niên chạy theo cái hào nhoáng bên ngoài vì không
hiểu cái chân giá trị đặc thù mà kín đáo của nghệ
thuật dân tộc
Ngày qua tháng lại,
căn bịnh không ai trị đã thành mãn tính
Nay muốn lành bịnh phải
trị căn chớ không thể trị chứng.
Từ trong gia đình ra
tới xã hội, từ dân chúng đến nhà cầm quyền., mỗi người
đều phải có ý thức nhúng tay vào việc trị bịnh. Nếu
bắt đầu từ ngay bây giờ, có lẽ phải đợi 5, 10 năm hoạ
may mới có kết quả. Nếu không, việc phải tới sẽ
tới. Âm nhạc truyền thống sẽ thoi thóp, tàn lụn rồi đến
khi sức tàn lực tận sẽ trút hơi thở cuối cùng. Đó là
cái nhìn khách quan. Nhưng tôi bổn tánh lạc quan và rất tin
tưởng vào ý chí quật khởi của dân tộc Việt Nam, nên tôi
nghĩ rằng âm nhạc truyền thống, dầu lâm cơn bạo bịnh,
cũng sẽ tìm lại được sức hồi sinh.
Muốn sớm đem lại nguồn
sinh lực cho nguời bịnh, tôi đề nghị những phương thuốc
sau đây :
1°. Làm sống lại tiếng
Hát ru để cho trẻ sơ sanh có được bài giáo dục âm nhạc
đầu tiên trong cuộc đời. Nếu mẹ phải đi làm việc bên
ngoài hay phải gởi con vào nhà trẻ, thì đến giờ các em
ngủ, để cho các em nghe qua máy phóng thanh, tiếng hát ru ghi
vào dĩa hát hay băng từ.
2°. Đem âm nhạc truyền
thống vào học đường là một phuơng thuốc hữu hiệu và
cần thiết nhứt. Dạy con dạy thuở còn thơ. Trong các lớp
mẫu giáo hay các trường tiểu học, trung học nên có chương
trình dạy Giáo dục âm nhạc trong đó âm nhạc truyền thống
dân tộc là nòng cốt.
3°Các em nhỏ nên
hát những bài đồng dao hay những bài hát sáng tác theo loại
đồng dao, như những bài Ông Nỉnh Ông Ninh, Có con dế mèn
của Lê Thương, phù hợp với tâm lý các em hơn những bài
do ngưới lớn sáng tác theo phong cách phương Tây.
4° Khuyến khích người
nông dân hò, lý trong lúc làm việc. Có thể tổ chức những
giàn hò trong mỗi vạn cấy gồm đôi ba cặp hò đối đáp.
Những người hò hay, thì hò nhiều, làm việc ít, mà tiền
công được trả đủ có khi còn được thưởng. Như cô bảy
Phùng Há thuở lên 7, 8 tuổi đi làm thuê trong lò gạch. Nhờ
có giọng ca hay, ai nấy đều dồng ý để cho cô ca, khỏi
làm gạch, mỗi người cho một ít gạch, thành ra cô bé có
giọng oanh vàng hôm nào cũng có nhiều viên gạch, mà khỏi
phải lao công. Người làm nhờ nghe ca, thích thú, năng suất
cao, chủ lò gạch rất thích.
5° Khuyến khích những
sinh hoạt đối ca nam nữ, những buổi hoà đàn dân tộc bằng
cách mở những cuộc thi có cho giải thưởng cho những người
đàn hay hát giỏi. Tổ chức những buổi giao lưu giữa những
đội hát, nhóm đàn.
6° Các Đài phát thanh
và Truyền hình nên có những buổi giới thiệu, có chuyên
gia giải thích, những bộ môn âm nhạc, trong truyền thống
dân gian hay bác học vào những giờ có nhiều người nghe hay
xem, bày những trò chơi đố giải, có liên quan đến âm nhạc
dân tộc. Đài nên mời những nghệ sĩ có tên tuổi đến
dự những buổi liên hoan trên Đài về Hát ru, Hò, Lý, Đối
ca Nam Nữ. Những nguời nghiệp dư được huy chương vàng,
bạc hay đồng trong các liên hoan tại các huyện các tỉnh,
được mời lên Đài biểu diễn, coi đó như là một phần
thưởng mà các bạn không chuyên nghiệp rất thích.
7° Báo chí nên có những
trang đặc biệt về âm nhạc dân tộc.
8° Những nhà xuất bản
sách báo nên phát hành những bưu ảnh có hình nhạc khí được
thông dụng do các nhạc sĩ trẻ biểu diễn , những sách tập
vẽ hay tô màu hình nhạc khí truyền thống , những sách
góp lại những truyền thuyết liên quan đến âm nhạc.
9° Những nhà xuất bản
dĩa hát nên cho ra những dĩa hát giới thiệu nhạc khí, nhạc
phẩm dân tộc, do những nghệ sĩ trẻ biểu diễn, có lời
giới thiệu của những giáo sư có tên tuổi do những kịch
sĩ, ca sĩ được quần chúng hâm mộ đọc lên, từng ấy «siêu
sao » sẽ thu hút nhiều người mua dĩa.
Rất cần có nhiều người
do hiếu kỳ, đi tới âm nhạc truyền thống để tìm hiểu.
Có hiểu mới thương, có thương mới thích, mới sẵn sàng
để thì giờ học hỏi, luyện tập, biểu diễn, thưởng thức,
rồi đi tới bảo tồn, phổ biến, phát huy âm nhạc dân tộc.
Trong xã hội hiện nay,
muốn huy động tư nhân hay hiệp hội, cơ quan nhà nước hay
thương hội tư, kêu gọi sự tài trợ của các Mạnh Thường
quân hay các doanh nhân , chỉ có chánh quyền mới có thể phát
động phong trào mạnh mẽ.
Hiện nay chánh quyền
đã có vạch ra đường lối văn nghệ rất đúng, nhưng các
cơ quan thi hành đường lối chưa được đúng.. Thí dụ khẩu
hiệu «Dân tộc, Khoa học Đại chúng » rất hay. Tính
dân tộc là ưu tiên, là trên hết. Nhưng dân tộc là gì ?
Mỗi người hiểu một cách. Không ít người cho rằng cây
đàn piano nếu được nhiều người ưa thích, học hỏi và
biểu diễn nó sẽ thành cây đàn dân tộc. Nói trọng dân
tộc, kêu gọi dân chúng Về nguồn, nhưng ta vẫn còn thấy
cảnh dàn dựng một Giao hưởng khúc sáng tác theo phong
cách Âu Tây, được tài trợ cả vài trăm triệu đồng. Tổ
chức một liên hoan về đờn tranh có nhiều nước châu Á
tham dự Nhựt Bổn, Đại Hàn, Singapore , v.v.. chỉ nhận được
tài trợ không đến ba chục triệu đồng.
Trong tư nhân cũng vậy
có nhan sắc, mặc áo dài đẹp nhứt được thưởng 15 triệu
đồng. Có năng khiếu âm nhạc, dày công học tập năm nầy
tháng nọ, phải thi qua ba bốn đợt , được huy chương vàng
và số tiền 10 triệu. Nói chi đến đá bóng. Đưa một trái
banh vào lưới được thưởng ba chục triệu đồng như chơi,
nhấn một chữ đàn gân guốc làm não ruột người nghe, chỉ
đuợc tiếng xuýt xoa, hay một tràng pháo tay …rồi thôi! Người
nghệ sĩ đã làm rung động lòng thính giả lại lủi thủi
ra về sống cuộc đời hẩm hiu. !
Tính thực dụng lại
được đưa ra để giải thích những việc đó . Thì ra âm
nhạc đã không còn một nghệ thuật mà chúng ta phụng sự
và đã biến thành một món hàng chúng ta bán !!!
10°. Chánh quyền có
thể giúp rất nhiều trong việc giữ gìn và chấn hưng âm
nhạc dân tộc. Những điều cấp bách cần phải làm Giáo
Sư Ca Lê Thuần đã nói rất rõ ràng, đầy đủ và chí lý..
Tôi chỉ lập lại ba việc :
1. Đem âm nhạc
vào học đường và nhứt là ở cấp mẫu giáo và tiểu học
2. Cải tồ chương trình
dạy nhạc trong cấp Trung học và nhứt là trong các Nhạc Viện.
3. Có chánh sách ưu
đãi những nghệ nhân suốt đời tận tụy với âm nhạc truyền
thống và với sinh viên học nhạc dân tộc .
Trong quần chúng còn
nhiều nhận định về âm nhạc truyền thống cần nên xét
lại :
1. Có lắm ngưòi cho
rằng âm nhạc truyền thống «lạc hậu » . Tôi chi xin hỏi
lại các vị ấy có biết chi về âm nhạc truyền thống mà
dám cho rằng nó lạc hậu.
Các vị có biết
tiếng vê- tiếng vẩy. tiếng lia của đàn đáy khác tiếng
phi, tiếng chầy của đàn tỳ bà ra sao không ?
Các vị có biết rằng
cách nhấn đàn tranh chúng ta phong phú hơn cách nhấn của đàn
Zheng Trung quốc, vì chúng ta có nhấn nửa bực, một bực,
một bực rưỡi, có nhấn rung, nhấn mổ, nhấn nhảy, nhấn
vuốt?
Các vị có biết cách
gõ phách trong truyền thống ca trù độc đáo có một không
hai trên thế gìới ? Thường thì khi gõ nhịp hay đánh trống
thì dùng hai dùi giống nhau, không có nơi nào dùng hai dùi một
thân tròn một chẻ làm hai để cho có một tiếng nặng một
tiếng nhẹ, một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng
cao một tiếng thấp một tiếng Dương một tiếng Âm. Khi đánh
thì âm dương trộn nhau, hai tiếng, phách cái, phách con, chen
nhau làm cho nhịp đều được bao trùm trong những tiếng phụ,
phách không hiện rõ mà biến thành «lẫn phách » có phân
nhịp mà như không có nhịp, thật mà như hư, có mà như không,.hiện
mà như ẩn?
Các vị có biết hát
Nam trong hát tuồng, hát bội, có luyến và láy?. Luyến là
gì mà láy là gì ? Tại sao lại phải khi dùng láy lệ, lúc
dùng láy rút, láy nhún, láy đấp bờ , láy âm, láy dương?
Bao nhiêu cái tế nhị
trong thanh nhạc, trong khí nhạc, các vị có biết rõ không
mà dám cho rằng âm nhạc truyền thống là lạc hậu ?
2. Nhiều người cho rằng
âm nhạc truyền thống rất «lề mề » , không theo kịp nhịp
sống của thời đại . Trong xã hội công nghiệp, nhịp sống
rất mau mà nhạc cổ truyền quá chậm. Tại sao nhịp âm nhạc
lại phải mau theo nhip của xã hội công nghiệp? Âm nhạc là
nghệ thuật, công nghiệp là kỹ thuật, tiết tấu của hai
bên không liên quan gì với nhau cả. Nhịp của nghệ thuật
là nhịp của trái tim. Trái tim của chúng ta không thể đập
theo nhịp điệu cuồng loạn. Nếu trái tim phải đập theo
nhịp của kỹ thuật, chắc ta phải vào bịnh viện. Ở những
nước kỹ thuât tiên tiến bên Âu Mỹ, nhịp sống mau hơn
nhịp sống ở nước ta nhiều. Thanh niên các nước Âu
Mỹ đang quay về nhạc châu Á để tìm chút yên tĩnh, hầu
chống lại nếp sống quay cuồng, lôi cuốn con người vào
guồng máy của nó.
3. Có người lại nói
rằng nhạc truyền thống của ta phải theo đà tiến hoá, phải
thế nầy thế nọ. Các bạn quên rằng âm nhạc truyền thống
đang lâm vào cảnh nguy kịch, như căn nhà đang cháy hay bị
lũ cuốn lôi. Phải chữa cháy trước đã rồi mới nghĩ phải
trồng hoa ngoài sân, phải treo tranh trên tường, phải
đặt điều hoà không khí. Âm nhạc truyền thống đang
lâm cơn bịnh mãn tính trầm kha.. Phải chữa cho bịnh lành
rồi mới nghĩ uống thuốc bổ cho khoẻ người, tập thể
dục cho nở nang bắp thịt. Âm nhạc truyền thống không phải
bất di bất dịch. Nhưng trước khi định cho nó phải tiến
bộ như thế nào, nên cứu cho nó sống trước đã
Theo tôi vừa trình bày
phía trên, muốn trị bịnh cho âm nhạc truyền thống, phải
có chánh quyền nhúng tay vào. Nhưng chỉ có chánh quyền thì
không đủ. Tất cả chúng ta, mỗi người trong phạm vi hoạt
động của mình, phải ý thức đến việc mất còn của âm
nhạc truyền thống và tùy theo khả năng cua mình góp phần
vào việc điều trị căn bịnh mãn tính, thì hoạ chăng trong
mườii năm hai mươi năm nữa chân trời âm nhạc truyền thống
mới có thể tỏ rạng hơn ngày nay.