TÌM
THẤY
NGÔI
CHÙA CỔ
AN
ĐỨC
Ở LÀNG AN BẰNG
THỪA THIÊN – HUẾ
TRẦN LÝ HIỆU.
Tục truyền rằng, khi
xưa, các chức sắc trong làng đã cho xây dựng ngôi chùa tại
Độn Bồ để thờ cúng những người có công với nước.
Đến năm 1968, ngôi chùa bị bom Mỹ đánh sập, người làng
An Bằng đem bức hoành phi và bộ tượng Tam vị Quan thánh
vào thờ tại chùa An Bằng (thuộc khuôn hội Phật giáo làng
An Bằng ngày nay). Trên thực tế, cho đến nay vẫn chưa tìm
thấy ngôi chùa cổ tại Độn Bồ và không có sử liệu nào
nhắc tới nó…
Tại Động Bồ (Độn
Bồ) của làng An Bằng, Phú Vang, Thừa Thiên – Huế, vào ngày
18-5-2004, trong lúc người dân lấy cát để bồi nền cho một
số công trình phục vụ cho đời sống và tín ngưỡng, họ
đã phát hiện một hệ thống nền móng cũ cùng các bức tường
đổ nát nằm sâu dưới lòng đất 7m, có kích thước đo được
với chiều dài là 6m và chiều rộng là 4m. Sau khi tìm hiểu
qua các thư tịch cổ của làng, người ta xác định đây là
một ngôi chùa cổ có từ rất xa xưa, nên chỉ sau đó một
tuần, dân làng tự nguyện đóng góp kinh phí để xây mới
lại ngôi chùa. Trong quá trình làm, nhóm thợ đã tìm thấy
những chiếc hũ bằng gốm dọc theo hệ thống móng cũ. Những
chiếc hũ này có màu da lươn, trơn, bóng; hình dáng giống
với chiếc bình vôi cũ thời Chiêm Thành nhưng có kích cỡ
lớn hơn và không bằng nhau, nặng từ 0.5 đến 1kg. Nắp hũ
được gắn liền với thân hũ, phía dưới nắp có miệng
hình tròn, kích thước bằng đồng xu nhỏ. Ông Hồ Thiết,
trưởng ban các họ tộc làng cho biết: “Sau khi phát hiện
các di vật trên, đồng thời xác định đây là ngôi chùa
cổ, chúng tôi đã báo cáo với cơ quan chức năng, xin phép
xây dựng. Các vị chức trách huyện Phú Vang có mặt tại
hiện trường đã gợi ý dân làng giữ lại một phần nền
móng cũ để làm cơ sở nghiên cứu về sau”. Chúng tôi đã
có những tìm hiểu qua Ban Văn hóa Phật giáo thì được TT.
Thích Hải Ấn cho biết Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa
Thiên – Huế đã có công văn báo cáo và chỉ đạo cho khuôn
hội An Bằng về việc bảo lưu những cổ vật có liên quan,
để đợi những chỉ đạo cụ thể. Tuy nhiên, trong khi chờ
đợi sự chỉ đạo cụ thể thì ban tái thiết chùa tại địa
phương đã cho sửa chữa lại một số hiện trạng mà Ban
Trị sự Phật giáo tỉnh không hề hay biết.
Tìm hiểu qua các vị
cao niên trong làng, chúng tôi được biết: Theo sử liệu truyền
phả của làng An Bằng, ngôi làng này được người có tên
là Nguyễn Văn Linh ở đất Bắc Hà vào khai canh năm 1558 (thời
điểm chúa Nguyễn Hoàng trấn thủ đất Thuận Hóa). Lúc đầu
làng có tên An Dôi, về sau, chúa Ngãi (1687-1691) vì kiêng húy
thân mẫu nên đổi thành An Bằng. Tục truyền rằng, khi xưa,
các chức sắc trong làng đã cho xây dựng ngôi chùa tại Độn
Bồ để thờ cúng những người có công với nước. Đến
năm 1968, ngôi chùa bị bom Mỹ đánh sập, người làng An Bằng
đem bức hoành phi và bộ tượng Tam vị Quan thánh vào thờ
tại chùa An Bằng (thuộc khuôn hội Phật giáo làng An Bằng
ngày nay). Trên thực tế, cho đến nay vẫn chưa tìm thấy ngôi
chùa cổ tại Độn Bồ và không có sử liệu nào nhắc tới
nó. Bức hoành phi đề An Đức tự; lạc khoản bên phải đề:
Cảnh Hưng tuế thứ Quý Dậu trường long nguyệt cúc đán;
lạc khoản bên trái đề: Giác vương nội viện Phấn Nhiên
đạo nhân đề; phía dưới có ghi: Lê Đức Trí pháp danh Hải
Bảo tín cúng. Như vậy căn cứ vào các chữ đề trên hoành
phi và chiếu theo các dòng kệ của các dòng thiền Phật giáo
xứ Thuận Hóa, như dòng thiền của ngài Thiệt Diệu Liễu
Quán (khai sơn chùa Thiền Tôn- Huế), trong thời gian trị vì
Đàng Trong của ba vị chúa Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Chu,
Nguyễn Phúc Thụ thì dòng kệ của Tổ sư Liễu Quán có chữ
Hải nằm ngay sau chữ Tánh, tức cách ngài Liễu Quán 5 đời
(đời thứ 40 dòng thiền Lâm Tế truyền từ Trung Quốc sang).
Nhưng nếu cách ngài Liễu Quán 5 đời thì chữ Hải không
thể nằm trong thời gian có niên hiệu Cảnh Hưng, mà phải
vào đời vua Tự Đức (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ
XIX). Còn nếu chữ Hải của ông Lê Đức Trí pháp danh Hải
Bảo rơi vào dòng kệ của ngài Trí Bảng Đột Không thì theo
truyền thừa của dòng kệ trên có đệ tử là Minh Châu Hương
Hải (một vị quan dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu các quan
xuất gia, lập ra Thiền Tịnh viện tại núi Linh Thái). Chiếu
theo dòng kệ này, nếu chữ Hải mà ông Lê Đức Trí thọ
nhận là pháp danh Hải Bảo thì sẽ cách ngài Minh Châu Hương
Hải 3 đời, có nghĩa là vào khoảng thời gian đầu thế kỷ
XVIII, theo lạc khoản bên phải bức hoành phi: Cảnh Hưng tuế
thứ Quý Dậu… tức vào đời vua Lê Hiển Tôn, và năm Quý
Dậu là năm 1753, tức dưới thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc
Khoát ở Đàng Trong. Như vậy, có thể ngôi chùa cổ An Đức
đã có trước năm 1753 hoặc thời gian tương đương, và ngôi
chùa này đã được xây dựng xong hoặc vừa mới trùng tu.
Trong khi đi tìm lai lịch
của ngôi chùa, chúng tôi biết thêm nhiều thông tin trái ngược
nhau liên quan đến ngôi chùa cổ An Đức, và những gì còn
lại có liên quan đến ngôi chùa đều có giá trị về mặt
văn hóa và lịch sử của dân tộc và Phật giáo. Mong rằng
người dân làng An Bằng và các cơ quan chức năng sớm có
những quyết định đúng đắn để gìn giữ ngôi chùa cổ
một cách nghiêm túc hơn.