HÃY
LẮNG NGHE
HOA
NHẬT
CHIÊU
Hãy lắng nghe hoa
lời vô thanh ấy
đi vào tim ta
Onitsura
(Shitagau ya
oto naki hana mo
mimi no oku).
Nhà thơ Onitsura thế
kỷ mười bảy xứ Phù Tang dường như đang nghiêng tai lắng
nghe hoa lên tiếng, xin tòng phục (shitagau) những bông hoa trầm
mặc.
Hoa nói gì? Dường như
Onitsura thường trò chuyện với hoa.
Hoa mơ ơi
chỉ trái tim ta biết
chỉ mũi ta thôi.
(Ume wo shiru
kokoro mo onore
hana mo onore).
Đó là ngôn ngữ của
làn hương. Ngôn ngữ của một cõi Phật. Hoặc chỉ là hương
trần. Vì làn hương cũng là một làn bụi (trần) mà thôi.
Cũng như sắc, như thanh… Cũng là bụi thôi.
Thế nhưng, bụi có thể
nói với trái tim ta. Bụi có thể đem mùa Xuân về. Và cùng
thể cách như thế, mùa Xuân đem bụi thơm về.
Onitsura tòng phục hoa,
tòng phục mùa Xuân và tòng phục trái tim mình. Onitsura là
thiên nhiên:
Dưới trời
mắt ngang và mũi dọc
hoa mùa Xuân tươi!
Hoa tòng phục mùa Xuân
như đôi mắt ta vẫn nằm ngang nhìn đời. Như mùa Xuân có
hoa mơ, hoa đào… và cũng đừng quên còn có những viên đá
cuội mùa Xuân:
Đá cuội hát ca
trong lòng khe núi
dưới cành đào hoa.
(Tanimizu ya
ishi mo uta yomu
yamazakura).
Hãy lắng nghe hoa, hãy
lắng nghe đá. Thơ Onitsura dường như kêu gọi trái tim ta như
thế. Thiên nhiên có tiếng nói, có ca điệu, có vũ khúc. Chỉ
có ta điếc, không có thiên nhiên câm.
Gió chơi
Và thinh không dậy
Tiếng thông reo cười
(Suzu kaze ya
koku ni michite
matsu no koe).
Không chỉ có hoa mơ,
hoa đào, đá cuội, cây thông… mà bản thân hư không (koku)
vẫn có thể reo cười, hát ca. Hãy lắng nghe thinh không! Và
gió:
U… U… Gió trời
mà mẫu đơn lạnh
vẫn một màu tươi.
(Hyu hyu to
kaze wa sora yuku
kan botan).
Gió vi vu, ù ù, hiu hiu,
ào ào… Gió như bài thơ có vần có điệu. Gió như tình.
Hoa thì nhan sắc. Thế cho nên đóa mẫu đơn lạnh mới đỏ
như thế. Gió làm cho hoa đỏ mặt? Hay là mặc gió, hoa vẫn
đỏ như thường? Mà sao không là cả hai?
Đương nhiên là, như
mọi loài hoa, mẫu đơn sẽ tàn rơi. Vậy mà ta sẽ gặp lại
mẫu đơn, lại gặp hoa đào, hoa mơ… như chưa từng có một
cuộc tàn rơi nào. Như chưa từng có cái chết.
Và ta nữa. Ta chết với
từng bông hoa, với từng mùa, và ta sống lại cũng với từng
bông hoa, với từng mùa:
Đậu cành mơ
vẫn chim oanh cũ
và tự bao giờ?
(Uguisu ya
ume ni tomaru wa
mukashi kara).
Trong cảnh giới “cành
mơ – chim oanh” thì Onitsura là ai, là mơ hay oanh? Và ta là
ai, oanh hay mơ? Đang “đậu” hay đang “nở hoa” liệu có
gì quan trọng không?
Với Nguyễn Trãi, là
trăng hay là nước để trăng soi trong cảnh giới “thủy –
nguyệt”:
Nước mấy trăm thu còn
vậy
Nguyệt bao nhiêu kiếp
nhẫn này?
Với cái nhìn của Nguyễn
Trãi hay Onitsura thì nước, nguyệt, cành mơ, chim oanh,… là
cái vượt qua cái chết.
Khi đứa con trai qua đời,
Onitsura soạn bài haiku có vẻ lạ kỳ này:
Chôn con đất này
bao giờ lại nở
hoa hài nhi đây?
(Tsuchi ni umete
ko no saku hana mo
aru koto ka)
Chính là cái chết sẽ
nở những hoa hài nhi mới. Vì chính sự sống nở ra cái chết
mà. Ngay trên mặt đất này. Trên hạt bụi này.
Nhìn mặt đất rồi
nhìn mây. Đất trời như như trong đôi mắt Onitsura:
Cá măng ấy mà
bay lên mặt nước
mây gần rồi xa.
(Tobu anyu no
soko ni kumo yuku
nagare kana).
Con cá măng có cách thể
hiện niềm vui của mình. Mây cũng vậy. Mây đến vì niềm
vui và mây đi cũng vì niềm vui.
Sống là sống với cái
hiện tiền, ở đây và bây giờ. Như bài thơ của Issa:
Tôi ở đây
ở tại nơi này
tuyết đang bay.
(Tada oreba
oru tote yuki no
furi ni keri).
Mây đến rồi đi. Và
tuyết rơi. Và năm tháng lướt trôi. Và tuy tôi ở trong mây,
ở trong tuyết, ở trong năm tháng nhưng bao giờ tôi cũng ở
đây, ở nơi này – một buổi sáng mùa xuân chẳng hạn.
Như bài thơ Ezra Pound:
Vút nhanh năm tháng
vô phương thu hồi
Trang nghiêm sáng nay
lặng lẽ xuân đời
(Swiftly the years beyond
recall
Solemn the stillness of
this spring morning).
Trong buổi sáng mùa Xuân
này (this spring morning) tôi là nắng xuân này. Cần chi thu hồi
năm tháng đã qua hay trông ngóng một ngày mai nào chứ?
Chẳng có gì sống động
hơn cái lặng lẽ (the stillness) của sáng mùa Xuân này.
Hoặc không sáng mùa
Xuân thì một ngày hội Trùng dương (Chôyô) như khi Bashô dừng
chân tại cố đô Nara:
Làn hương cúc đưa
Nara trầm mặc
những đài Phật xưa
Bashô
(Kiku no ka ya
Nara ni wa furuki
Hotoke tachi).
Bashô sống với cái
bây giờ (hương hoa cúc) và cái vĩnh cửu (những đài Phật
xưa).
Những đài Phật xưa
ấy đang thơm lừng làn hương mới của hoa cúc. Và hoa cúc
mới là hiện thân cho vô số hoa cúc của nghìn xưa.
Hình ảnh hoa cúc (kiku)
và Phật (Hotoke) được Bashô kết nối theo một thi pháp lừng
danh gọi là “nguyên lý của làn hương” (nioi – zuke). Giữa
hai hình ảnh có một khoảng trống. không có tương quan giữa
hoa cúc và Phật. Không tương quan về chữ, cũng không tương
quan về ý. Đặt hai hình ảnh như thế bên nhau tưởng chừng
như vô ý, lạc đề. Nhưng rồi hình ảnh này cảm chiếu hình
ảnh kia, gửi hương cho nhau.
Nguyên lý của làn hương
hoạt động một cách kỳ lạ trong thơ haiku cũng như trong
cuộc đời. Có khoảng trống, có hư không giữa cái này và
cái kia nhưng nếu biết nhìn, thì làn hương sẽ xuất hiện.
Tất nhiên, để có làn
hương thì phải có tầm đón đợi, có cách đọc cuộc sống.
Cửa giấy trắng ngần
bỗng dưng tuyệt đẹp
trong nắng đầu Xuân
Onitsura
(Uchi – harete
Shôji mo shiroshi
Hatsuhi kage).
Trong nắng đầu Xuân,
cửa giấy trắng ngần bỗng trắng ngần hơn bao giờ hết,
gương mặt đẹp sẽ đẹp hơn bao giờ… và cỏ cây sẽ cỏ
cây hơn bao giờ. Ta là ta hơn bao giờ.