THĂM CHÙA THÁNH
DUYÊN
NGUYỄN
QUẢNG TUÂN
Tôi đã đi thăm các
chùa ở Huế nhiều lần, kể từ lần đầu tiên ra chấm thi
năm 1955, nhưng có chùa Thánh Duyên ở xa thành phố mấy chục
cây số nên chưa có dịp tới được.
Mãi đến kỳ Festival
Huế 2004 tôi mới thực hiện được ý định. Và đây cũng
là chuyện tình cờ.
Sáng 15-6-2004, khi tôi
sắp sửa rời khách sạn đi ăn sáng thì anh Trần Nguyễn Khánh
Phong, một giáo viên ở huyện A Lưới về tìm gặp tôi. Anh
chỉ là một độc giả thường đọc các bài báo và các sách
tôi viết nên lần này nghe tin tôi về Huế dự Hội thảo
khoa học về “Tiếng Huế - Văn hóa Huế” anh đã tới
tìm tôi. Sau mấy lời tự giới thiệu, tôi rất vui mừng đón
tiếp anh và mời anh đi ăn sáng. Trong câu chuyện, tôi ngỏ
ý muốn đi thăm chùa Thánh Duyên. Anh vui vẻ hẹn sáng mai 16-6-2004
sẽ đưa tôi đi.
Sáng hôm sau, đúng 7
giờ anh đi Honda lại đón tôi và chúng tôi đi thẳng về chùa
ở xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc.
Chùa ở trên núi Túy
Vân, ven bờ phá Tam Giang, chạy dài từ cửa Thuận An đến
cửa Tư Hiền, không rõ được xây dựng vào năm nào. Sách
Đại Nam thực lục tiền biên chỉ ghi nhận rằng:
“Năm Nhâm Thân (1692)
chúa Nguyễn Phước Chu đã cho sửa chữa chùa. Kể từ năm
1774 chùa lại lâm vào cảnh hoang tàn đổ nát”.
Núi Túy Vân xưa có tên
là Mỹ Am. Theo Đại Nam nhất thống chí: “Đến năm
Minh Mệnh thứ 6 (1825) nhà vua qua đây đã cho lệnh xây dựng
lại”.
Trong bài văn bia do nhà
vua viết vào năm 1836 có ghi rằng:
“Núi này ngày xưa có
nhiều chùa, sau trải qua thời chiến tranh với Tây Sơn đã
bị tàn phá. Năm ngóai ta từng đi qua, nghĩ rằng danh sơn thắng
tích không thể để mất đi, huống hồ nơi đây lại chính
là do Hoàng tổ ta cho xây dựng nên để cầu phước cho con
cháu và tôi dân. Hơn nữa đầu năm lại là dịp Đại khánh
thất tuần của Hoàng thái hậu nên phải trùng tu lại chùa
Thánh Duyên trên nền cũ”. Núi cũng đổi tên là Túy Hoa.
Đến đời Thiệu Trị,
vì kiêng tên húy của Hoàng thái hậu (Hồ Thị Hoa) nên nhà
vua cho đổi tên là Túy Vân (như ta thường gọi bây giờ)
và có làm một bài thơ đề vịnh.
Thơ chữ Hán (phiên âm):
Vân sơn thắng tích
Tích thúy toàn ngoan
bất kế xuân,
Cần long ẩn phục liệt
lân tuần.
Tuệ phong chung độ
u lâm hưởng,
Không vũ hương
la pháp hải tân.
Thụ luyến từ đàm
phù bích lạc,
Kính xuyên tăng kịch
tạp hồng trần.
Thánh Duyên phổ tế
hàm quy thiện,
Phật tích tăng huy tự
hữu nhân.
Thiệu Trị
Chúng tôi xin tạm dịch
là:
Vân Sơn thắng tích
Màu xanh gom lại bấy
lâu,
Rồng thiêng ẩn náu
vây chầu xung quanh.
Tiếng chuông vọng
tới rừng xanh,
Màn hương mưa phủ
pháp lành biển khơi.
Tàn cây quyến luyến
mây trời,
Bụi hồng sư bước
nhẹ dời gót chân.
Thánh Duyên cứu độ
lòng trần,
Phật Đà dấu tích
nguyên nhân rỡ ràng
N.Q.T
Chùa Thánh Duyên như
vậy đã có một lịch sử lâu đời và đã được trùng tu
nhiều lần.
Khi chúng tôi tới thăm,
chùa cũng đang được xây dựng lại.
Từ chân núi, leo mấy
chục bậc mới tới cổng chùa. Chiếc cổng tam quan có cổ
lâu đã được xây dựng lại. Lớp vôi vàng còn mới nguyên.
Một nhà sư trẻ ra đón
chúng tôi. Qua câu chuyện xã giao, nhà sư có hỏi danh tính
của tôi. Tôi cho biết tên thì nhà sư nói:
- Thì ra là bác Nguyễn
Quảng Tuân! Tôi mới đọc bài bác viết về chùa Hàn San ở
Trung Quốc.
-
Rồi nhà sư cho tôi
được biết pháp danh là Thích Minh Chính cũng từ chùa Diệu
Đế ở thành phố Huế về kiết hạ ở đây.
Thầy Minh Chính đích
thân đưa chúng tôi đi thăm chùa sau khi chúng tôi đã vào lễ
Phật.
Đại hùng bảo điện
gồm ba gian, hai chái đang được xây dựng lại, gần xong.
Bàn thờ Phật bố trí tạm ở căn nhà bên trái. Án thờ có
bày Phật Tam Thế, tượng Quán Thế Âm và bộ Thập bát La
Hán nhỏ. Nghe giới thiệu chùa có bộ Thập bát La Hán bằng
đồng lớn, cỡ người thật, với những dáng vẻ riêng đáng
kể là bộ sưu tập tiêu biểu của Huế vào đầu thế kỷ
thứ XIX.
Phía sau, ở lưng chừng
núi là ngôi Đại Từ các, gồm ba gian rộng rãi với hai chái
nhỏ, mới xây dựng xong.
Lên đỉnh núi, có tháp
Điều ngự, hình khối tứ giác, ba tầng, cao khoảng 12 mét.
Sau tháp là Sảng đình.
Trên đỉnh tháp Điều
ngự xưa có dựng trụ đồng đặt Pháp luân chuyển động
theo gió, có cả chuông lắc để khi gió thổi âm thanh có thể
vang vọng ra xa.
Tầng trên của tháp
xưa thờ Trung Thiên Điều Ngự Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, tầng
giữa thờ Nhân gian Điều Ngự Phước Bị Quần sanh Vạn Thiện
Chí tôn và tầng dưới thờ Địa phủ Điều Ngự Minh Sát
Sâm Nghiêm Diện La chủ tể. Ngày nay, tháp để trống. Có
hai chiếc thang gỗ. Leo lên tầng tháp, nhìn xuống thấy cả
một vùng đầm phá Hà Trung, cửa biển Tư Hiền.
Có về thăm chùa Thánh
Duyên mới biết đây là một danh lam thắng cảnh của xứ
Huế đã được ca tụng trong nhiều bài thơ.
Chúng tôi sau khi đã
lễ Phật và thăm cảnh chùa được thầy Minh Chính đưa đi
xem hai tấm bia của vua Minh Mạng và của vua Thiệu Trị.
Ra về với tấm lòng
thanh thản, tôi đã ghi lại một vài cảm tưởng trong bài
hát nói sau đây, xin chép lại để thay cho lời kết luận.
Cảm đề Danh sơn
cổ tự
Những nghe đồn Điều
Ngự tháp đồi cao.
Nhưng đường xa cũng
khó nỗi tìm vào,
Lòng mến cảnh những
ước ao thăm viếng,
Thánh Duyên phổ tế
hàm quy thiện,
Phật tích tăng huy
tự hữu nhân.[01]
Màu biếc xanh gom
lại khắp xa gần,
Đại Từ các tiếng
chuông ngân rừng thẳm.
Ngoài biển Pháp thuyền
về xa mấy dặm,
Cảnh thiên nhiên
càng ngắm lại càng yêu.
Vội vàng ghi lại
đôi điều,
Gọi là kỷ niệm
một chiều cố đô.
Tạ từ cung kính
Nam mô.
[01] Duyên của Thánh
đế cứu vớt khắp lòng hướng thiện,
Dấu cửa Phật nơi
đây rực rỡ là có nguyên nhân.