Tạp bút
MỘT NGÀN
NĂM
NHIỀU GIẤC
MỘNG
TRONG
MỘT GIẤC MƠ
NGUYỄN
THẾ ĐĂNG
Một ngàn năm…
Một ngàn năm đã qua
đi cho đến khi tôi nhìn thấy viên gạch hoàng thành Thăng
Long này, bởi thế mà bỗng dưng tôi nhòe nước mắt. Trong
giọt nước mắt của ngàn năm ấy, tôi mộng thấy tro cốt
mình đã mấy lần rắc xuống sông Hằng, tôi mộng thấy mình
trong một ngàn năm ấy đã có lần mở cửa phòng thiền để
nhìn những đỉnh núi tuyết trắng dưới trời xanh mùa xuân
Tây Tạng, tôi mộng thấy mình trong một ngàn năm ấy đã
có một lần mình tụng kinh trên Ngũ Đài Sơn nhìn về phương
Nam cố quốc, tôi mộng thấy mình trong một ngàn năm ấy có
lần mặc áo thụng dài ngồi bên bờ sông Nil cạnh những
vườn ô liu ngát nắng, tôi mộng thấy mình trong một ngàn
năm ấy có lần bì bõm cày ruộng giữa trưa, trên bờ là
người vợ nghèo mặt đỏ bừng, mồ hôi lấm tấm đang ngồi
nghỉ… Tôi mộng thấy biết bao “mình” trong một ngàn năm…
Cầm trên tay viên gạch
ngàn năm, tôi tưởng thấy Lý Công Uẩn trong ngày dời đô,
tôi tưởng thấy vua Lý Thánh Tông thương xót người ở ngục
trong mùa đông lạnh, tôi tưởng thấy ngày vua Trần Nhân Tông
về lại Thăng Long sau khi chiến thắng quân Mông Cổ, và lời
thơ vang lên “Xã tắc hai lần phiền ngựa đá, Non sông nghìn
thuở vững âu vàng”. Cầm viên gạch trên tay, tôi tưởng
thấy Lê Lợi và Nguyễn Trãi đóng quân ở Bồ Đề, vây hãm
thành Thăng Long khi quân Minh đang chiếm đóng ở đó, tôi tưởng
thấy Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn nhị thập bát tú. Cầm
viên gạch trên tay, tôi rưng rưng tưởng thấy gần ba thế
kỷ Nam Bắc phân tranh, mãi cho đến khi vua Gia Long thống nhất
vào năm 1802. Cầm viên gạch trên tay, tôi tưởng thấy vua
Quang Trung trong chiếc áo bào đen sậm khói thuốc súng bước
vào Thăng Long ngày mồng 5 Tết, tôi tưởng thấy Ngô Thì Nhậm
làm thiền sư với danh xưng Hải Lượng ở ngoại ô thành.
Cầm viên gạch trên tay, tôi tưởng thấy quân Pháp chiếm
Việt Nam vào nửa sau thế kỷ XIX. Cầm viên gạch trên tay,
tôi thấy những ngày kháng chiến cho đến sự chia đôi đất
nước giữa thế kỷ XX. Cầm viên gạch trên tay, tôi thấy
những người lính trẻ và già của hai miền ngã xuống, ngã
xuống ở hai bên chiến tuyến vô hình, và những người dân
cả trẻ lẫn già, cả nam lẫn nữ vĩnh viễn nằm lại bên
những con đường nơi chiến tranh và lịch sử đã đi qua.
Tất cả và tất cả những đồng bào của tôi nằm lại đâu
đó rải rác trên quê hương này, trên đôi mắt khép vẫn
còn loáng thoáng giấc mơ Thăng Long mờ mịt hương khói. Cầm
viên gạch trên tay, tôi thấy ngày thống nhất, mọi đôi mắt
của tất cả những người còn sống đều nhòa lệ. Và bây
giờ, cầm viên gạch hoàng thành trên tay, tôi tưởng thấy
nhịp đập của hàng chục triệu trái tim ở đất nước này
và của hàng triệu trái tim của người Việt xa xứ, ở Nam
Phi, Ai Cập, ở Châu Âu, Bắc Mỹ, ở những nơi xa xôi nhất
của trái đất, tất cả và tất cả đều ít nhất vẫn có
một cái gì đó chung cùng với nhịp đập của Thăng Long.
Áp viên gạch Thăng Long
vào ngực, tôi cảm thấy ước mơ của Thiền sư Vạn Hạnh
và của vua Lý Công Uẩn, đúc kết những ước mơ của những
đời trước đó, nóng ran lồng ngực: Đất nước Việt phải
là con rồng bay lên (đúng với tên gọi Thăng Long). Có ngỡ
ngàng quá chăng khi người ta gọi những nước châu Á đang
bước vào hàng các nước phát triển là những con rồng. Nhưng
không chỉ có thế, ước mơ của đời Lý và đời Trần kế
tiếp cho đến những đời sau, không chỉ là xây dựng đất
nước Việt Nam thành một quốc gia hưng thịnh về vật chất
(kinh tế, quân sự…) mà còn thịnh vượng về tinh thần,
bởi vì con rồng là biểu tượng cho tinh thần và tâm linh
của nền văn minh Đông Á. Trong quẻ đầu tiên của Kinh Dịch,
quẻ Kiền, con rồng tượng trưng cho tinh thần và tâm linh.
Cả sáu hào của quẻ Kiền đều nói về sự đi lên, sự
tiến hóa, sự nâng cấp của tinh thần, của tâm linh, và được
tượng trưng bằng con rồng. Con rồng từ dưới đất bay lên
trời là quá trình tiến hóa, thăng hoa của tinh thần và tâm
linh con người. Hào 1: “Rồng còn tiềm ẩn” (Tiềm long).
Hào 2: “Rồng hiện trên cánh đồng; thiên hạ văn minh”
(Hiện long tại điền; thiên hạ văn minh). Hào 3: “Người
quân tử suốt ngày tự cường không ngừng nghỉ (như con rồng)”
(Quân tử chung nhật càn, dĩ tự cường bất tức). Hào 4:
“Có khi bay vút lên cao, có khi lui về dưới vực” (Hoặc
dược tại uyên). Hào 5: “Rồng bay lên trời, thịnh trị
cao cả” (Phi long tại thiên, thượng trị dã). Hào 6: “Rồng
bay cao quá mức, coi chừng có hối hận” (Kháng long hữu hối).
Thiền sư Vạn Hạnh
và vua Lý Công Uẩn hẳn ý thức hơn ai hết con đường (đạo)
nào, và cách nào để con rồng tâm linh của dân tộc Việt,
vốn được xem là con Rồng cháu Tiên bay bổng trên trời.
Đâu có phải tình cờ khi suốt chiều dài lịch sử của dân
tộc Việt, khi nào dân tộc hưng thịnh thì đạo Phật hưng
thịnh và đạo Phật hưng thịnh thì dân tộc hưng thịnh.
Thăng Long hai chữ ấy đâu chỉ đẹp một cách tình cờ.
Cầm viên gạch trên
tay, tôi thấy cả một ước mơ, một giấc mơ – theo cách
tôi hiểu, giấc mơ là giấc mộng mở mắt, mộng giữa ban
ngày – kéo dài suốt một ngàn năm của dân tộc. Cầm viên
gạch trên tay tôi thấy những con người, những đôi
mắt vĩnh viễn khép lại trong chiến tranh, chiến tranh chống
ngoại xâm và nội chiến, những đôi mắt kiên định và những
đôi mắt ngỡ ngàng, những đôi mắt chết già và những đôi
mắt chết trẻ, tất cả những đôi mắt đều chia sẻ với
nhau một giấc mơ Thăng Long duy nhất, dù rõ rệt hay mơ hồ,
dù ý thức hay vô thức. Cầm viên gạch trên tay, tôi thấy
những đất đai, những năm đất đai màu mỡ được mùa,
những năm đất đai gặp nắng hạn, lũ lụt, nhưng dù đất
đai ở đâu, vùng khắc nghiệt hay thuận lợi trù phú, tất
cả mọi vùng đều chia sẻ một giấc mơ niềm tin với cuộc
đất Thăng Long. Đất Thăng Long ngàn năm vẫn như thế: “Vùng
này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao ráo mà
sáng sủa, dân cư không khổ, không thấp trũng, muôn vật hết
sức tươi tốt phồn vinh. Xem khắp nước Việt đó là nơi
thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương,
đúng là nơi thượng đô kinh sư của muôn đời” (Bài Chiếu
dời đô về Thăng Long của Lý Công Uẩn). Cầm viên gạch
trên tay, tôi thấy sự thiêng liêng của lịch sử, một cộng
nghiệp lớn lao của một dân tộc mà người xưa thường gọi
là thiên mệnh.
Cầm viên gạch trên
tay, tôi thấy rất nhiều giấc mộng trong chỉ một giấc mơ:
Suốt một ngàn năm,
tôi chưa hề mơ làm vương làm tướng,
Chỉ mơ làm một
người lính già giữ mãi một Thăng Long.