MÓN MỨT CỦA
MẸ
Truyện
ngắn của TRẦN THỊ LINH CHI
Đã từ nhiều năm qua,
hễ cúng giao thừa xong là tôi không tài nào chợp mắt được.
Chuyện đời mênh mang chập chùng như sương khói; hoang sơ
là thế mà xao xuyến ngậm ngùi; vu vơ là thế mà trĩu nặng
nhớ nhung.
Hình như càng qua nhiều
tuổi đời, người ta càng hay tưởng về những quãng đời
cũ càng xa. Tôi đang nghĩ tới những ngày cũ, đến cái thời
mới mười hai mười ba tuổi của tôi tại xóm nhỏ ngoại
ô thành phố Huế.
Cũng như các năm trước
và nhiều năm sau, năm ấy, sau khi cúng giao thừa, mẹ tôi đốt
thêm mấy cây nhang rồi cắm vào cây cột tre ngoài hiên nhà.
Mẹ nhìn hai chị em chúng tôi và nói: “Hai đứa vào giường
ngủ đi, sáng mai còn lên hầu thăm bác Thượng”. Em Minh mới
lên sáu, mới đặt mình đã ngủ ngay. Tôi thì còn nghĩ mấy
ngày Tết, đến bạn bè và mơ ước…
Rồi có tiếng thở dài
quen thuộc của mẹ trong đêm. Khổ thân mẹ, kể từ khi cha
tôi rời khỏi nhà tham gia kháng chiến rồi không còn tin tức
gì nữa, mẹ phải chịu bao khổ nhọc để nuôi nấng chúng
tôi, phải âm thầm chịu đựng sự nghèo túng quẫn bách,
luôn luôn che giấu cái nghèo trước mọi người, kể cả những
người thân thuộc. “Để giữ thể diện…”, mẹ nói thế.
Ngày mẹ sẽ dẫn hai chị em chúng tôi lên bác Thượng, chúng
tôi gọi như thế vì bác đang là một vị Thượng thư của
Nam triều. Mẹ tôi kính nể bác vì bác là anh cả của cha
tôi, xem như tiếng nói của cả họ. Hôm trước mẹ đã cẩn
thận xếp vuốt chiếc áo vân màu lục mà từ lâu mẹ giữ
gìn cẩn thận, chỉ mặc một hai lần trong năm những dịp
mà mẹ cho là quan trọng. Lại một đôi xuyến vàng giả mẹ
mới mua ở chợ Đông Ba. Đây là hàng sắm Tết hàng năm của
mẹ, vì xuyến vàng giả sẽ xỉn đi trong vài tháng. Mẹ sẽ
mang đôi xuyến lận vào tay áo, chúng sẽ thoáng lộ ra rồi
bị che đi theo cử động của cánh tay mẹ. Mẹ nghĩ, bác tôi,
hay nhiều người khác, sẽ nhận thấy chúng và tưởng rằng
mẹ tôi vẫn còn đôi xuyến vàng, gia đình tôi không đến
nỗi quá nghèo, mẹ vẫn giữ được nếp nhà và do đó, không
nên thờ ơ, khinh bạc đối với mẹ…! Em Minh được mẹ
mua cho một bộ đồ may sẵn và một đôi dép mới; còn tôi,
một đôi guốc gỗ sơn màu nâu nhạt, bóng loáng. Và bộ quần
áo Tết của tôi năm ấy; cái quần vải quyến cũ năm ngoái
và chiếc áo dài màu mỡ gà, cũng của Tết năm ngoái, nay
đã được mẹ nhuộm lại. Mẹ dành cả một buổi chiều
giã củ nghệ để nhuộm áo cho tôi, mẹ nói: “Màu hổ hoàng
đó!”. Tôi nhìn lại, chiếc áo trông không đến nỗi cũ
quá nhưng nó lại có màu vàng ệch của những lát củ nghệ
non. Mẹ vuốt mái tóc “bông bê” của tôi, khẽ đẩy tôi
ra một chút rồi cười tươi: “Ừ, trông đẹp quá, gọn
ghẽ quá.” Tôi hiểu rằng “gọn ghẽ” nghĩa là “hơi
ngắn và hơi chật”. Cũng với bộ quần áo này, năm ngoái
mẹ bảo: “Quần áo phải mặc dài và rộng một chút mới
sang”. Thế mà năm nay mẹ đã thay đổi thẩm mỹ, vì nghèo
đấy thôi!
Mẹ tôi vừa mất cách
đây không lâu, cầu trời phù hộ cho mẹ. Mẹ vẫn thường
bảo: “Áo rách phải giữ lấy lề”. Quan niệm này đã khiến
mẹ phải lao đao hơn, khổ tâm hơn trong thời buổi khó khăn
hồi ấy. Suốt nhiều năm, mẹ buôn bán theo cách lấy hàng
của người này bán lại cho người khác, một cách bán hàng
giùm để lấy hoa hồng. Thời buổi khó khăn, mẹ lại chọn
hàng để bán, không có vốn, lại ngại bán các hàng vặt
rẻ tiền, sợ mất “thể diện”. Hàng mẹ là các xâu chuỗi
ngọc, các xấp vải quý, vòng, kiềng… của các mệnh phụ
hoàng gia. Người muốn bán thì nhiều mà người muốn mua lại
quá ít, do đó mà gia đình chúng tôi hết sức quẫn bách.
Mẹ đã phải dành dụm từng hào từng đồng cho những lần
cúng giỗ, lễ Tết. Đã nhiều năm, món mứt Tết vẫn là
khoai lang ngào, độc nhất và rẻ tiền nhất. Tôi còn nhớ
mỗi chiều 30 Tết, chị em chúng tôi cùng mẹ quây quần bên
chảo khoai lang được sên bằng “đường đọi” (mà phần
đông người Huế gọi là “đoại”) trên cái lò đặt ở
hiên nhà. Đường đoại là thứ đường thô được đổ khuôn
theo hình cái tô nhỏ, miệng rộng, đáy hẹp (tô này được
gọi là đọi hay đoại). Khi nước đường dẻo quánh, những
lát khoai trở màu vàng sậm, mẹ tôi dụi bớt mấy que củi,
giữ cho lửa nhỏ riu riu. Cháo mứt sôi lệch bệch, tỏa mùi
thơm ngát. Chị em tôi tranh nhau nếm mứt. Khoai vừa ngọt vừa
bùi, mềm lại dai, lại thêm vị béo của mè, vị cay của
gừng thật tuyệt.
Ôi, món khoai lang ngào
đường, món mứt của nhà nghèo, thân thương biết mấy. Lớn
lên và khi đã thành gia thất cho đến nay, hàng năm tôi vẫn
tự tay làm món mứt này để cúng ông bà, dâng mẹ, tặng
em Minh và gửi biếu bạn bè. Mẹ tôi không còn nữa; mỗi
khi nhìn chảo mứt khoai lang, tôi nghĩ đó là quà của mẹ,
là món mứt đầu đời và suốt đời của tôi…
Chiều 30 Tết một năm
nọ, tôi và em Minh ngồi trước hiên nhà canh lửa cho chảo
mứt khoai lang ngào của mẹ. Có tiếng xe đạp vang lên ngoài
giậu dâm bụt. Chúng tôi biết ngay là cậu Tánh đang đi qua
trên chiếc xe đạp Saint Étienne của cậu. Cậu là một nhân
vật đặc biệt, nổi bật trong xóm nghèo của chúng tôi. Cậu
ở chung với người anh cả là chủ một cửa hàng buôn rất
lớn, trong một ngôi biệt thự ở đầu xóm, gần đường
cái. Cậu chưa đến tuổi ba mươi, mà nghe đâu cậu đang giữ
một chức vụ quan trọng trong một cơ sở lớn, lại có phần
vốn ở tận Sài Gòn. Khác với mọi người trong gia đình,
cậu luôn vui vẻ với bà con lối xóm, thương yêu và thường
đùa giỡn với đám trẻ…
“Ồ ồ…, tụi bây
làm chi đó? Mứt hả? Tối ni nhớ mang cho cậu một ít nghe!”.
Chúng tôi nhìn cậu, cười toe toét. Tôi nói: “Dạ…, sợ
cậu chê…”. “Ứ ừ, con ni nói tầm bậy, nhớ mang mứt
cho cậu”. Cậu cười ha hả rồi nghiêng mình qua hàng giậu
và thong thả nói: “Cậu đã thông báo khắp xóm, con nít tụi
bây đứa mô dưới 10 tuổi cứ đến nhà cậu lúc 5 giờ sáng
đều sẽ được thưởng bong bóng và kẹo”. Cậu đạp xe
đi và còn ngoái lại: “Đứa mô đến sớm nhất, được
thưởng nhiều nhất, nhớ đó!”.
Tôi thì đã 13 tuổi,
em Minh mới lên bảy. Minh thích bong bóng, thích kẹo nên reo
lên khi nghe cậu Tánh nói như thế. Tôi quyết sẽ đánh thức
Minh dậy thật sớm để đến nhà cậu Tánh lãnh phần quà
lớn nhất.
Nhà vừa lên đèn, tôi
ngỏ ý xin mẹ một đĩa mứt nhỏ để biếu cậu Tánh. Mẹ
bảo: “Nhà người giàu sang, ai thèm ăn mứt khoai nhà mình!”.
Tôi nài nỉ mãi, mẹ mới miễn cưỡng lựa cái đĩa trà còn
tốt nhất nhà rồi sắp đầy mứt và trao cho tôi. Tôi hí
hửng cầm đĩa mứt chạy một mạch ra đầu xóm, đến nhà
cậu Tánh. Tôi đứng bên ngoài cánh cửa sắt gọi mãi, chị
bếp bước ra. Tôi ấp úng bảo rằng cậu Tánh dặn đem mứt
biếu cậu; chị ngập ngừng giây lâu rồi nhận lấy đĩa
mứt.
Tối hôm đó, tôi thao
thức mãi; chợp mắt một lúc thì mẹ đã dậy thắp nhang
trên bàn thờ. Hẳn đã sắp đến 5 giờ sáng. Tôi vội vàng
thức em Minh dậy, dẫn em ra đầu xóm, đứng chờ trước cổng
sắt ngôi biệt thự, chị bếp ra mở cổng. Tôi đẩy mạnh
em Minh chạy thẳng vào, vừa lúc nhiều người trong xóm lục
đục dẫn các con em đến lãnh quà. Cậu Tánh xuất hiện,
cười ha hả, trao bong bóng và kẹo cho từng đứa bé. Em Minh
đến sớm nhất, được một cái bong bóng đỏ thật lớn,
vài cái nhỏ hơn, đủ màu sắc và một gói kẹo lớn bằng
ba bốn nắm tay em. Được quà, Minh mừng lắm. Đôi mắt to
và đen của em sáng hẳn lên trên khuôn mặt nhỏ và tái xanh
của em. Tôi cũng rất vui, thầm cảm ơn cậu Tánh và cứ thắc
mắc không biết cậu đã ăn đĩa mứt của chúng tôi chưa…
Sáng mồng năm, mứt
khoai lang đã cạn. Chúng tôi lại ăn sáng bằng khoai lang luộc
như phần lớn những buổi sáng trong năm. Mồng sáu, mấy chiếc
bong bóng của Minh đã ỉu xìu, nằm lăn lóc dưới chân giường.
Buổi chiều, mẹ bảo tôi đến nhà cậu Tánh xin lại chiếc
đĩa trà đựng mứt hôm nọ… Khi nghe tôi bảo xin lại đĩa
mứt, chị bếp tỏ ra bối rối, rồi bảo tôi chờ. Chị vào
nhà lâu, thật lâu, rồi đem ra cho tôi chiếc đĩa đầy mứt
như hôm 30 Tết. “Đĩa mứt ni phải không? Chẳng ai đụng
tới cả. Thôi em mang về đi”. Tôi ngẩn người ra, cái gì
đó làm nghẹn cổ, làm tức ngực. Tôi giận cậu Tánh, giận
những người nhà giàu, giận chị bếp, thương cho đĩa khoai
lang ngào đã cứng queo, lạnh tênh và thương cho thân phận
người nghèo.
Mẹ tôi nhìn đĩa mứt,
im lặng giây lâu rồi buồn bã nói: “Mẹ đã nói mà…, người
giàu ai thèm ăn mứt khoai lang…!”.
Nhiều năm, nhiều chục
năm trôi qua. Dòng đời trôi đi, nhìn lại chỉ thấy mênh
mang chập chờn. Những mùa Xuân cũ vẫn còn đó trong tâm trí
tôi, lung linh và hư ảo như chiêm bao. Tôi chợt nghĩ đến
những con người của xóm nghèo năm cũ, tôi nhớ đến cậu
Tánh với tiếng cười giòn giã, với giọng nói sang sảng
– Tội nghiệp, nghe đâu cậu đã mất hơn chục năm rồi.
Đĩa mứt khoai lang ngào
đang ở trên bàn thờ mẹ tôi. Tôi lại nghĩ đến mẹ và
thấy ấm áp trong lòng. Khép nhẹ mắt, tôi nghĩ chắc sáng
mai Minh sẽ gọi điện chúc Tết tôi và khen mứt khoai lang
tôi đã gửi biếu.