Những gì trong
gia sản văn
hóa Việt Nam đóng góp cho
nền
hòa bình và an vui trên thế giới
Hoà
Thượng Thích Nhất Hạnh
Tôi biết một anh chàng
họa sĩ sống ở Hoa Kỳ, người Huế. Ngày xưa anh rời quê
hương một cách rất khó khăn. Anh ta đã xin làm bồi trên
một chiếc tàu thủy để đi qua một nước Tây phương. Anh
ta nghĩ rằng mình sẽ có một tương lai ở đó. Cái đêm anh
từ giã bà mẹ của mình, hai mẹ con đã khóc rất nhiều.
Bà cụ là một người đàn bà Huế không biết đọc biết
viết nhưng bà đã dặn người con trai như thế này: “Khi
con qua bên nớ, mỗi khi nhớ mạ nhiều lắm thì con đưa bàn
tay lên và con nhìn bàn tay con cho kỹ, con sẽ bớt nhớ mạ”.
Trong suốt mấy mươi năm ở Mỹ, chưa có cơ hội trở về
Việt Nam, anh ta thường đưa bàn tay lên ngắm và thấy được
an ủi. Cố nhiên bà mẹ Việt Nam đó chưa bao giờ từng học
triết học, chưa từng học khoa học nhưng bà có tuệ giác
của cha ông để lại. Bà biết rằng mình có mặt trong bàn
tay của con trai mình.
Chúng ta biết rằng tất
cả gia tài di truyền của tổ tiên, của cha ông mà chúng ta
được tiếp nhận và các thế hệ tổ tiên cũng như cha mẹ
mình đang có mặt đích thực trong từng tế bào của cơ thể
mình. Đó là một sự thực khoa học. Tất cả kinh nghiệm,
trí tuệ, những hạnh phúc của tổ tiên, của ông bà và cha
mẹ đã được trao truyền cho chúng ta. Tất cả những khổ
đau, khó khăn, những bức xúc của tổ tiên, của ông bà,
cha mẹ cũng đã trao truyền cho chúng ta. Tổ tiên chúng ta,
kể cả thế hệ tổ tiên trẻ nhất là cha mẹ đang có mặt
một cách đích thực trong từng tế bào của cơ thể. Vì vậy
cho nên người mẹ kia, tuy không biết khoa học, không biết
triết học nhưng đã nói lên tuệ giác đó, này con mỗi khi
con nhớ mẹ, con chỉ cần đưa bàn tay lên, con sẽ thấy đỡ
nhớ. Tuy bà không nói nhưng trong lời dặn dò với người
con trai đó đã ẩn chứa ý nghĩa là mẹ đang có mặt trong
từng tế bào của cơ thể con. Sự thực khoa học đó hiện
bây giờ đã được mọi người chấp nhận.
Chúng ta thường nói
với nhau rằng, con cái ở đâu thì ông bà ở đó. Điều này
cũng là một sự thực khoa học. Ông bà đi theo con cái không
phải đi theo sau lưng, hoặc đi theo bên phải, hoặc bên trái
hay đi trước mặt mình, mà ông bà đi theo ngay từng tế bào
của cơ thể. Chúng ta đi đâu thì chúng ta đem tổ tiên ông
bà đi theo nơi đó. Điều đó có thể hiểu một cách rất
khoa học. Chúng ta đi Mỹ thì tổ tiên ông bà của mình đi
Mỹ. Chúng ta đi Hòa Lan thì tổ tiên của mình đi Hòa Lan.
Chúng ta đi Úc thì tổ tiên của mình đi Úc. Chúng ta lên thiên
đường thì tổ tiên của mình sẽ lên thiên đường. Chúng
ta xuống địa ngục thì tổ tiên của mình cũng sẽ xuống
địa ngục với chúng ta.
Xã hội chúng ta trong
thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, con người có cảm tưởng
là mình mất gốc, cảm thấy bơ vơ, lạc loài mà không cảm
thấy được sự liên hệ giữa mình với tổ tiên, ông bà,
cha mẹ mình. Có những người trai trẻ lớn lên giận cha,
giận mẹ, phủ nhận văn hóa, dân tộc và đất nước của
mình. Đó là vì họ phải gánh chịu quá nhiều khổ đau. Có
người giận cha mình đến mức tuyên bố: “Ông đó hả,
tôi không muốn có liên hệ gì đến ông đó hết! I do not
want to have anything to do with him! Nói như vậy không có nghĩ
là không có những người thanh niên Việt Nam có nghĩ và nói
như vậy khi cảm thấy những đau khổ của mình là do cha mình,
mẹ mình gây ra thì mình sẽ thù hận cha, mẹ và không muốn
có sự liên hệ đến cha mẹ mình nữa. Đó là những con người
phóng thế, con người không có gốc rễ. Và khi không có gốc
rễ thì không thể nào chúng ta có được hạnh phúc.
Thời đại chúng ta đã
chế tạo ra không biết bao nhiêu con ma đói. Những con ma đói
bằng xương bằng thịt, đi trong xã hội, đi trong cuộc đời
để kiếm một chút hiểu và một chút thương, kiếm một
nơi nương tựa, nhưng lại hoàn toàn bơ vơ. Chỉ cần nhìn
quanh, chúng ta sẽ nhận diện ra được những con ma đói đó.
Họ đói nhưng không phải đói cơm áo, mà họ đói hiểu biết,
đói tình thương. Cái hiểu và thương đó, gia đình không
cung cấp được cho họ. Họ không tin vào nơi hạnh phúc gia
đình mà nghĩ rằng hạnh phúc gia đình là một ảo tưởng
không bao giờ có. Bởi vì từ lúc họ được sinh ra, họ chưa
bao giờ thấy gia đình có hạnh phúc, cha làm khổ mẹ, mẹ
làm khổ cha; cha đay nghiến mẹ, mẹ đay nghiến cha… Tất
cả điều đó đã gây ra vết thương rất sâu đậm nơi người
con trai, con gái. Và khi giữa cha mẹ không có sự truyền thông
(communication), khi giữa cha con không có truyền thông, cha không
nhìn mặt con được, con không nói chuyên với cha được thì
làm sao có được hạnh phúc. Gia đình không phải là nơi mà
người trẻ muốn trở về và người trẻ đi tìm quên lãng
ở những lĩnh vực khác, và vì thế mà người trẻ sa vào
hầm hố của tội ác, của tội phạm, của ma túy, trác táng…
Ở Pháp, mỗi ngày có
khoảng 33 thanh niên tự tử. Họ tự tử không phải vì thiếu
cơm thiếu áo mà họ lâm vào trạng thái tuyệt vọng. Trong
cuộc đời của họ, họ chưa bao giờ tiếp nhận chất liệu
hiểu và thương từ cha mẹ, từ xã hội. Cuộc sống đối
với họ không có một ý nghĩa gì cả và họ nghĩ rằng phương
pháp chấm dứt khổ đau duy nhất còn lại là chấm dứt cuộc
đời của mình. Mỗi ngày có 33 thanh niên Pháp tự tử, con
số đó là hơi nhiều đối với tôi. Các nước khác ở Âu
châu, tình trạng cũng tương tự. Tôi không biết tại Việt
Nam mỗi ngày có bao nhiêu thanh niên tự tử, nhưng số lượng
các gia đình trong đó người cha không truyền thông được
với người mẹ, con không truyền thông được với cha, mọi
người trong gia đình cảm thấy không hạnh phúc, số lượng
gia đình như vậy càng ngày càng tăng. Tỷ lệ những cặp
vợ chồng ly dị cũng càng ngày càng tăng.
Tôi nghe được rằng
tỷ lệ của những cặp vợ chồng ly dị ở Hòa Lan là trên
50%. Cấu trúc gia đình tại xã hội Tây phương bây giờ rất
là lỏng lẻo và mong manh. Cấu trúc đó có thể tan rã bất
cứ lúc nào. Ngày xưa chúng ta có một cấu trúc gia đình vững
chải hơn nhiều. Khi chúng ta có những khó khăn trong gia đình
của mình, mình có thể chạy qua nhà ông chú, bà thím, ông
bác…để “tỵ nạn”, và sau đó chúng ta có thể trở về
nhà được. Còn bây giờ gia đình trở nên nhỏ xíu, mỗi
gia đình ở trong căn hộ rất nhỏ hẹp trong khu chung cư. Những
gia đình như thế gọi là gia đình hạt nhân (nuclear family),
chỉ gồm hai vợ chồng và một hoặc hai đứa con. Khi mà chúng
ta cảm thấy rằng mình không có gốc rễ, không bám vào được
gia đình mình, mình không có gốc rễ trong gia đình, không
có gốc rễ trong truyền thống tâm linh và trong xã hội, trong
văn hóa, trong đất nước thì lúc đó mình sẽ trở thành
con ma đói. Xã hội Tây phương hiện nay sản xuất rất nhiều
con ma đói như thế.
Những trung tâm tu học
của chúng tôi tại Pháp quốc và Mỹ quốc luôn luôn sẵn
sàng chấp nhận những con ma đói. Chúng ta chỉ nhìn ai đó
qua cách họ đi, ngồi, nhìn, nói chuyện trong một phút là
có thể nhận diện ra họ có phải là một con ma đói đích
thực hay không, họ có phải là người đói tình thương, đói
hiểu biết, đói một cái gì đó để mình có thể đồng
nhất hóa, thống thuộc vào và hoàn toàn bơ vơ.
Trong những năm hành
đạo tại Tây phương, chúng tôi đã giúp cho không biết bao
nhiêu người Tây phương trở về được với gia đình của
họ, tái lập được truyền thông với cha, với mẹ và xây
dựng lại được tình thân trong gia đình. Chúng tôi đã giúp
được vô số cặp vợ chồng, cha con, mẹ con hòa giải được
với nhau. Chúng tôi đã sử dụng những yếu tố của văn
hóa Việt Nam để làm việc đó.
Tôi đã từng nói với
một thanh niên: Anh nói rằng anh không muốn có một sự liên
hệ gì với cha anh cả, điều đó thật là buồn cười. Bởi
vì, nếu dành chút thì giờ để nhìn lại thì anh sẽ thấy
rằng anh chính là sự tiếp nối của cha anh, anh chính là cha
anh đó! (You are continuation of your father. You are your father!).
Anh hãy nhìn một hạt bắp người ta mới gieo xuống đất,
vài ngày sau hạt bắp nẩy mầm, mình sẽ thấy một cây bắp
con được biểu hiện bằng hai lá, ba lá. Khi cây bắp con được
biểu hiện ra rồi thì mình không thấy cái tướng, hình tướng
của hạt bắp nguyên sơ nữa. Hạt bắp coi như đã chết để
cho cây bắp được sinh ra. Nhưng kỳ thực, hạt bắp không
chết. Hạt bắp chỉ luân hồi thành cây bắp. Không có cái
chết. Tự tính của hạt bắp là vô sinh, bất diệt. Khi anh
là người có trí tuệ, nhìn vào cây bắp, anh sẽ thấy được
hạt bắp, không phải với cái tướng cũ của nó mà với
cái tướng mới, tại vì cây bắp là sự tiếp nối của hạt
bắp, cây bắp chính là hạt bắp. Khi cây bắp lớn lên, có
bông có trái thì đó cũng là sự tiếp nối của hạt bắp
ban đầu. Khi nhìn cờ bắp, những trái bắp mới ta phải thấy
được hạt bắp ban sơ. Cũng vậy, anh hãy nhìn lại mà xem,
anh là sự tiếp nối của cha anh, anh là sự tiếp nối của
mẹ anh; và anh chính là cha anh, anh chính là mẹ anh. Đây là
một sự thực hiển nhiên anh phải công nhận rằng cha anh,
mẹ anh có mặt một cách rất hiện thực trong từng tế bào
của cơ thể anh. Anh không thể nào lấy cha anh ra khỏi con
người của anh được. Anh không thể tách mẹ anh ra khỏi
con người của anh được. Và như vậy, khi anh giận cha anh,
tức là anh đang giận chính bản thân mình. Anh không có nẻo
thoát. Hãy hãy sử dụng những phương pháp mà chúng tôi đề
nghị để anh hòa giải với cha anh trong anh trước. Tại vì
anh biết rằng thật là vô vọng nếu anh muốn lấy cha anh
ra khỏi anh. Bởi anh không thể làm điều đó được, vì anh
là sự tiếp nối của cha anh, anh chính là cha anh. Chỉ có
một con đường duy nhất là anh phải hòa giải với cha anh
trong chính anh. Phương pháp này gọi là phương pháp quán chiếu:
thấy mình là sự tiếp nối của cha mình, mình là cha mình.
Có thể cha mình trong quá khứ, trong thời thơ ấu đã không
được may mắn, đã bị bầm dập, không được thương yêu,
không được chăm sóc và những vết thương ấy nơi cha anh
không bao giờ lành cả. Cha anh chưa có cơ duyên gặp được
Chánh pháp, gặp được vị hướng dẫn tinh thần giúp cho
cha anh nhận diện vết thương, ôm ấp và chuyển hóa vết
thương đó, vì vậy cha anh đã trao truyền cho anh nguyên vẹn
vết thương mà cha anh đã tiếp thu.
Khi chúng ta có niềm
đau nỗi khổ mà chúng ta không có biện pháp để trị liệu
và chuyển hóa thì chắc chắn chúng ta sẽ truyền trao niềm
đau nỗi khổ đó cho con, cho cháu của chúng ta. Vì vậy cho
nên sự tu tập là rất quan trọng. Tu tập để nhận diện
niềm đau nỗi khổ trong ta, để có thể trị liệu, chuyển
hóa và để đừng có trao truyền nó lại cho thế hệ tương
lai. Nếu mình là một người cha hay, một người mẹ giỏi
thì mình chỉ muốn trao truyền cái hay cái đẹp, cái hạnh
phúc của mình thôi. Và điều đó chỉ thực hiện được
khi chúng ta có sự tu tập. Nếu mình muốn là một người
thầy giỏi, thì mình chỉ trao truyền những cái hay cái đẹp,
cái tuệ giác, từ bi của mình thôi; còn những yếu kém và
khổ đau của mình, mình phải biết ôm ấp, chuyển hóa và
trị liệu trước khi mình trao truyền cho thế hệ tương lai.
Mỗi chúng ta đều có
hai gia đình: gia đình huyết thống và gia đình tâm linh. Gia
đình huyết thống trong đó có ông bà, cha mẹ và di sản di
truyền mà chúng ta tiếp nhận là từ cha mẹ, từ ông bà tổ
tiên huyết thống. Mỗi chúng ta đều có một gia đình tâm
linh, tại vì mỗi người trong chúng ta đều có chiều hướng
tâm linh trong cuộc sống, nếu không có nó thì cuộc sống
của mình sẽ khô cằn, nghèo đói và khổ đau.
Giả sử vua Trần Thái
Tông nếu không có chiều hướng tâm linh trong đời sống thì
vua không thể nào trở thành một vị vua như vua đã trở thành.
Năm 20 tuổi, vua bị thái sư Trần Thủ Độ ép buộc phải
bỏ người yêu là công chúa Lý Chiêu Hoàng để lấy người
chị ruột của Lý Chiêu Hoàng đang có thai với An Sinh vương
Trần Liễu, tại vì thái sư Trần Thủ Độ nóng lòng muốn
có sự kế tiếp cho dòng dõi nhà Trần. An Sinh vương Trần
Liễu rất căm thù và đã tổ chức hải quân chống lại triều
đình. Triều đình nhà Trần ban đầu mặc dù Trần Cảnh tại
vị nhưng quyền lực chính trị thì hoàn toàn do Trần Thủ
Độ quyết định. Trong đau khổ tột cùng đó, Trần Cảnh
đã bỏ ngai vàng tìm đến núi Yên Tử để muốn xuất gia
với thiền sư Viên Chứng. Sau mấy ngày tìm kiếm, Trần Thủ
Độ đã phát hiện ra rằng vua đang ở trên núi và ông đã
đến ép vua phải trở về để làm vua. Ông dọa với thiền
sư Viên Chứng rằng nếu thiền sư không khuyên được vua
trở về kinh thành thì ông sẽ cho thiết lập cung điện ngay
trên núi. Thiền sư Viên Chứng đã tâu với vua Trần Thái
Tông rằng: Bệ hạ trong khi làm vua vẫn có thể tu tập được,
vẫn có thể có được một đời sống tâm linh. Giờ đây,
dân muốn bệ hạ trở về thì bệ hạ cứ trở về, và cứ
làm vua, vẫn đóng vai trò chính trị của một người lãnh
đạo đất nước, nhưng có một điều mà bệ hạ vẫn làm
được là mỗi ngày vẫn có thể nghiên cứu và thực tập
giáo lý của đức Thế Tôn. Không phải ở trong núi mới tu
được, mà ở kinh thành cũng tu được. Mình là nhà chính
trị, mình có thể vừa làm chính trị vừa tu. Nhớ lời khuyên
ấy của quốc sư Viên Chứng, vua đã trở về kinh thành và
mỗi đêm sau một ngày làm việc nặng nhọc về chính trị
và quân sự thì vua đều chong đèn để học kinh và ngồi
thiền.
Trần Thái Tông đã sáng
tác nhiều tác phẩm, trong đó có tác phẩm Lục Thời Sám
Hối Khoa Nghi để vua tự thực tập bằng nghi thức của mình.
“Lục thời sám hối” có nghĩa là vua đã thực tập bái
sám và hành thiền sáu lần trong 24 giờ mỗi ngày. Nếu không
có chiều hướng tâm linh đó thì vua không có đủ sức mạnh
để hoàn tất sứ mạng của một nhà chính trị lớn như
vậy. Nói một cách khác là từ hồi 20 tuổi, vua đã biết
tu, đã biết đem chiều hướng tâm linh vào trong đời sống
của chính mình để có đủ sức mạnh đối phó với những
khó khăn dồn dập trong một nhà chính trị còn trẻ, còn thiếu
kinh nghiệm, và nhờ đó chịu đựng được những đau khổ,
vượt thắng được những khó khăn và trở thành một vị
vua nổi tiếng thành công trong lĩnh vực dựng nước, giữ
nước và giáo dục quốc dân.
Vì vậy cho nên chúng
ta phải biết rằng, ngoài gia đình huyết thống, mỗi chúng
ta phải có một gia đình tâm linh. Nhờ gia đình tâm linh đó,
chúng ta được nuôi dưỡng trong đời sống tâm linh của mình.
Chúng ta biết làm thế nào để nhận diện, ôm ấp, trị liệu
và chuyển hóa nỗi khổ niềm đau của ta thì ta mới có thể
phục vụ được cho gia đình, phục vụ cho quốc gia, phục
vụ cho xã hội một cách thành công, vững chải và hữu hiệu.
Nếu chúng ta đọc lịch sử thời Lý thì chúng ta thấy được
rằng tất cả những ông vua thời đó đều có tu, có thực
tập Thiền. Các ông vua thời Trần cũng vậy. Các vị đó
không đợi khi lớn tuổi, về hưu mới bắt đầu thực tập,
họ thực tập ngay từ khi còn ấu thơ. Chẳng hạn như vua
Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của đời Trần, ngay khi còn
là chú tiểu đồng đã theo học Thiền với Tuệ Trung Thượng
sĩ, tức Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung, anh cả của tướng
Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, con của An Sinh vương Trần
Liễu. An Sinh vương trước lúc chết có gọi mấy người con
đến dặn dò rằng phải trả thù việc Trần Thủ Độ đã
cướp vợ đang có thai gán cho Trần Cảnh. Nhưng những người
con của An Sinh vương Trần Liễu đã không nghe lời cha. Từ
người con gái lớn là hoàng hậu Thiên Cảm cho đến An Ninh
vương Trần Quốc Tung và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
đều quay về phụ tá cho chính quyền nhà Trần. Họ có một
ý hướng đoàn kết rất mạnh, điều đó nhờ sự thực tập
đạo Phật. Sự thực tập đó đã giúp cho họ nối kết,
tha thứ được những lỗi lầm, chuyển hóa được những
khổ đau, giận hờn, thù hận để có thể cùng góp sức với
nhau, cùng xây dựng một đất nước vững chải, có khả năng
chống lại sự đe dọa của phương Bắc.
Tôi nhắc lại vài sự
kiện lịch sử là để chúng ta nhớ tới sự thật là mỗi
chúng ta đều phải có hai gia đình, đó là gia đình huyết
thống và gia đình tâm linh. Gia đình huyết thống trao truyền
cho ta bằng con đường huyết thống và gia đình tâm linh trao
truyền cho mình bằng con đường văn hóa. Sự trao truyền bằng
con đường văn hóa tâm linh cũng đi thẳng vào từng tế bào
của cơ thể.
Tây phương bây giờ
thích dùng hai danh từ đi đôi với nhau, đó là nature và nurture.
Nature là tiên thiên, nurture là hậu thiên. Cha mẹ sinh ra mình
với hình hài này tức là tiên thiên. Còn thầy mình trao truyền
cho mình nếp sống tâm linh, đạo đức là hậu thiên. Hai đường
lối trao truyền đều đi thẳng vào từng tế bào của cơ
thể. Tôi không có con cái huyết thống, nhưng tôi có rất
nhiều con cháu tâm linh, không có ngày nào là tôi không trao
truyền những gì mà tôi cho là hay nhất, đẹp nhất của cuộc
đời tôi. Vì vậy cho nên, gia đình tâm linh của tôi là một
gia đình rất lớn. Bất cứ một tư duy nào, một ngôn ngữ,
lời nói nào hay bất cứ một hành động nào cũng đều là
phẩm vật để trao truyền. Nếu tư duy của ta đi đôi được
với trí tuệ và từ bi, với sự bao dung, hòa ái thì tư duy
đó là một phẩm vật trao truyền cho con cháu tâm linh. Nếu
lời nói của ta đi đôi với sự hòa ái, với tình thương
và sự hiểu biết, sự an ủi và khả năng gây dựng niềm
hy vọng, niềm tin yêu thì lời nói đó là một phẩm vật
trao truyền. Nếu hành động của mình đi đôi với ý chí
bảo vệ sinh mạng, muốn cứu đời giúp người thì hành động
đó là một phẩm vật trao truyền. Mỗi tư duy của tôi đều
mang chữ ký của tôi. Tôi không thể nói rằng đó không phải
là tư duy của tôi. Nếu tư duy đó mang tính tham, sân và si
thì đó là một tư duy tiêu cực, và nếu tôi trao truyền lại
cho con cháu thì thật tội nghiệp cho chúng nó. Tại vì con
cháu tôi là sự tiếp nối của tôi, là tôi. Vì vậy cho nên
tôi rất cẩn thận để cho tư duy của tôi luôn luôn là Chánh
tư duy (right thinking). Chánh tư duy là tư duy đi đôi với sự
hiểu, thương và sự bao dung. Mỗi lời nói của tôi mang theo
chữ ký của tôi. Tôi không thể chối bỏ những gì tôi đã
nói, tại vì câu nói đó có thể gây hoang mang, gây hận thù
và tôi không muốn trao truyền một lời nói như vậy, tôi
không muốn được tiếp nối bằng một lời nói như vậy.
Sự tu tập giúp cho tôi chỉ trao truyền những gì đi đôi
với tinh thần từ bi, trí tuệ, hiểu biết, bao dung và thương
yêu.
Những hành động của
tôi cũng vậy, nó đều mang chữ ký của tôi, tôi không thể
chối bỏ được. Hành động đó phải là hành động bảo
vệ sự sống, xây dựng tình huynh đệ. Đó mới là những
phẩm vật đáng để trao truyền, đáng được tiếp nối.
Luân hồi là như vậy. Luân hồi là sự tiếp nối. Nếu chúng
ta muôn luân hồi cho thật đẹp thì chúng ta phải chế tác
những tư tưởng thiện (chánh tư duy), ngôn ngữ đẹp (chánh
ngữ) và những hành động cao cả (chánh nghiệp). Chỉ có
những người tu mới biết được là họ đang trao truyền
chánh tư duy hay tà tư duy, họ đang trao truyền chánh ngữ hay
tà ngữ, chánh nghiệp hay tà nghiệp… Vì vậy cho nên đời
sống tâm linh, chiều hướng tâm linh là rất quan trọng trong
mỗi người. Là người làm cha, làm mẹ, làm thầy giáo, cô
giáo, thương gia, kỹ nghệ gia, chính trị gia, nhà văn học
mình phải có chiều hướng tâm linh để mình chỉ trao truyền
những gì tích cực và không trao truyền những gì có tính
cách tiêu cực. Và vì mình muốn được tiếp nối một cách
đẹp đẽ nên mình chỉ trao truyền những gì tích cực mà
thôi.
(còn tiếp)