MỖI
HƠI THỞ
TRÊN
QUÊ HƯƠNG LÀ MỘT BÀI THƠ
LTS:
Một chặng đường quan trọng trong chuyến về thăm quê hương
của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh là Huế, quê hương huyết
thống và quê hương tâm linh của Hòa thượng. Ngày 10 tháng
3 vừa qua, Hòa thượng đã có buổi nói chuyện đặc biệt
dành cho giới trí thức tại Trung tâm Festival Huế, do Trung
tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán tổ chức. Gần 4.000 người
đã đến nghe. Sau bài nói chuyện, nhiều câu hỏi đã được
đặt ra. Tạp chí VHPG xin trích giới thiệu những câu hỏi
và trả lời này.
Nhà văn Tô Nhuận
Vỹ, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương – Huế:
Thưa Thầy, con xin phép được hỏi Thầy, trong quá trình truyền
bá văn hóa Việt Nam của mình ra thế giới thì cái khó khăn
lớn nhất của mình là cái gì và trong lúc học tập cái hay
của thế giới phát triển, về văn hóa, thì điều gì mình
không nên học và bắt chước?
Hòa thượng Thích
Nhất Hạnh: Tôi nghĩ điều kiện quan trọng nhất để
mình có thể chia sẻ những tinh hoa, những châu báu của nền
văn hóa mình với Tây phương là mình phải nắm được cái
lề lối suy tư, tâm lý của người Tây phương, phải thông
hiểu cho được văn hóa của họ, nề nếp suy tư của họ.
Khi mà mình hiểu được cách tư duy của người Tây phương,
hiểu được bối cảnh văn hóa, văn minh của họ thì mình
mới có thể hiến tặng những cái quý báu của mình dưới
hình thức mà họ có thể hiểu và chấp nhận được.
Chúng tôi đã từng gặp
rất nhiều vị đạo sư tới từ Á châu, không phải vị nào
cũng thành công cả. Phần lớn quý vị đó không nắm được
cái lề lối suy tư của người Tây phương. Tôi nghĩ muốn
trao truyền, muốn chia sẻ châu báu của nền văn hóa mình
phải hiểu được ngôn ngữ, ngôn ngữ này không phải là
sinh ngữ mà là ngôn ngữ của trí óc họ, cách suy tư của
họ, nền văn hóa của họ. Nói một cách khác hơn đó là
nền văn hóa của Ky-tô giáo. Nếu mình không nắm được thì
mình sẽ không có cách gì để chia sẻ những châu bàu của
nền văn hóa Phật giáo. Tôi từng viết những cuốn sách đối
thoại giữa Phật giáo và Ky-tô giáo. Cuốn đầu mà tôi viết
là cuốn Living Buddha Living Krist, người Trung Quốc dịch là
Sinh Sinh Ky-tô Thế Thế Phật. Cuốn sách đó đã tạo ra rất
nhiều cảm thông. Ban đầu tư tưởng của người Ky-tô, cũng
như người Á Đông chúng ta, đối với người theo đạo Phật
thì những người không theo đạo Phật thì những người không
theo đạo Phật gọi là ngoại đạo, theo đạo bên ngoài; người
Ky-tô cũng vậy, họ xem những đạo không phải là đạo Thiên
Chúa đều là ngoại đạo và họ không có nhu yếu học hỏi
các đạo đó, nhưng mà khi mình viết một cuốn sách như là
cuốn Living Buddha Living Krist có thể làm cho họ tò mò, họ
muốn biết người ngoại đạo nghĩ như thế nào về đạo
của họ, vì vậy họ mua cuốn sách. Vì họ mua cuốn sách
nên họ có cơ hội tiếp xúc được với nền đạo lý của
Phật giáo và tiếp xúc được với châu báu mà họ chưa bao
giờ được tiếp xúc. Cuốn sách thứ hai do tôi viết để
đối thoại với Ky-tô giáo là cuốn Coming Home Going Home, Jesus
And Buddha As Brothers ( Hãy trở về với quê hương đi, Chúa
và Phật là hai anh em đó, khôngphải ai xa lạ gì đâu). Họ
đã đọc hai cuốn sách đó, cả hai cuốn sách này đã được
nhiều giải thưởng và đều bán rất chạy ở Tây phương.
Các vị linh mục, các vị nữ tu trong các tu viện tu kín đã
thừa hưởng rất nhiều từ những cuốn sách như vậy, đã
giúp cho họ tháo gỡ rất nhiều bế tắc và giúp họ đi sâu
vào truyền thống của chính họ. Tôi nghĩ rằng sở dĩ được
như vậy là tại mình biết được, nắm được cái lề lối
suy tư, nắm được văn hóa của họ.
Còn làm thế nào để
dừng tiếp thu những cái không có lợi cho mình, chúng ta biết
rằng nền văn hóa nào cũng có hoa và cũng có rác. Khi mình
cho con mình đi học một trường ở Tây phương thì mình phải
biết rằng nó sẽ thâu thái những bông hoa và cũng sẽ vương
vào những rác rến, vì vậy cho nên, là phụ huynh, mình phải
theo dõi con mình để thấy rằng khi nào nó thây thập bông
hoa của nền văn hóa bản địa thì mình nói: được, cái
đó rất tốt cho con, nó làm giàu cho văn hóa mình; và khi nó
vương vào những cọng rác, những cái thối tha, dơ bẩn, những
cái hư hỏng của nền văn hóa mới thì mình nói: cái đó
không được con ơi, cái đó là rác rến trong nền văn hóa
của họ. Làm cha mẹ, nhất là lúc mình ở tại Tây phương
thì mình phải có thì giờ để có thể nói chuyện với con,
để có thể đi theo con ra ngoài xã hội, đi vào học đường,
có như vậy mình mới có cơ hội trao truyền những giá trị
văn hóa của mình cho con. Nếu cha mẹ bận rộn, con cái bận
rộn thì cha mẹ không có cơ hội trao truyền những châu báu
văn hóa mà mình đã tiếp nhận từ cha ông, và con cháu không
có cơ hội được tiếp nhận gia tài văn hóa đó từ mình,
khi đó mình trở thành những đứa con bất hiếu. Đó là bài
pháp thoại tôi thường nhắc đi nhắc lại cho những người
làm cha mẹ hiện sống tại các nước Tây phương.
Nhà nghiên cứu Phan
Thuận An: Kính bạch Thiền sư, chúng con đã đọc sách
của Thiền sư cách đây bốn mươi năm về trước, chúng con
đã cảm nhận rất nhiều tri thức quý báu qua những tác phẩm
của Thiền sư. Trong thời gian vừa qua, Thiền sư đã trở
về nước và cho chúng con biết những điều rất quý báu
mà Thiền sư đã thực hiện được ở các nước Tây phương,
công việc đó bắt nguồn từ văn hóa Việt Nam. Với những
thành công đã thực hiện được như vậy với nhiều nơi
trên thế giới, thế thì trong chuyến về này, với một cơ
duyên tốt đẹp cho dân tộc, cho đất nước, không biết Thiền
sư có ý định lập ra một thiền viện trên đất nước chúng
ta để truyền bá giáo lý đổi mới của Thiền sư cho dân
tộc, nhất là cho thế hệ trẻ?
Hòa thượng Thích
Nhất Hạnh: Dạ thưa, hiện thời có nhiều vị tôn đức
trong đại gia đình Phật giáo Việt Nam đã có ý muốn thành
lập những trung tâm tu học trong đó những sự giảng dạy
và những sự thực tập được đổi mới để có thể thích
hợp với căn cơ của người trẻ và người trí thức. Chúng
tôi đã hứa với quý vị tôn đức đó là chúng tôi sẽ làm
đủ mọi cách để yểm trợ cho quý vị thành lập những
trung tâm tu học như vậy tại Việt Nam, những trung tâm dành
cho người xuất gia và những trung tâm dành cho người tại
gia cũng như những trung tâm dành cho những người không phải
là Phật tử nhưng vẫn có thể thừa hưởng sự thực tập
đó của đạo Phật. Trong mấy chục năm nay có các thầy và
các sư cô đã có cơ duyên thực tập theo đường lối hiện
đại hóa Phật giáo, hiện bây giờ các vị đó đang có mặt
tại Việt Nam,các vị có thể đóng góp một cách rất tích
cực vào sự thiết lập và duy trì những trung tâm như vậy,
để cho người trẻ, người trí thức cảm thấy thỏai mái
hơn mỗi khi họ tới để tiếp thu và thực tập truyền thống
tâm linh mà cha ông của họ đã thực tập trong thế hệ trước.
Nguyễn Xuân Tùng,
cán bộ Văn phòng Đại học Huế: Kính bạch Ôn, cho
phép con được gọi như thế với tư cách là một Phật tử
Huế. Con nhớ không nhầm thì cũng vào thời điểm này cách
đây khoảng 38 năm trong một buổi tối tại một mái chùa
dưới chân núi Ngự Bình con nghe đài Úc Đại Lợi, họ tường
thuật khá chi tiếp một hội nghị tại Montreal, có đưa tin
rằng tại Hội nghị này có Thượng tọa Thích Nhất Hạnh,
đại diện cho GHPGVNTN đã tuyên bố rằng: Người Mỹ muốn
đến đây để giải phóng chúng tôi, nhưng thực tình người
Việt Nam chúng tôi rất muốn giải phóng khỏi người Mỹ.
Trước đó họ cũng tường thuật lại, rằng trong chuyến
công du hải ngoại thực hiện sứ mệnh của Phật giáo Việt
Nam tranh đấu cho nền hòa bình của Việt Nam, Ôn đã gặp
rất nhiều chính khách của Mỹ, trong đó có ông Bộ trưởng
Bộ quốc phòng Mỹ; cũng hôm đó con đã nghe đài trên tường
thuật cho biết trong lúc gặp các chính khác của Mỹ thì Thượng
tọa Nhất Hạnh có nói rằng với tình hình hiện nay thì người
Mỹ chỉ tạo thâm các tiền đề thắng lợi cho Cộng sản
và người Mỹ sẽ thất bại, người Việt Nam sẽ chiến thắng.
Một bậc danh tăng như Ôn, trong thế kỷ XX, có thể nói suốt
cả cuộc đời đã trung thành với đạo pháp và dân tộc,
một người nặng lòng với non sông đất nước, nhưng cũng
do nhiều trở duyên, lẽ ra khi đất nước hòa bình thì Ôn
được trở về, bởi vì điều tiên liệu của Ôn về việc
người Mỹ thất bại ở Việt Nam là đúng, nhưng mãi đến
hôm nay, gần đến ngày kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Thừa
Thiên Huế, Ôn mới trở về quê hương. Vậy trong khung cảnh
quê hương đã được giải phóng, đất nước được thanh
bình, trong những ngày vừa qua trên quê hương mình, Ôn đã
chứng kiến những thành tựu của quê hương đất nước,
và đặc biệt là sự phát triển của Giáo hội; Ôn đã chứng
kiến đạo tâm của Phật tử, những tình cảm sâu nặng của
Phật tử Huế với Ôn; con không nói đến tình hình ở Hà
Nội và Sài Gòn, vì con chưa được chứng kiến mà chỉ xem
qua phim ảnh, con không biết trong những cảm xúc của một
vị thiền sư suốt đời tu học, hoằng pháp độ sanh và đấu
tranh cho nền hòa bình của dân tộc, mong đem lại sự an lạc
cho quê hương đất nước, là thiền sư thi sĩ, trong chuyến
về này, Ôn có làm thơ hay không? Nhiều người trong chúng
con rất mong được nghe Ôn nói cảm nghĩ của mình sau 39 năm
xa quê. Nhân đây con cũng xin Ôn xác định lại những thông
tin mà con nghe qua đài cách đây 38 năm như trên có chính xác
hay không?
Hòa thượng Thích
Nhất Hạnh: Cái tin mà đài Úc Đại Lợi đưa ra là có
thật. Hôm đó là ngày của tuổi trẻ, có hàng trăm ngàn người
trẻ tới nghe tôi nói chuyện. Tôi đã nói một câu làm cho
họ vỗ tay rất lâu, tôi nói bằng tiếng Anh: We want to be liberated
from your liberation!, đơn giản như vậy. Quý vị muốn giải
phóng cho chúng tôi nhưng chúng tôi muốn giải phóng ra khỏi
sự giải phóng của quý vị. Câu đó chính tôi đã nói, sau
đó tôi đã được mời ăn cơm với các ông Bộ trưởng.
Đó là lần đầu tiên tôi ăn một bữa cơm mà trên bàn có
hàng chục con dao và hàng chục đồ vật mà tôi chưa bao giờ
sử dụng, tôi rất lúng túng không biết sử dụng những cái
dao, nĩa đó như thế nào. Anh thị giả đứng đằng sau nói:
Thưa thầy, thầy cứ nhìn mấy ông đó ăn sao thì thầy bắt
chước vậy thôi!
Hiện nay chúng tôi đang
có một khóa tu dành riêng cho người xuất gia nam và nữ tại
chùa Từ Hiếu. Có khoảng 900 người xuất gia tu với chúng
tôi 4 ngày qua. Chúng tôi còn một ngày mai nữa mới chấm dứt.
Mỗi ngày chúng tôi đều có pháp thoại, có ngồi thiền, pháp
đàm và ăn cơm trong chánh niệm, thiền hành, và phương pháp
thực tập là sống sâu sắc từng phút giây của đời sống
hàng ngày (hiện pháp lạc trú, living happy live in the present
moment). Đó là một yếu tố của văn hóa và Phật giáo Việt
Nam mà chúng tôi đã và đang giảng dạy ở Tây phương. Khi
đi thiền hành với các thầy, các sư cô trên đồi Dương
Xuân, mỗi bước chân giúp cho tôi tiếp xúc với quê hương.
Và mỗi bước chân như vậy là một bài thơ. Tôi làm thơ
bằng hai chân của tôi. Mỗi hơi thở đem tôi về với giây
phút hiện tại, để tôi tiếp xúc với trời xanh mây trắng,
với núi Ngự sông Hương, mỗi hơi thở như vậy là mỗi bài
thơ. Không có giây phút nào trong ngày mà tôi không làm thơ,
làm thơ bằng hơi thở, làm thơ bằng bước chân, làm thơ
bằng ánh mắt nhìn, làm thơ bằng lời trao đổi cho thế hệ
trẻ.
Phái đoàn của chúng
tôi gồm có đại diện trên 30 nước, ngay trong giới xuất
gia đã có 18 nước rồi. Tất cả khi về tới Huế đều có
một cảm giác rất đặc thù, không giống như khi về tới
Hà Nội hay khi về tới Sài Gòn. Tất cả mọi người đều
cảm nhận tính đặc thù đó của cố đô Huế. Hiện bây
giờ chúng tôi chưa diễn tả được cái cảm tưởng đó,chúng
tôi đang sống trong không khí đó và chúng tôi không bao giờ
quên Huế và quên các Phật tử ở Huế, các vị tôn túc cũng
như các vị cư sĩ, đã mở rộng hai cánh tay để đón chào
chúng tôi như là những người anh em đi lâu năm bây giờ mới
trở về.
Chuyến đi ba tháng này,
theo chúng tôi nhận thức, nó rất có tính cách trị liệu,
hòa giải. Chúng tôi đã giúp đem các Phật tử gần lại với
nhau hơn. Chúng tôi đã đóng góp vào sự phục hưng và xây
dưng tình huynh đệ trong đại gia đình Phật giáo. Nói như
vậy không có nghĩa là chúng tôi không ôm lấy những người
không phải là Phật tử. Trong những buổi sinh hoạt, hoặc
những khóa tu, ngày chánh niệm hay diễn giảng của chúng tôi
tổ chức luôn luôn có mặt của tất cả mọi giới, các vị
nhân sĩ và những người thuộc về các truyền thống tôn
giáo khác. Chúng tôi nhìn thầy ánh mắt rạng rỡ hạnh phúc
của những người tham dự, chúng tôi rất thương và rất
cảm động. Đây thực sự là một mùa xuân đoàn tụ. Chúng
tôi sống ý thức từng giây từng phút, được nuôi dưỡng
trong từng giây từng phút trong chuyến đi này.
Nguyễn Bính có nói rằng
Mai kia bỏ Huế rồi quên Huế, chúng tôi sẽ không bao giờ
quên Huế, dầu nhiều người trong chúng tôi cho rằng đây
là lần đầu tiên bước chân lên đất Thần kinh. Chúng tôi
nghĩ rằng, chúng tôi đã đóng góp được vào công việc hòa
giải, trị liệu và xây dựng tình huynh đệ; chúng tôi đã
đóng góp vào công trình điều chỉnh nhận thức. Tại vì
chiến tranh dai dẳng đã tạo ra quá nhiều nghi ngờ, sợ hãi,
lo lắng và quá nhiều tri giác sai lầm, từ những tri giác
sai lầm đó phát sinh ra những sợ hãi, nghi kỵ và hận thù.
Chuyến đi của chúng tôi đóng góp vào công việc tháo gỡ
những tri giác sai lầm đó để làm cho khối nghi kỵ, sợ
hãi và hận thù đó càng ngày càng giảm thiểu. Chúng tôi
có thể nói rằng mỗi ngày cái mức nghi kỵ, sợ hãi
và hận thù đó xuống thấp hơn một chút. Điều đó làm
chúng tôi rất hạnh phúc.