.
..SỐ 02 -THÁNG 3, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 02 -THÁNG 3, 2005

 

 

MỖI HƠI THỞ 
TRÊN QUÊ HƯƠNG LÀ MỘT BÀI THƠ

LTS: Một chặng đường quan trọng trong chuyến về thăm quê hương của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh là Huế, quê hương huyết thống và quê hương tâm linh của Hòa thượng. Ngày 10 tháng 3 vừa qua, Hòa thượng đã có buổi nói chuyện đặc biệt dành cho giới trí thức tại Trung tâm Festival Huế, do Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán tổ chức. Gần 4.000 người đã đến nghe. Sau bài nói chuyện, nhiều câu hỏi đã được đặt ra. Tạp chí VHPG xin trích giới thiệu những câu hỏi và trả lời này.

Nhà văn Tô Nhuận Vỹ, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương – Huế: Thưa Thầy, con xin phép được hỏi Thầy, trong quá trình truyền bá văn hóa Việt Nam của mình ra thế giới thì cái khó khăn lớn nhất của mình là cái gì và trong lúc học tập cái hay của thế giới phát triển, về văn hóa, thì điều gì mình không nên học và bắt chước?

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh: Tôi nghĩ điều kiện quan trọng nhất để mình có thể chia sẻ những tinh hoa, những châu báu của nền văn hóa mình với Tây phương là mình phải nắm được cái lề lối suy tư, tâm lý của người Tây phương, phải thông hiểu cho được văn hóa của họ, nề nếp suy tư của họ. Khi mà mình hiểu được cách tư duy của người Tây phương, hiểu được bối cảnh văn hóa, văn minh của họ thì mình mới có thể hiến tặng những cái quý báu của mình dưới hình thức mà họ có thể hiểu và chấp nhận được.

Chúng tôi đã từng gặp rất nhiều vị đạo sư tới từ Á châu, không phải vị nào cũng thành công cả. Phần lớn quý vị đó không nắm được cái lề lối suy tư của người Tây phương. Tôi nghĩ muốn trao truyền, muốn chia sẻ châu báu của nền văn hóa mình phải hiểu được ngôn ngữ, ngôn ngữ này không phải là sinh ngữ mà là ngôn ngữ của trí óc họ, cách suy tư của họ, nền văn hóa của họ. Nói một cách khác hơn đó là nền văn hóa của Ky-tô giáo. Nếu mình không nắm được thì mình sẽ không có cách gì để chia sẻ những châu bàu của nền văn hóa Phật giáo. Tôi từng viết những cuốn sách đối thoại giữa Phật giáo và Ky-tô giáo. Cuốn đầu mà tôi viết là cuốn Living Buddha Living Krist, người Trung Quốc dịch là Sinh Sinh Ky-tô Thế Thế Phật. Cuốn sách đó đã tạo ra rất nhiều cảm thông. Ban đầu tư tưởng của người Ky-tô, cũng như người Á Đông chúng ta, đối với người theo đạo Phật thì những người không theo đạo Phật thì những người không theo đạo Phật gọi là ngoại đạo, theo đạo bên ngoài; người Ky-tô cũng vậy, họ xem những đạo không phải là đạo Thiên Chúa đều là ngoại đạo và họ không có nhu yếu học hỏi các đạo đó, nhưng mà khi mình viết một cuốn sách như là cuốn Living Buddha Living Krist có thể làm cho họ tò mò, họ muốn biết người ngoại đạo nghĩ như thế nào về đạo của họ, vì vậy họ mua cuốn sách. Vì họ mua cuốn sách nên họ có cơ hội tiếp xúc được với nền đạo lý của Phật giáo và tiếp xúc được với châu báu mà họ chưa bao giờ được tiếp xúc. Cuốn sách thứ hai do tôi viết để đối thoại với Ky-tô giáo là cuốn Coming Home Going Home, Jesus And Buddha As Brothers ( Hãy trở về với quê hương đi, Chúa và Phật là hai anh em đó, khôngphải ai xa lạ gì đâu). Họ đã đọc hai cuốn sách đó, cả hai cuốn sách này đã được nhiều giải thưởng và đều bán rất chạy ở Tây phương. Các vị linh mục, các vị nữ tu trong các tu viện tu kín đã thừa hưởng rất nhiều từ những cuốn sách như vậy, đã giúp cho họ tháo gỡ rất nhiều bế tắc và giúp họ đi sâu vào truyền thống của chính họ. Tôi nghĩ rằng sở dĩ được như vậy là tại mình biết được, nắm được cái lề lối suy tư, nắm được văn hóa của họ.

Còn làm thế nào để dừng tiếp thu những cái không có lợi cho mình, chúng ta biết rằng nền văn hóa nào cũng có hoa và cũng có rác. Khi mình cho con mình đi học một trường ở Tây phương thì mình phải biết rằng nó sẽ thâu thái những bông hoa và cũng sẽ vương vào những rác rến, vì vậy cho nên, là phụ huynh, mình phải theo dõi con mình để thấy rằng khi nào nó thây thập bông hoa của nền văn hóa bản địa thì mình nói: được, cái đó rất tốt cho con, nó làm giàu cho văn hóa mình; và khi nó vương vào những cọng rác, những cái thối tha, dơ bẩn, những cái hư hỏng của nền văn hóa mới thì mình nói: cái đó không được con ơi, cái đó là rác rến trong nền văn hóa của họ. Làm cha mẹ, nhất là lúc mình ở tại Tây phương thì mình phải có thì giờ để có thể nói chuyện với con, để có thể đi theo con ra ngoài xã hội, đi vào học đường, có như vậy mình mới có cơ hội trao truyền những giá trị văn hóa của mình cho con. Nếu cha mẹ bận rộn, con cái bận rộn thì cha mẹ không có cơ hội trao truyền những châu báu văn hóa mà mình đã tiếp nhận từ cha ông, và con cháu không có cơ hội được tiếp nhận gia tài văn hóa đó từ mình, khi đó mình trở thành những đứa con bất hiếu. Đó là bài pháp thoại tôi thường nhắc đi nhắc lại cho những người làm cha mẹ hiện sống tại các nước Tây phương.

Nhà nghiên cứu Phan Thuận An: Kính bạch Thiền sư, chúng con đã đọc sách của Thiền sư cách đây bốn mươi năm về trước, chúng con đã cảm nhận rất nhiều tri thức quý báu qua những tác phẩm của Thiền sư. Trong thời gian vừa qua, Thiền sư đã trở về nước và cho chúng con biết những điều rất quý báu mà Thiền sư đã thực hiện được ở các nước Tây phương, công việc đó bắt nguồn từ văn hóa Việt Nam. Với những thành công đã thực hiện được như vậy với nhiều nơi trên thế giới, thế thì trong chuyến về này, với một cơ duyên tốt đẹp cho dân tộc, cho đất nước, không biết Thiền sư có ý định lập ra một thiền viện trên đất nước chúng ta để truyền bá giáo lý đổi mới của Thiền sư cho dân tộc, nhất là cho thế hệ trẻ?

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh: Dạ thưa, hiện thời có nhiều vị tôn đức trong đại gia đình Phật giáo Việt Nam đã có ý muốn thành lập những trung tâm tu học trong đó những sự giảng dạy và những sự thực tập được đổi mới để có thể thích hợp với căn cơ của người trẻ và người trí thức. Chúng tôi đã hứa với quý vị tôn đức đó là chúng tôi sẽ làm đủ mọi cách để yểm trợ cho quý vị thành lập những trung tâm tu học như vậy tại Việt Nam, những trung tâm dành cho người xuất gia và những trung tâm dành cho người tại gia cũng như những trung tâm dành cho những người không phải là Phật tử nhưng vẫn có thể thừa hưởng sự thực tập đó của đạo Phật. Trong mấy chục năm nay có các thầy và các sư cô đã có cơ duyên thực tập theo đường lối hiện đại hóa Phật giáo, hiện bây giờ các vị đó đang có mặt tại Việt Nam,các vị có thể đóng góp một cách rất tích cực vào sự thiết lập và duy trì những trung tâm như vậy, để cho người trẻ, người trí thức cảm thấy thỏai mái hơn mỗi khi họ tới để tiếp thu và thực tập truyền thống tâm linh mà cha ông của họ đã thực tập trong thế hệ trước.

Nguyễn Xuân Tùng, cán bộ Văn phòng Đại học Huế: Kính bạch Ôn, cho phép con được gọi như thế với tư cách là một Phật tử Huế. Con nhớ không nhầm thì cũng vào thời điểm này cách đây khoảng 38 năm trong một buổi tối tại một mái chùa dưới chân núi Ngự Bình con nghe đài Úc Đại Lợi, họ tường thuật khá chi tiếp một hội nghị tại Montreal, có đưa tin rằng tại Hội nghị này có Thượng tọa Thích Nhất Hạnh, đại diện cho GHPGVNTN đã tuyên bố rằng: Người Mỹ muốn đến đây để giải phóng chúng tôi, nhưng thực tình người Việt Nam chúng tôi rất muốn giải phóng khỏi người Mỹ. Trước đó họ cũng tường thuật lại, rằng trong chuyến công du hải ngoại thực hiện sứ mệnh của Phật giáo Việt Nam tranh đấu cho nền hòa bình của Việt Nam, Ôn đã gặp rất nhiều chính khách của Mỹ, trong đó có ông Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ; cũng hôm đó con đã nghe đài trên tường thuật cho biết trong lúc gặp các chính khác của Mỹ thì Thượng tọa Nhất Hạnh có nói rằng với tình hình hiện nay thì người Mỹ chỉ tạo thâm các tiền đề thắng lợi cho Cộng sản và người Mỹ sẽ thất bại, người Việt Nam sẽ chiến thắng. Một bậc danh tăng như Ôn, trong thế kỷ XX, có thể nói suốt cả cuộc đời đã trung thành với đạo pháp và dân tộc, một người nặng lòng với non sông đất nước, nhưng cũng do nhiều trở duyên, lẽ ra khi đất nước hòa bình thì Ôn được trở về, bởi vì điều tiên liệu của Ôn về việc người Mỹ thất bại ở Việt Nam là đúng, nhưng mãi đến hôm nay, gần đến ngày kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế, Ôn mới trở về quê hương. Vậy trong khung cảnh quê hương đã được giải phóng, đất nước được thanh bình, trong những ngày vừa qua trên quê hương mình, Ôn đã chứng kiến những thành tựu của quê hương đất nước, và đặc biệt là sự phát triển của Giáo hội; Ôn đã chứng kiến đạo tâm của Phật tử, những tình cảm sâu nặng của Phật tử Huế với Ôn; con không nói đến tình hình ở Hà Nội và Sài Gòn, vì con chưa được chứng kiến mà chỉ xem qua phim ảnh, con không biết trong những cảm xúc của một vị thiền sư suốt đời tu học, hoằng pháp độ sanh và đấu tranh cho nền hòa bình của dân tộc, mong đem lại sự an lạc cho quê hương đất nước, là thiền sư thi sĩ, trong chuyến về này, Ôn có làm thơ hay không? Nhiều người trong chúng con rất mong được nghe Ôn nói cảm nghĩ của mình sau 39 năm xa quê. Nhân đây con cũng xin Ôn xác định lại những thông tin mà con nghe qua đài cách đây 38 năm như trên có chính xác hay không?

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh: Cái tin mà đài Úc Đại Lợi đưa ra là có thật. Hôm đó là ngày của tuổi trẻ, có hàng trăm ngàn người trẻ tới nghe tôi nói chuyện. Tôi đã nói một câu làm cho họ vỗ tay rất lâu, tôi nói bằng tiếng Anh: We want to be liberated from your liberation!, đơn giản như vậy. Quý vị muốn giải phóng cho chúng tôi nhưng chúng tôi muốn giải phóng ra khỏi sự giải phóng của quý vị. Câu đó chính tôi đã nói, sau đó tôi đã được mời ăn cơm với các ông Bộ trưởng. Đó là lần đầu tiên tôi ăn một bữa cơm mà trên bàn có hàng chục con dao và hàng chục đồ vật mà tôi chưa bao giờ sử dụng, tôi rất lúng túng không biết sử dụng những cái dao, nĩa đó như thế nào. Anh thị giả đứng đằng sau nói: Thưa thầy, thầy cứ nhìn mấy ông đó ăn sao thì thầy bắt chước vậy thôi!

Hiện nay chúng tôi đang có một khóa tu dành riêng cho người xuất gia nam và nữ tại chùa Từ Hiếu. Có khoảng 900 người xuất gia tu với chúng tôi 4 ngày qua. Chúng tôi còn một ngày mai nữa mới chấm dứt. Mỗi ngày chúng tôi đều có pháp thoại, có ngồi thiền, pháp đàm và ăn cơm trong chánh niệm, thiền hành, và phương pháp thực tập là sống sâu sắc từng phút giây của đời sống hàng ngày (hiện pháp lạc trú, living happy live in the present moment). Đó là một yếu tố của văn hóa và Phật giáo Việt Nam mà chúng tôi đã và đang giảng dạy ở Tây phương. Khi đi thiền hành với các thầy, các sư cô trên đồi Dương Xuân, mỗi bước chân giúp cho tôi tiếp xúc với quê hương. Và mỗi bước chân như vậy là một bài thơ. Tôi làm thơ bằng hai chân của tôi. Mỗi hơi thở đem tôi về với giây phút hiện tại, để tôi tiếp xúc với trời xanh mây trắng, với núi Ngự sông Hương, mỗi hơi thở như vậy là mỗi bài thơ. Không có giây phút nào trong ngày mà tôi không làm thơ, làm thơ bằng hơi thở, làm thơ bằng bước chân, làm thơ bằng ánh mắt nhìn, làm thơ bằng lời trao đổi cho thế hệ trẻ.

Phái đoàn của chúng tôi gồm có đại diện trên 30 nước, ngay trong giới xuất gia đã có 18 nước rồi. Tất cả khi về tới Huế đều có một cảm giác rất đặc thù, không giống như khi về tới Hà Nội hay khi về tới Sài Gòn. Tất cả mọi người đều cảm nhận tính đặc thù đó của cố đô Huế. Hiện bây giờ chúng tôi chưa diễn tả được cái cảm tưởng đó,chúng tôi đang sống trong không khí đó và chúng tôi không bao giờ quên Huế và quên các Phật tử ở Huế, các vị tôn túc cũng như các vị cư sĩ, đã mở rộng hai cánh tay để đón chào chúng tôi như là những người anh em đi lâu năm bây giờ mới trở về.

Chuyến đi ba tháng này, theo chúng tôi nhận thức, nó rất có tính cách trị liệu, hòa giải. Chúng tôi đã giúp đem các Phật tử gần lại với nhau hơn. Chúng tôi đã đóng góp vào sự phục hưng và xây dưng tình huynh đệ trong đại gia đình Phật giáo. Nói như vậy không có nghĩa là chúng tôi không ôm lấy những người không phải là Phật tử. Trong những buổi sinh hoạt, hoặc những khóa tu, ngày chánh niệm hay diễn giảng của chúng tôi tổ chức luôn luôn có mặt của tất cả mọi giới, các vị nhân sĩ và những người thuộc về các truyền thống tôn giáo khác. Chúng tôi nhìn thầy ánh mắt rạng rỡ hạnh phúc của những người tham dự, chúng tôi rất thương và rất cảm động. Đây thực sự là một mùa xuân đoàn tụ. Chúng tôi sống ý thức từng giây từng phút, được nuôi dưỡng trong từng giây từng phút trong chuyến đi này.

Nguyễn Bính có nói rằng Mai kia bỏ Huế rồi quên Huế, chúng tôi sẽ không bao giờ quên Huế, dầu nhiều người trong chúng tôi cho rằng đây là lần đầu tiên bước chân lên đất Thần kinh. Chúng tôi nghĩ rằng, chúng tôi đã đóng góp được vào công việc hòa giải, trị liệu và xây dựng tình huynh đệ; chúng tôi đã đóng góp vào công trình điều chỉnh nhận thức. Tại vì chiến tranh dai dẳng đã tạo ra quá nhiều nghi ngờ, sợ hãi, lo lắng và quá nhiều tri giác sai lầm, từ những tri giác sai lầm đó phát sinh ra những sợ hãi, nghi kỵ và hận thù. Chuyến đi của chúng tôi đóng góp vào công việc tháo gỡ những tri giác sai lầm đó để làm cho khối nghi kỵ, sợ hãi và hận thù đó càng ngày càng giảm thiểu. Chúng tôi có thể nói rằng mỗi ngày cái mức nghi  kỵ, sợ hãi và hận thù đó xuống thấp hơn một chút. Điều đó làm chúng tôi rất hạnh phúc.
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 02 -THÁNG 3, 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)