Văn tự Nguyễn
Du
và nguyên tác
Truyện Kiều
Như
Nguyệt
Trong khi càng ngày càng
có nhiều nhà nghiên cứu nước ngòai quan tâm đến Truyện
Kiều – một tác phẩm kinh điển của Việt Nam, thì trong
nước, những “nhà Kiều học” đang tranh cãi quyết liệt
về những rắc rối tồn tại quanh tác phẩm này. Thi hào Nguyễn
Du có sống lại chắc cũng không ngờ cái chuyện “mua vui
cũng được một vài trống canh” của mình lại đem lại
lắm điều khổ sở cho những người nghiên cứu nó. Mà lý
do, tựu trung lại thì cũng do bản nguyên tác bị thất lạc,
và vì quá yêu, nên bao đời nay người ta cứ mạnh dạn…sửa
Kiều.
Một thế kỷ tranh
cãi
Theo phó giáo sư, tiến
sĩ Đào Thái Tôn thì hiện nay còn bốn vấn đề gây tranh
cãi xung quanh truyện Kiều. Đó là: thời điểm Nguyễn Du viết
truyện Kiều, một số chữ nghĩa truyện Kiều bị sai lệch
so với nguyên tác, thế nào là bản Kiều cổ hay không cổ,
và phương pháp nghiên cứu của các nhà Kiều học hiện nay.
Trong bốn điều đó,
thì thời điểm viết truyện Kiều hiện nay đã tương đối
thống nhất rằng Nguyễn Du viết truyện Kiều vào thời Tây
sơn. Vấn đề này đã được nhắc đến nhiều trong các chuyên
san nghiên cứu của Viện văn học, Viện Hán Nôm.
Về những bản Kiều
cổ cứ liên tục được công bố mỗi khi phát hiện, ông
Đào Thái Tôn cho rằng: “chúng ta không nên tung hê lên ‘đây
là bản Kiều cổ nhất’ theo kiểu đánh lừa bạn đọc.
Vì khi chưa tìm được nguyên tác truyện Kiều, những bản
cổ hiện nay không thể gọi là “cổ nhất” được. Chúng
ta nên gọi là “bản Kiều sớm nhất hiện biết” thì ổn
hơn”. Gay go nhất vẫn là tranh cãi về chữ nghĩa trong truyện
Kiều. Vì rằng các bản truyện Kiều tồn tại đến ngày
nay đều qua tay các nhà in ấn, các vị học giả, các ông
quan chép Kiều… mỗi người sửa một ít, thành ra tất cả
những bản Kiều của các nhà hiệu đính khác nhau thì đều…
khác nhau.
Chính vì sự khác nhau
này mà các nhà nghiên cứu truyện Kiều phải lao tâm khổ
tứ, tranh luận sôi nổi, có khi cãi vã vì bất đồng quan
điểm. Và nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn đã phái thốt rằng:
cả thế kỷ 20 người ta chữa nát truyện Kiều, rồi tranh
cãi về truyện Kiều, đến thế kỷ XXI này, người ta mới
học truyện Kiều”.
Điều quan trọng của
những nhà nghiên cứu là phải căn cứ trên các bản in để
xác định đâu là bản in cổ xưa nhất, cũng như xem xét đâu
là bản gần với nguyên tác nhất. Hiện nay, bản Kiều cổ
xưa nhất là in vào năm 1866. Tuy nhiên, khác với nhiều người,
Đào Thái Tôn khẳng định: lúc sinh thời, không có một bản
Kiều nào của Nguyễn Du được khắc in. Điều này chống
lại ý kiến của những nhà nghiên cứu cho rằng Phạm Quý
Thích là người đã khắc in truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhưng
ông Đào Thái Tôn cho rằng không phải. “Nguyễn Du viết truyện
Kiều xong, thì đưa cho Phạm Quý Thích đọc. Lúc này Phạm
Quý Thích ở Thăng Long, làm quan tương đương bộ trưởng
bộ giáo dục bây giờ, còn Nguyễn Du là anh học trò chưa
đỗ tú tài. Tôi nghĩ Phạm Quý Thích mà để mắt tới quyển
truyện Kiều của Nguyễn Du chắc cũng là nhờ Nguyễn Du xuất
thân con Nguyễn Nghiễm và là em của Nguyễn Khản – tòan
những bậc đại thần trong triều. Và tôi phải khẳng định
rằng chính cái việc đưa truyện Kiều cho Phạm Quý Thích
là một may mắn cho Nguyễn Du và cũng là cho văn hóa dân tộc
Việt Nam. Phạm Quý Thích đọc xong, rất thích, có làm một
bài thơ vịnh Kiều, tựa đề là “Thính đoạn trường tân
thanh hữu cảm” chưa biết làm vào năm nào. Cả một đời
làm quan của Phạm Quý Thích, tòan bộ thơ văn của ông chủ
yếu do học trò tập hợp lại, chưa được khắc in một tập
nào. Đến năm 1962, trên bàn thờ từ đường nhà Phạm Quý
Thich còn một tập thơ bìa bọc gấm do con cháu ông còn giữ
được. Đến thơ của mình còn không in được, mà nói Phạm
Quý Thich vì yêu Truyện Kiều đến nỗi đưa ra phố Hàng Gai
để khắc in thì không đúng rồi”. Ông Tôn khẳng định
như thế.
Lại cũng có ý kiến
cho rằng bản Kiều cổ có giá trị là bản Kiều được vua
Tự Đức khắc in (Giới nghiên cứu vẫn gọi là “bản kinh”).
Ông Đào Thái Tôn cũng chứng minh rằng: không có bản Kiều
nào được vua Tự Đức khắc in cả. Điều này cũng chống
lại một số nhà nghiên cứu truyện Kiều vốn lâu nay dựa
vào bản kinh để phân định đúng sai trong cách dùng từ.
Nhưng ông Tôn đã chỉ ra được rằng: xuất xứ của chữ
“Bản Kinh” là do Kiều Oánh Mậu đặt ra, để chỉ bản
Kiều chép tay mà năm 1898 Đào Nguyên Phổ vào Huế thi đình
đã mang về tặng ông ta. Kiều Oánh Mậu dùng chữ thế này:
“Đào Hòanh Hải huề lai kinh bản kiến tặng” (Đào Hòanh
Hải từ kinh mang về một bản đến tặng). Dòng chữ này
in trên bản Kiều của Kiều Oánh Mậu, nhưng mọi người cho
rằng: cái bản mà Đào Hòanh Hải mang về, là một bản khắc
in do vua Tự Đức vì yêu thích truyện Kiều mà thực hiện.
Còn tôi, tôi chứng minh được ông Đào Hòanh Hải đã mang
về một bản chép tay, chứ không phải bản khắc in”. (vấn
đề này sẽ được đề cập tiếp tục trong một dịp khác).
Và có lần giáo sư Nguyễn
Tài Cẩn cũng nhầm, cho rằng bản Kiều gốc mà cư sĩ Duy
Minh Thị “trùng san” (1872) là một bản in vì cái câu “Nam
Việt Gia Định thành cư sĩ Duy Minh Thị trùng san” in ở cuối
sách. Nhưng tôi phát hiện ra còn một câu ghi trên bìa 1 của
bản Kiều của Duy Minh Thị là “Nhâm thân niên tân thuyên”
(khắc gỗ mới năm nhâm thân), như vậy, mãi đến năm 1872,
Duy Minh Thị mới khắc in bản Kiều này.
Truyện Kiều là truyện
Kiều nào?
Riêng chuyện chữ nghĩa
sai lệch trong các bản truyện Kiều có được hiện nay, đã
là một vấn đề đau đầu cho những nhà nghiên cứu. Và người
ta cũng có rất nhiều cách nghiên cứu khác nhau. Ví như ông
Nguyễn Khắc Bảo, một người tự nhận mình có trong tay 41
bản truyện Kiều cả cũ lẫn mới, bèn tự đem ra so sánh
các bản với nhau, và sửa chữa truyện Kiều theo cách cảm
thụ của mình. “Bằng kiến thức và cảm nhận của mình,
tôi thấy một chữ trong bản nào đó không thích hợp, tôi
sẽ lục tìm trong 40 bản còn lại để xem xét và lựa chọn
xem có chữ nào hợp lý hơn không để thế vào vị trí đó.
Tôi đâu có nghĩ ra chữ đó”. Ông Bảo đã mạnh dạn phát
biểu như thế trên một tờ báo điện tử. Tuy nhiên, cái
cách làm như ông, hẳn là sau khi ông tuyên bố đã nghiên cứu
xong truyện Kiều, thì chẳng khác nào ông vừa “chế biến”
ra một bản truyện Kiều mới vậy. Bởi cách làm khoa học
không ai dựa trên cơ sở “cảm nhận để thấy hợp lý hơn”
như ông Bảo, mà phải có phương pháp tiếp cận cái đúng
chứ. Thế mà, ông Bảo đã sửa đến 687 câu Kiều bằng cách
như thế. Không biết trong thiên hạ còn những ai hăm hở lao
vào nghiên cứu truyện Kiều bằng con đường như Nguyễn Khắc
Bảo. Và tầng lớp hậu sinh hẳn sẽ khốn khổ với những
“bản Kiều chế biến” do các học giả thế kỷ 21 cho mà
xem.
Khó khăn cho việc nghiên
cứu là vì nguyên tác của Nguyễn Du không còn, trong khi tất
cả những bản Kiều hiện có đều không nhất quán với nhau.
Sự sai lệch có nhiều biên độ. Ông Đào Thái Tôn dùng phương
pháp thống kê cho thấy các bản Kiều sai lệch nhau từ 1%
đến 97% (trên số từ được xem là có sự sai lệch). Ông
Tôn chia các bản Kiều hiện nay ra làm hai hệ thống, dựa
trên nguồn gốc xuất hiện của nó: hệ các bản Kiều Thăng
Long và hệ các bản Kiều Huế. Và ông dùng phương pháp thống
kê trên từng chữ sai lệch, và kết luận rằng: hệ bản
Kiều Thăng Long ít sai lệch các bản Kiều ở Huế, cụ thể
là biên độ sai lệch giữa các bản truyện Kiều Thăng Long
là từ 1% - 19%, trong khi các bản Kiều hệ Huế xa lệch nhau
từ 91% đến 97%. “Tôi đã thống kê 1100 câu thơ, tức xác
suất 1/3 Truyện Kiều (7700 chữ) thì thấy hệ Huế lệch hơn
ba trăm chữ so với hệ Thăng Long. Vậy tất cả nguyên tác
Truyện Kiều cũng chỉ nằm ở khoảng ba trăm chữ này thôi,
cứ thế mà nhân ba lên, là 1500 chữ, thì cũng rất ít”,
ông Đào Thái Tôn nói về sự sai lệch truyện Kiều theo cách
thống kê của ông là như vậy.
Lý do khiến cho Truyện
Kiều có nhiều dị bản là vì những ông quan ở Huế ngày
xưa đã sửa truyện Kiều rất nhiều. “Đã vào làm quan trong
triều đình Huế thì ai cũng là tiến sĩ trở lên, chắc là
các ông ấy nhận định rằng: có những chỗ mà một người
chưa đỗ tú tài như Nguyễn Du còn kém, nên “chữa hộ”
cho. Họ chữa nhưng không phải để đem đi in đâu, họ chữa
là để ở nhà, để cho con cháu họ “được đọc bản Kiều
hay hơn”. Coi như họ làm ơn cho Nguyễn Du, vì họ đâu có
đề tên lên truyện Kiều. Chính tâm lý này làm nên nhiều
dị bản, và rất phổ biến ở Huế”. Ông Đáo Thái Tôn
nhận xét như vậy.
Còn những nhà buôn,
nhà nghiên cứu, nhà in sau này khắc in truyện Kiều hay trùng
san, hay biên sọan… đều là những người “chữa nát truyện
Kiều”, ông Tôn quy nạp như vậy.
“Năm 1870, Nguyễn Hữu
Lập chữa truyện Kiều, đến lượt năm 1902 Kiều Oánh Mậu
chữa, hai ông này có tuyên bố chữa truyện Kiều hẳn hoi.
Rồi đến Duy Minh Thị năm 1872, Trương Vĩnh Ký năm 1875, nghĩa
là tất cả những người đề tên mình lên truyện Kiều đều
góp phần chữa nát truyện Kiều”.
Như vậy, trước đây,
thế hệ ông cha chúng ta đã học những bản Kiều nào? Hiện
giờ trong nhà trường đang dạy các bản Kiều nào và trong
tương lai, con cháu chúng ta sẽ học bản Kiều nào nữa? Liệu
sự sai lệch giữa các thế hệ được học truyện Kiều có
xa nhau lắm không? Và có cách nào tìm ra nguyên tác truyện
Kiều không?
Câu trả lời từ Đào
Thái Tôn là không. Ông dẫn ra một kinh nghiệm của Viện văn
học năm 1962 có phát động phong trào đi tìm nguyên tác truyện
Kiều. “Nhưng sau đó, người ta biết ngay điều đó là bất
khả”. Thế thì, đối xử ra sao trong điều kiện chữ nghĩa
vênh nhau. Mà bản nguyên tác không có trong tay? Tiến sĩ Đào
Thái Tôn cả quyết rằng chỉ còn phương pháp nghiên cứu
của giáo sư Hoàng Xuân Hãn là khả dĩ có hiệu quả. “Giáo
sư Hoàng Xuân Hãn vào năm 1942 đã bỏ tiền thuê người ta
chép lại rất nhiều bản truyện Kiều hiện thời đang có,
để tìm bản Kiều xưa nhất. Cuối cùng thì cụ tìm ra một
bản chép tay, cụ cho rằng xưa nhất vì lẽ: 1/ có một vài
chỗ gần với bản chính truyện Tàu nhưng sau này các bản
khác sửa đi. 2/ Có những tiếng xứ Nghệ, quê cha của Nguyễn
Du, “tuy phần lớn văn Kiều là tiếng Bắc”. 3/ Bản ấy
chỉ có kỵ húy đời Gia Long, không húy đời Minh Mạng. 4/
Bản ấy cũng kiêng một vài chữ húy theo truyền thuyết của
gia đình. 5/ Bản ấy có nhiều chữ cổ thời Nguyễn Du quen
dùng. Nhưng bản Kiều ấy đến nay không biết đang nằm ở
đâu, cụ Hãn có đem sang Pháp không, chịu”, ông Tôn nuối
tiếc cho một bản Kiều nghi ngờ là gần với nguyên tác nhất
bây giờ thất lạc vô phương tìm kiếm.
Và cụ Hòang Xuân Hãn
đã đề xuất một phương pháp “tìm chữ của Nguyễn Du”
thay vì tìm nguyên tác truyện Kiều, với quan điểm “trả
lại cho Nguyễn Du những gì thuộc về Nguyễn Du”
“Chúng tôi căn
cứ trên phong cách của Nguyễn Du. Cụ Nguyễn có một phong
cách dùng chữ nhất quán từ đầu đến cuối truyện Kiều.
Cho nên, nếu có chữ nào lạc ra khỏi hệ thống phong cách
văn tự Nguyễn Du thì phải đặt vấn đề nghi ngờ ngay. Và
căn cứ trên những tài liệu hiện có, chúng tôi đem so hai
tài liệu thuộc hệ Huế và hệ Thăng Long lại với nhau, nếu
chỗ nào gặp nhau thì ắt chỗ đó là nguyên tác. Những chỗ
vênh nhau còn lậi thì sẽ giải quyết bằng cách căn cứ trên
cách dùng từ của Nguyễn Du mà tìm. Nói thế, nhưng phải
làm đến đến còng lưng chứ chẳng chơi đâu”, ông Đào
Thái Tôn tự nhận mình là người duy nhất theo phong cách làm
việc của cụ Hoàng Xuân Hãn.
Như vậy, hy vọng rằng
sắp tới, chúng ta sẽ có một bản Kiều tin cậy nhất. Chứ
như xưa nay, mỗi khi có người dịch một bản Kiều sang tiếng
nước ngòai, thì điều đó nghĩa là: lại có một phiên bản
truyện Kiều nữa ra đời, và dĩ nhiên, nó rất xa với những
gì Nguyễn Du viết trong nguyên tác.
Như Nguyệt