VỀ MỘT
SỰ TUYÊN DƯƠNG
Dương
như Tâm
(Phần trả lời các
đạo hữu, huynh trưởng Gia đình Phật tử, học sinh Phật
Tử từng có một thời trai trẻ gắn bó và gần gũi với
người viết. Có vị đã đi xa, có vị đã vĩnh viễn nằm
xuống, có vị hiện còn nhưng… tất cả đều có chung một
bức xúc về thực trạng và hướng phát triển văn nghệ Phật
giáo)
Ý kiến
Các bạn của tôi bức
xúc, trăn trở nhưng vì nhiều lý do không còn kề cận bên
tôi để thấy rằng chúng tôi đang từng ngày dốc hết tâm
lực thực hiện hoài bão phát triển và tôn vinh văn nghệ
Phật giáo. Cho dù lý do nào, kẻ mất, người còn nhưng chúng
tin rằng bức xúc- hoài bão của các bạn hiện còn tồn tại,
luôn luôn mới. Dù điều đó khiến tôi nhận ra một sự trống
vắng, đôi khi thấy mình bơ vơ lạc lõng ngay trong lý tưởng
và hoài bão của mình. Trong những cuộc san sẻ niềm vui cũng
như nỗi buồn, tôi thấy niềm vui ấy không cô đọng cho sự
thành công một việc làm, một ý niệm mà lắm khi còn chia
sẻ cho mặt khác, tuy cũng nằm trong hoài bão của chúng ta.
Tôi thấy lý tưởng mà chúng ta hằng ôm ấp đeo đuổi ba
la rộng lớn biết dường bao. Nó không chỉ giản đơn theo
kiểu nhất thời, từ đó đánh giá văn nghệ Phật giáo như
một hình thức trang sức, có cũng được mà không thì cũng
chẳng sao, ai cũng có thể làm văn nghệ được.
Đã không ít lần tôi
gợi mở những sự âm thầm hy sinh cống hiến của văn
nghệ sĩ Phật giáo thực thụ, những người vẫn sống, sáng
tác, ca hát phục vụ cho văn nghệ Phật giáo. Họ là người
sống trọn vẹn cho văn nghệ Phật giáo. Còn có những vị
khác đang sống, sáng tác, ca hát ngoài đời nhưng sẵn sàng
tham gia phục vụ văn nghệ Phật giáo. Biết vậy để chúng
ta có cơ sở tôn vinh, “tuyên dương công đức” một cách
thẳng thắn và không lo ngại sự so bì và mích lòng. Tất
nhiên, những vị sống trọn vẹn cho văn nghệ Phật giáo không
nhiều, vì không nhiều nên mới quý, mới đáng trân trọng.
Nếu so sánh thiệt hơn thì họ luôn là người thua thiệt về
mọi mặt, ít “nổi tiếng”. Kế nữa là thiệt thòi về
đời sống, vì lẽ sáng tác, ca hát của họ chỉ mang tính
phụng sự Phật pháp, không có ai tưởng thưởng hay trả “cát-sê”
sòng phẳng. Và điều thiệt thòi đặc biệt nhất là suốt
đời sống sáng tác, ca hát cho văn nghệ Phật giáo họ lại
không được quan tâm đúng mức về vật chất cũng như tinh
thần. Vấn đề đặt ra ở đây hoàn toàn khác xa việc “tuyên
dương công đức” tràn lan và có phần dễ dãi như chúng
ta từng làm. Bởi vì một sự trao tặng danh hiệu cho họ sẽ
vô cùng quý báu hơn ngàn vạn lần thưởng bằng vật chất,
vì trong nhiều sự thua thiệt kể trên có lẽ họ đã quen
rồi “hạnh tri túc”. Chuyện đơn giản mà mang ý nghĩa như
vậy tiếc là chúng ta chưa làm được khi họ còn sống.
Trong quá trình lăn lộn,
nuôi giữ hoài bão văn nghệ Phật giáo khi nó còn ngổn ngang,
tôi rất tâm đắc lời của M.C đạo hữu Tánh Thuần khi giới
thiệu về người anh cả âm nhạc Phật giáo- nhạc sĩ Hằng
Vang với cụm từ rất xác thực: Nhạc sĩ năm mươi năm Phật
giáo! Rất tuyệt vời. Đó là một sự tôn vinh xứng đáng
và nó cũng gợi mở cho chúng ta về một danh hiệu tuyên dương.
So với các nghệ sĩ có sáng tác và ca hát ngoài đời, những
người có thể được nhà nước ban tặng danh hiệu như nghệ
sĩ nhân dân,nghệ sĩ ưu tú… thì với danh hiệu “nhạc sĩ
(hay nghệ sĩ) năm mươi năm Phật giáo” quả thật không còn
gì tuyệt hảo hơn. Nhưng ai sẽ ban danh xưng ấy cho họ, và
ban tặng như thế nào chúng ta sẽ bàn sâu vào một đề tài
khác, nhưng có lẽ đó sẽ không giống như “bằng tuyên dương”,
“bằng công đức” đang được sử dụng dễ dãi, tràn lan
như hiện nay.
Thật vậy, nhạc sĩ
Hằng Vang là một trong rất ít nhạc sĩ có bề dày cống hiến
cho văn nghệ Phật giáo như nhạc sĩ Lê Cao Phan, nhạc sĩ Bửu
bác…vv…, họ như những cánh diều bay cao trên bầu trời
văn nghệ Phật giáo. Thời trai trẻ của tôi đã sống tràn
ngập trong màu áo Gia đình Phật tử rồi học sinh Phật tử
với âm thanh những bài hát của nhạc sĩ Hằng Vang, tất cả
đã đưa lý tưởng tôi lớn khôn, trở thành những hoài bão
tận tuỵ đến hôm nay. Những bài hát ấy đưa bước chân
sáo hồn nhiên của biất bao thế hệ vào đạo, vào đời
một cách dịu ngọt. Từ chỗ yêu thương và nũng nịu với
đức Phật đến hiểu và kính Đức Phật, và rồi yêu thương
đạo Pháp, yêu thương dân tộc. Quá cao vời một công ơn.1[1]
Tiền của đâu để
nhạc sĩ Hằng Vang làm một live show; đài, báo nào dễ có
một chương trình về nhạc sĩ? Nhiều và còn nhiều câu hỏi
đại loại như thế cứ kéo dài theo sự thờ ơ và ỷ lại
của chúng ta nếu như không muốn thế hệ kế thừa từ chối
một công ơn, phủ nhận một thời vàng son của văn nghệ
Phật giáo. Tất nhiên ở đây nói về nhạc sĩ Hằng Vang cũng
đồng nghĩa nói tới các nhạc sĩ có công lao tương tự. Vì
vậy, khi nhìn nhận vấn đề, chúng ta nên đứng vào góc độ
Phật giáo bao quát, có nghĩa là chúng ta nhìn vào sự hy sinh
cống hiến của họ cho văn nghệ Phật giáo.
Từ những trăn trở
trên, tôi cảm thấy bản thân mình phải làm một điều gì
đó để gọi là tạ ơn nhạc sĩ Hằng Vang và bài viết này
được thực hiện để thay cho cõi lòng thao thức bấy lâu.
Tương tự, tôi rất cảm kích việc làm của chùa Bửu Đà,
quận 10 và chùa Từ Tân, quận Tân Bình, tp.HCM, đã không ngần
ngại đứng ra kết hợp với ngày lễ lớn để giới thiệu
nhạc sĩ Hằng Vang, cũng với mục đích tôn xưng giá trị
một nhân tài văn nghệ Phật giáo. Với tôi, trong niềm vui
chia xẻ với nhạc sĩ Hằng Vang có pha lẫn chút bùi ngùi vì
bởi việc làm tôn xưng ấy lẽ ra của cấp lãnh đạo văn
hoá- văn nghệ Phật giáo, có như vậy mới tăng thêm
phần giáo dục cội nguồn, uống nước nhớ nguồn cho thế
hệ đi sau. Có lẽ qua đó nhạc sĩ Hằng Vang được an ủi
phần nào để tiếp tục nhả tơ dệt nhạc cho tiền đồ
gia sản văn hoá Phật giáo trong những năm tháng còn lại với
cuộc đời.2[2]
Nói đến chi tiết tại
sao từng chùa đứng ra tổ chức, ngoài sự đóng góp xây dựng
còn có một lo lắng khác phát sinh như việc nếu như mỗi
một chùa đều có tổ chức một lễ tưong tự đối với
các nhạc sĩ khác, y như việc “tuyên dương công đức”
một cách tràn lan, dễ dãi…tất nhiên và ngược lại, nếu
nhạc sĩ Hằng Vang được các chùa tổ chức một chương trình
tôn xưng riêng thì lại khác, nhưng cũng đáng mừng vì qua
đó mọi người thấy được công lao đóng góp của nhạc
sĩ Hằng Vang cho văn nghệ Phật giáo.
Tuy nhiên, việc làm tự
phát đó sẽ làm tổn thương giá trị đích thực về khái
niệm tôn xưng đúng đắn nếu không cân nhắc kỹ, bởi ngôi
chùa không phải một “sân khấu” để những yếu kém về
văn hoá – văn nghệ Phật giáo mượn làm nơi thi thố. Ngược
lại, nếu như ngôi chùa là một “sân khấu” thì nơi đó
phải được xem như chặng chốt cuối cùng hướng tới sự
hoàn thiện để phát triển và phục vụ cho mục đích to lớn
hơn đó là hoằng Pháp. Nếu được như vậy thì ngôi chùa
ở đây chính là một trái tim có nhiệm vụ nuôi dưỡng và
phát triển bộ mặt văn hoá – văn nghệ Phật giáo. Văn hoá
– văn nghệ Phật giáo làm nhiệm vụ bảo vệ, phát triển
tôn xưng, còn trái tim là nơi nuôi giữ, trưởng dưỡng đạo
tâm, kết hợp lại chúng ta thấy gì? Một sự hoàn hảo tuyệt
đẹp, bằng không sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả, như một trái
tim mà không có thân xác.
Điều đáng trân trọng
hơn cả đối với nhạc sĩ Hằng Vang là ngần ấy tuổi đời
là ngần ấy năm trường chay tịnh lạc. Phải chăng những
lời nhạc của ông được kết tinh bởi kết quả tu trì ấy
mà ít ai đạt được? 3[3]
Rõ ràng cái tinh tuý
tối quan trọng ở văn nghệ sĩ Phật giáo là công năng tu
trì kiên định, như thế mới có thể sáng tác và cống hiến
cho vườn hoa nghệ thuật Phật giáo những thành quả thơm
lừng ý đạo. Đó là giá trị đích thực của một nghệ
sĩ Phật giáo.