NÉPAL
QUÊ HƯƠNG
CỦA ĐỨC PHẬT
Nhất
Thanh – Thích Nguyên Hiền
Với tất cả những
ai kính ngưỡng Đức Phật, bậc Thầy đã mở cánh cửa vĩnh
cửu ra cho tất cả chúng sinh, hay chỉ cảm mến đạo Phật
thôi, hẳn cũng mong ước một lần được đến những nơi
mà dấu chân Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni đã lưu lại.
Rất nhiều người đã lên đường, và chuyến đi đã để
lại nhiều dấu ấn trong tâm thức, trong đời sống, khó diễn
tả thành lời. Nhiều người đã viết ra một phần những
cảm nghiệm và suy tư ấy. “Mùi hương trầm” của Nguyễn
Tường Bách, “Hành hương đất Phật” của Trần Trọng
Thức… Ai cũng thấy con đường hành hương về đất Phật
lịch sử không phải là những chặng đường đầy hoa tươi
cỏ lạ và tiện nghi, biết thế nhưng ai cũng ao ước được
một lần lên đường, bởi dẫu gian nan nhưng cuộc sống của
mình hôm nay sẽ an lành hơn…
VƯỜN
SƠ SANH CỦA ĐẤNG TỪ PHỤ.
Rời phi trường Kathmandu
sau chuyến chinh phục đỉnh Everest mới hơn 10 giờ sáng, kể
còn khá sớm. Mình vội vã đi taxi tìm về trạm xe buýt đi
Sonauli. Mọi việc có vẻ suôn sẻ. Khoảng 11 giờ, chuyến
xe buýt khởi hành. Hôm trước sang Kathmandu vào ban đêm nên
chẳng biết trời trăng mây gió gì. Đoạn đường suốt từ
Kathmandu về Sonauli là đèo. Thay vì khi đi là lên đèo thì
bây giờ xuống đèo. Cảm giác từ sườn núi Hymalaya trở
về với hạ giới, hai bên đường chập chùng núi non hiểm
trở. Những bậc cấp ruộng lúa cứ nối nhau trên sườn núi.
Bên tê là bạt ngàn những cánh rừng thông thơ mộng, kế
bên là vực thẳm cheo leo. Xe mới ở sườn núi bên này, qua
một cái cua đã nhảy qua sườn núi bên kia. Tài xế Ấn Độ
là số một thế giới. Chỉ cần một chút sơ sẩy là cả
năm mươi mấy mạng rơi tõm xuống vực. Vực sâu không phải
là cỏ lá mịt mùng. Dưới ấy là một dòng sông. Dòng sông
chảy vòng theo quốc lộ. Đá sỏi gập ghềnh, bọt trắng
tung cao. Vài chiếc xuồng con thả theo dòng nước qua những
chân cầu bắc ngang hai sườn núi. Cầu treo, “lắt lẻo cầu
tre”. Chưa bao giờ mình thấy cảnh đẹp như thế. Ở Việt
Nam có vô vàn cảnh đẹp. Nói chung đẹp hơn Ấn Độ nhiều.
Đất nước mình có bờ biển trải dài theo đất nước. Đèo
Cả, đèo Hải Vân, đèo Ngang, xứ Nghệ, đâu đâu cảnh cũng
đẹp như tranh. Nhưng con đường từ Kathmandu về lại Ấn
Độ còn đẹp và ấn tượng hơn vì chỉ toàn đèo là đèo.
1h30 pm, xe dừng lại
ăn cơm. Trên xe ngoài mình ra còn một ông Tây nữa là 2 người
“ngoại quốc”. Dân Népal lịch sự và sạch sẽ hơn dân
Ấn Độ, nhưng văn hoá thì không khác gì mấy, nhất là văn
hóa ẩm thực. Cũng Chapati, cũng Chai, cũng cơm nấu rời rạc
nguội ngắt ăn với Dal, cari cay xé miệng và nồng nặc mùi
masala. Mình thèm một gói mì ăn liền khi thấy một anh chàng
Népal mua một gói nhưng anh ta xé bao mì và ăn khô như ăn một
mẩu bánh. 20 Rs một gói mì, bằng cả 5000 đồng Việt Nam.
Quá đắt! Hỏi xin nước sôi để chế mì thì họ không có,
thậm chí không biết cách chế mì như ở Việt nam, đành trả
lại và ăn món cơm Ấn Độ cùng một chai Pepsi làm canh vậy.
9 giờ đêm ngày 10 tháng
10 ấy xe mới đến Sonauli, chính xác là đến Shidharta bus past.
Đây là một trạm xe buýt lớn đặc biệt lấy tên thái tử
Tất-đạt-đa, đứa con vĩ đại của xứ sở tâm linh. Lội
bộ ra đường, nghe nói về Sonauli phải 3 cây số nữa bằng
reachard (một dạng xe lôi giống ở Miền Tây Nam bộ Việt
Nam trước đây). Ồ! Mình chưa về Ấn Độ, mình chỉ muốn
trở lại Lumbini, nghĩa là phải ngủ lại đêm ở đây để
hôm sau đi ngược lại. Thị trấn Berewa nhỏ bé, tối tăm
như mực. Mình mang ba lô lên vai lội ra đường, thấy một
khách sạn lớn: Asoka Hotel. Lại là tên một vị vua có công
hoằng dương Phật Pháp vĩ đại của Ấn Độ. Nhìn bề thế
của khách sạn, mình nghĩ đây không phải là chỗ thích hợp
cho mình, chí ít đó cũng là khách sạn có 2-3 sao. Nhân viên
khách sạn ra tận đường cái mời gọi, mình giả lơ bỏ
đi, chủ ý tìm một guest house. Đi xuống rồi lại đi lên,
cứ qua khỏi khách sạn độ vài trăm thước thì đường tối
đen như mực, không dám đi tiếp, trong khi không thấy một
guest house nào. Hỏi phòng rẻ nhất của Asoka hotel cũng phải
300 Rs trở lên. Nài nỉ mãi người ta mới chịu giá cho căn
phòng 100Rs Nepal nhờ hôm ấy vắng khách. Ồ quá tuyệt. Căn
phòng khá sạch, đẹp và rộng rãi, có cửa nhìn ra đường
và cửa nhìn ra Shidharta bus past, phía trước có lan can hẳn
hoi. Mình lợi dụng nước nóng tắm giặt thật thoải mái.
Nghe bụng đói cồn cào. Xuống căn tin gọi noodleesoup, ăn xong
rồi lên phòng, lầu 3, ra balcon ngắm thị trấn về đêm, sau
đó vào phòng đánh một giấc tới sáng trắng.
Ngày 11 tháng 10, khỏe
khoắn sau một đêm ngủ khách sạn, bèn lên đường vào lại
Lumbini. Chuyến xe bus vào Lumbini nằm trơ vơ không một người
khách. Đợi mãi rồi họ mời mình lên xe, chỉ duy nhất một
hành khách là mình, họ chạy đến một ngã tư cách đó vài
cây số và lại đậu tiếp, phải hơn 2 tiếng đồng hồ thì
khách mới đông. Xe vào Lumbini, một đoạn đường 20 cây số
mà xe ngừng phải trăm lần cho hành khách lên xuống. Trời
đứng bóng mình mới đến được Lumbini, quyết định đến
Việt Nam Lâm Tỳ Ni Phật Quốc Tự, mình đi bộ vào. Nắng,
đói và mệt. Giữa đường bỗng có một chiếc Mahindra Belero
dừng lại, người lái là một vị sư Thái Lan mời mình lên
xe sau khi hỏi mình đi đâu. Cử chỉ thân thiện khiến dễ
mến, mình lên xe và nói rằng muốn vào chùa Việt Nam. Sư
hỏi mình có biết Dr. Lam(1) không? Mình nói mình chỉ nghe nói
chứ chưa gặp. Sư tận tình chở mình đến cổng rồi quay
xe đi ra. Chà! Cửa Việt Nam Phật Quốc Tự đóng khóa kỹ
lưỡng. Các anh chàng Népal đang làm công tại đây không chịu
mở cửa mà phải đợi bằng được sư cô ra. 5 phút sau, sư
cô Huệ Đức ra hỏi, mình phải trả lời thật khéo léo để
xin tá túc lại vài hôm chiêm bái nơi Phật đản sanh. Mình
được đón tiếp và đưa vào phòng như một… khách du lịch
đi thuê khách sạn, nghĩa là quá tận tình khiến mình e ngại…
cho túi tiền của mình. Một bữa cơm trưa được dọn lên,
một anh chàng Việt Nam ở Úc đến đây công quả, tên Phụng
Trinh bưng cơm lên mời. Từ lúc ấy đến chiều không thấy
bóng ai nữa cả. Ăn xong không biết để chén bát đi đâu.
Đi ra đi vô rồi quyết định lội ra Lâm-tỳ-ni lễ Phật.
Vào thời vua Tịnh Phạn,
Lâm-tỳ-ni (Lumbini) là một khu vườn đầy hoa tươi cỏ lạ.
Trong vườn đầy cây xanh bóng mát. Hoàng hậu Maya trên đường
từ Ca-tỳ-la-vệ về lại quê bà là Devadaha đã dừng chân
thưởng ngoạn và đản sanh Thái tử tại đây. Lâm-tỳ-ni
cũng từng là nơi chiêm bái của các ngài Pháp Hiển và Huyền
Trang. Hai tác phẩm Phật Quốc Ký và Đại Đường Tây Vực
Ký của hai Ngài vẫn còn ghi chép rất rõ về vị trí cũng
như cảnh vật ở đây vào thế kỷ thứ V và VII. Nói chung
từ lâu nó cũng đã hoang tàn đổ nát. Ở đây có một trụ
đá do vua Asoka (A-dục) dựng nên. Trên trụ đá ngày nay vẫn
còn thấy hàng chữ “Sau hai mươi năm lên ngôi, vua Priyadasi,
người được chư thiên yêu mến, đã thân hành viếng thăm
và cúng dường cũng như lễ bái nơi đây, bởi vì Đức Phật,
Thánh nhân dòng họ Thích, đã được sanh ra nơi đây”(2).
Ngoài ra còn có hàng chữ “dân làng Lumbini được giảm thuế
và chỉ đóng một phần tám thuế lợi tức mà thôi”(3).
Vườn Lâm-tỳ-ni đã
hoang tàn đổ nát sau khi Ấn Độ bị Hồi giáo đánh chiếm
vào thế kỷ thứ IV. Năm 1895, ông Fuhrer, một nhà khảo cổ
người Đức đã phát hiện ngôi vườn này qua tàn tích của
trụ đá vua A-dục, nhân một cuộc du ngoạn dưới chân một
ngọn đồi thuộc rặng núi Churia.
Hoàng hôn trên xứ Capilavastu.
Đó là tên mà mình sẽ đặt cho buổi chiều tại nơi Đức
Phật đản sanh này, đó có lẽ là tên bức ảnh mình đã
chụp được bên cạnh Chineses Temple. Một buổi chiều tuyệt
vời.
Nha nhẩn quanh trụ đá
của vua A Dục, quanh những nền gạch, cố gắng mà vẫn không
nói lên được thời gian cổ độ của chúng, mình đến ngồi
dưới một gốc cây, trên thảm cỏ xanh non, ngắm nhìn về
trụ đá A Dục. Chiều xuống, mặt nước trong hồ nhỏ trong
xanh, nơi tương truyền là chỗ tắm Thái tử Tất-đạt-đa
lúc sơ sinh, cạnh một cội Bồ-đề bóng mát. Mình hít thở
thật sâu để tập trung tâm ý, gạn lọc bằng hết những
lăng xăng của ý thức ruổi rong, trở về với thực tại
bên vườn Lâm-tỳ-ni lịch sử.
“Đã qua hết mọi
nẻo đường
Một hôm về đứng
giữa vườn sơ sinh”.
“Con đã đi qua vạn
ngả đường trần, con đã qua địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh,
con đã đi qua cõi A-tu-la, cõi trời, bao nhiêu cõi mộng từ
vô lượng kiếp. Kiếp này con được làm người, con đã đi
qua bao vui buồn nhân thế, bị đời sống bao phen đẩy đưa
bởi sự tỵ hiềm ganh ghét. Con đã tìm về chính mình, và
bây giờ con đang trở về con người thật của mình. Vườn
sơ sinh của Đức Từ phụ. Hay vườn sơ sinh của tâm hồn
hài nhi tóc bạc? Ôi! Trong vạn kiếp sơ lai, đã được mấy
lần con về giữa vườn sơ sinh đầy mầu nhiệm này. Kính
lạy Đức Bổn Sư! Kính lạy đức Bổn Sư! Bây giờ con đang
hạnh phúc quá! Chưa ở đâu đẹp như chốn này, chưa ở đâu
thanh bình như xứ sở Lumbini này!”.
Mình đã ngồi dưới
ánh hoàng hôn như thế rất lâu, mãi khi đến trời tối hẳn.
Trước đây Nhóc Con đã đến Lumbini và nghe ra một niềm cảm
khái đầy chín chắn trong tiếng gió rì rào. Cô bé ấy thật
tinh tế, chỉ quỳ tại Lumbini nửa tiếng đồng hồ mà nghe
ra được sự nhiệm mầu. Mình đã đến Lumbini cùng phái đoàn
hôm trước, gần như chẳng có một cảm xúc gì ngoài sự
cảm khái cảnh điêu tàn. Tâm thức mình còn vụng về quá.
Lumbini sở hữu xung quanh mình một khoảng rừng bao la bát ngát,
dòng sông nhỏ len lõi giữa những hàng liễu rủ bao quanh.
Hãy đừng xây cất thêm một cái gì nữa cả. Vườn sơ sinh
không cần một tòa kiến trúc tầm vóc nào, hãy để cho cái
nguyên thủy được sống trọn vẹn với bản lai của nó.
Người ta đang xây một ngôi đền lớn sát trụ đá vua A Dục.
Rồi một trăm năm sau, một nghìn năm sau, liệu tòa kiến trúc
kia có trường tồn mãi với thời gian hay không? Hay nó sẽ
biến thành nỗi gai chướng trong mắt một bạo chúa, một
hôn quân hay những kẻ cuồng tín ngoại đạo hung tàn. Để
rồi ai đó sẽ không nhận ra chốn sơ nguyên trên đường
trường mộng. Mình đã may mắn không bị những tác phẩm
của con người che mắt nên đã thực sự tiếp xúc với buổi
chiều tuyệt vời trên xứ sở Capilavastu.
Mặt trời trên xứ sở
Népal đỏ ối, to và tròn vành vạnh, cứ lặn xuống dần,
xuống dần giữa những tiếng chim gọi bầy, giữa những cánh
cò lượn đảo xa xa, giữa khoảng lặng tuyệt trù của dòng
sông tâm thức.
THÀNH CA-TỲ-LA.
Sáng hôm sau mình quyết
định thuê xe đi tìm thành Ca-tỳ-la-vệ. Đầu tiên là đến
nơi đản sanh của Phật Câu Lưu Tôn. Gotihawa, người ta gọi
nơi này như thế. Băng qua mấy thôn làng nghèo rớt mồng tơi,
băng qua mấy khoảng ruộng khô cằn, mấy dòng suối cạn kiệt
là đến Gotihawa. Nơi đây chỉ là một trụ đá của vua A
Dục bị gãy nằm giữa một cái ao nhỏ đã được rào lại,
nước trong ao đầy những bèo xanh và nòng nọc. Trụ đá cao
chỉ khoảng 3,4m, đầu trụ nhọn, chu vi khoảng 2,6m. Hình như
dân ở đây đã xem trụ đá A Dục như một cái Linga giữa
khoảng ao Joni vuông vức. Mình xúc động trước những trụ
đá này, vì đây là nơi đản sanh phật Câu Lưu Tôn, nhà khảo
cổ Carllyle đã xác minh như thế, có cái gì vừa như thật
vừa như mộng ở cái xứ sở nghèo xơ xác này. Các phụ nữ
đội bánh phân bò khô trên đầu đi về những thôn làng hẻo
lánh. Một xứ sở bị lãng quên. Thời quá khứ là thời nào
mình chẳng biết, từ Phật quá khứ Câu Lưu Tôn đến
Phật Thích-ca là bao nhiêu số kiếp? Chỉ có Phật mới trả
lời được câu hỏi này. Vậy mà nơi đản sanh của Ngài
vẫn còn lưu dấu giữa đồng ruộng hoang liêu. Ngày xưa Trần
Tử Ngang lên đài U Châu cảm khái cái mênh mang của đất
trời mà rưng rưng giọt lệ. Mình đứng đây giữa đất trời
này,
nơi đản sanh của một vị Phật quá khứ. Hỡi thời gian
bất tận, bao nhiêu vật đổi sao dời giữa xứ sở thiêng
liêng?
9h 45, anh tài xế chở
mình đến một nơi khác cách đó chừng 6km về hướng Bắc,
Niglihawa, nơi đản sanh Phật Kanakamuni. Một trụ đá nằm lăn
lóc bên cạnh một chân trụ gãy nghiêng nghiêng. Trụ đá to,
đường kính chừng 70 cm, trên có khắc các dòng chữ Pramit,
vài họa tiết hình chim bay, lại là nơi đản sanh của một
vị Phật quá khứ. Nhất tâm đảnh lễ Nam-mô Câu-na-hàm Mâu-ni
Phật. Các Ngài đã thị hiện hết ở xứ sở Ấn Độ này,
sao chúng sanh vẫn còn chìm đắm trong vô minh và đói khổ?
Mình đứng tưởng niệm công đức của vua A Dục, người
cho dựng trụ đá này. Mình tưởng niệm công đức của ngài
Huyền Trang, nhờ tác phẩm Đại Đường Tây Vực Ký đầy
công phu và chính xác mà các nhà khảo cổ đã tìm ra nơi này.
Người Tây phương đã có công đức lớn với Phật giáo,
để ngày nay di chỉ ngàn đời xác tín được một niềm tin.
Mình đã chịu chi thêm 200 Rs nữa để anh tài xế khó tính
chở mình đến Sagarhawa, dòng sông mà vua Tỳ Lưu Ly đã tàn
sát dòng họ Sakya, dòng họ Thích của Đức Phật. Nơi đây
chỉ là một lòng hồ rộng, vài nền tháp cũ và đầy những
cỏ may rậm rạp dưới những mảnh rừng thấp thoáng xa xa.
Hôm nay được đến nơi quê hương của Phật, lòng hưng phấn
lạ thường nên cứ chạy qua chạy lại giữa cỏ hoa, để
khi chiều về gở cỏ may bám đầy 6 vạt áo nhật bình và
hai cái ống quần tơi tả.
Điểm quan trọng nhất
của chuyến đi là đến thành cổ Ca-tỳ-la-vệ. Những nền
gạch cổ hiện ra, thật quá xúc động! Đây là cổng thành
phía Tây, nơi Thái tử Tất-đạt-đa đi ra chứng kiến cảnh
vô thường lão bệnh. Đây là cổng thành phía Đông, nơi Thái
tử từ biệt vợ con ra đi trong đêm mồng 8 tháng 2 lịch sử
cùng Sa-nặc và con ngựa Kiền Trắc. Đây là những nền móng
cung điện đền đài, kia là nơi vua Tịnh Phạn thường ra
tế lễ, chỗ nọ là chỗ Thánh Mẫu Ma-gia thường ra bố thí
cho dân nghèo. Lội qua những khoảng ruộng khuất phía sau khoảng
rừng lau rậm rạp là đến nơi mộ tháp của vua Tịnh Phạn,
cạnh bên là nấm đất nơi an táng hoàng hậu Ma-gia. Quá đỗi
điêu tàn, quá đỗi tịch liêu. Ngày xưa là cung điện đền
đài lăng tẩm, bây giờ là lau cỏ khô cằn dưới cái nắng
như thiêu. Không có du khách viếng thăm, không còn người gác
cổng, không có hoa chăm cỏ xén, chỉ có gạch ngói hoang tàn
giữa sự lãng quên. Rồi đây con người sẽ tiếp tục lãng
quên trong sự hờ hững ngàn đời.
Về lại Lâm-tỳ-ni Việt
Nam Quốc Tự, ngôi chùa Việt Nam đầu tiên trên đất Phật
như chính người sáng lập ra nó muốn gọi như thế. Đó là
một ngôi chùa xây dựng mãi chưa xong, kiến trúc chẳng có
gì gọi là đẹp ngoài ý tưởng muốn đem hết văn hoá Việt
Nam nhốt trong khu vườn nhỏ bé này. 180 căn phòng đã hoàn
tất khá tươm tất, có vẻ như là khách sạn, còn chính điện
thì dở dang nằm cao cho bằng những ngôi chùa xung quanh. Muốn
leo lên chánh điện này thì phải leo lên một tam cấp bằng
3 tầng lầu, dốc dựng ngược. Trước chánh điện là một
đoạn cầu được tạo theo mẫu bản đồ Việt Nam nối dài
ra tới cổng tam quan. Chỉ có cổng tam quan là tàm tạm được,
còn mọi thứ đều trông có vẻ kỳ kỳ. Kiến trúc Việt
Nam đơn giản nhẹ nhàng, đâu phải cứ bản đồ Việt Nam
hay Chùa Một Cột mới là kiến trúc Việt Nam.
Dầu sao thì mình cũng
tạo được mối thiện cảm với ngôi chùa này qua sư cô Huệ
Đức, một sư cô Việt Nam qua Úc rồi nghe lời kêu gọi của
Thầy Huyền Diệu mà qua coi sóc để xây dựng ngôi chùa này,
đến nay đã 5 năm. Cô biết nói cả tiếng Népal, điều khiển
mấy chục người Népal làm việc thật đâu ra đấy. Sư cô
còn độ được một anh chàng đệ tử người Népal, mỗi
tối mỗi khuya hô Đại hồng chung bằng tiếng Népal trông
rất dễ thương.
Ở Lâm-tỳ-ni 3 ngày,
mình lên đường về lại Ấn Độ. Qua biên giới, lần đầu
tự mình làm thủ tục visa, kể cũng khá đơn giản. Đón xe
bus về Gorakhpur, rồi lại đi xe jeep về Kushinaga, nơi Phật
nhập Niết-bàn.