“...
MÀ CÒN TRẦN GIAN THẾ?”
BS
Đỗ Hồng Ngọc
Ngày càng có nhiều lọai
bệnh tật do hành vi, do lối sống gây ra, những thứ bệnh
không chỉ ở thân mà còn ở tâm, ảnh hưởng tác động qua
lại lẫn nhau, không thể dùng thuốc mà chữa được, cho nên
vai trò tham vấn (counselling) ngày càng trở nên quan trọng với
người thầy thuốc, nhà trị liệu tâm lý, nhân viên công
tác xã hội, người tình nguyện…
Tham vấn viên là người
giúp cho thân chủ tự khám phá, hiểu biết, tự quyết định,
hành động bởi vì chính thân chủ chứ không phải ai khác
biết rõ vấn đề của họ, cảm xúc thực sự của họ và
những giải pháp của họ.. Suy nghĩ và cảm xúc của thân
chủ là yếu tố quan trọng chính yếu. Mối quan hệ giữa
tham vấn viên và thân chủ là mối quan hệ sâu xa giữa con
người với con người. Cuộc đối thoại và tương tác giữa
tham vấn viên và thân chủ thành công hay không tùy thuộc vào
bản chất chủ quan của vấn đề do thân chủ đặt ra, nhưng
trước hết cần có mối tương giao lành mạnh để có thể
truyền thông hiệu quả..
Tham vấn đòi hỏi nhiều
thời gian, sự bền lòng, những khoảng khắc lặng im, khả
năng vượt qua chính mình. Điều quan trọng là tham vấn viên
phải có lòng tin mạnh mẽ vào khả năng tự điều chỉnh,
tính bản thiện của thân chủ, từ đó khơi dậy nơi thân
chủ lòng tự tin vào chính họ. Giải pháp đã luôn có sẵn.
Vấn đề là nhận ra. Cuối cùng chính thân chủ tự giúp họ.
Tham vấn viên chỉ hỗ trợ, xúc tác. Để có được mối
quan hệ giúp đỡ tốt đẹp đó, cần có một số kỹ năng
của tham vấn viên như biết lắng nghe; giữ bí mật, không
phê phán… nhưng quan trọng hơn cả là phải có những phẩm
chất như chân thành, tôn trọng, và thấu cảm (empathy)- nghĩa
là đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của người khác để
thấu hiểu một cách sâu sắc suy nghĩ, cảm xúc của họ.
Đặt mình vào tình huống của thân chủ, xem xét vấn đề
theo quan điểm của thân chủ, đánh giá theo cách nhìn của
thân chủ, tham vấn viên mới có thể trải qua các kinh nghiệm
của thân chủ và thực sự cảm thông, từ đó mới có thể
giúp thân chủ tự khám phá, tự thay đổi. Có đặt mình
vào vị trí người khác mới hiểu hết nguồn cơn. Một khi
đã hiểu thì tình thương sẽ là tình thương đích thực.
Tình thương đích thực không phải là những lời an ủi đầu
môi, những lời khuyên hời hợt, những giọt nước mắt vắn
dài, mà có khi là những nổi giận, quát tháo, xỉ vả. Nổi
giận, quát tháo, xỉ vả mà thân chủ thấy vẫn vui, vẫn
nhẹ người vì được hiểu, được thương, được san sẻ.
Bỏ được qua một bên những quan điểm riêng, giá trị riêng
của mình để đặt mình vào địa vị người khác, hòa mình
vào kinh nghiệm người khác quả là không dễ dàng nếu không
sẵn lòng từ tâm. Để hiểu được còn phải vượt qua những
rào cản của ngôn ngữ, kể cả những ngôn ngữ không lời
và chọn lựa những ngôn ngữ sao cho cuộc đối thoại và
tương tác diễn ra phù hợp tùy từng cảm xúc, suy nghĩ, hoàn
cảnh.
Thật tuyệt vời là
trên 2500 năm trước, những đức tính, phẩm hạnh đó của
một tham vấn viên đã được Đức Phật khắc họa sinh động
qua hình tượng các vị Bồ tát! Bồ tát Thường Bất Khinh
chẳng hạn là vị bồ tát không bao giờ dám coi nhẹ người
khác- luôn luôn tôn trọng người khác! Đó chẳng phải là
phẩm chất hàng đầu để thiết lập mối tương giao bình
đẳng giữa người với người đó sao? Bồ tát Dược Vương
– là vị Bồ tát rất chân thành, trong sáng, không tư lợi,
không ích kỷ, không tính toan, ai thấy ông cũng vui (nhất thiết
chúng sanh hỷ kiến), có khả năng thị hiện thành người
này hay người khác, tức là có một khả năng thấu cảm
tuyệt vời! Còn Quán Thế Âm là vị bồ tát thân
thiết của mọi người vì hơn ai hết, đó là vị bồ tát
có khả năng biết lắng nghe “âm thanh của trần thế!”!
Lắng nghe với lòng đại từ đại bi. Với cái nhìn dân gian,
bồ tát có nghìn mắt nghìn tay, thấy được mọi thứ, làm
được mọi điều, với thứ nước cam lồ “rưới vào đâu
là tắt vùi ngọn lửa thù hận, tham lam, sợ hãi...” đến
đó. Thực vậy, biết “lắng nghe” thôi - với sự chân thành,
tôn trọng và thấu cảm- đã đủ để làm nguôi, đủ để
làm “hạ hỏa”, đủ để giúp người ta sáng suốt trở
lại mà thấy đúng, hành động đúng. Hình ảnh nữ của Bồ
tát Quan Thế Âm còn tượng trưng cho sự bao dung, sự chịu
đựng, nhẫn nại và nhạy cảm! Và Diệu Âm - âm thanh vi diệu
- là vị bồ tát có khả năng hiểu được mọi thứ ngôn
ngữ, “giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn”, nhờ đó
mà có khả năng hòa nhập với mọi người, thấu cảm với
mọi người và thuyết phục được mọi người!
Có lẽ chính vì vậy
mà các vị Bồ tát còn ở mãi với trần gian, ngày nào còn
có những niềm đau nỗi khổ!