.
..SỐ 03 -THÁNG 4, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 03 -THÁNG 4, 2005

 

 

VỀ CĂN CỨ VẬT CHẤT 
CỦA Ý THỨC
NGUYÊN ĐĂNG TRUNG

Khi đề cập đến tính cách của một người nào đó, người Việt ta thường có nhận xét nôm na “người ấy có dòng máu cao quý (hoặc dòng máu thấp hèn, hoặc máu nóng, máu lạnh máu điên v.v…)”; còn để chỉ trình độ, ý thức, phẩm chất, tinh thần, bản lĩnh… cao đẹp của người Việt Nam, người Việt ta thường nhắc đến dòng máu Lạc Hồng. Điều này hàm chứa một nhận thức truyền thống của người Việt từ xưa, cho rằng ý nghĩ hoặc ý thức của con người có ở trong dòng máu.

Đây là quan niệm xuất phát từ nhận thức Phật học. Khi tại thế và thuyết giảng, Đức Phật có đề cập đến một loại hình thái vật chất - gọi là “hadayyavatthu” (đoàn tâm) - đóng vai trò làm căn cứ cho ý dựa vào khi các cá thể có cái biết (sattva - chúng sinh) tồn tại trong thế giới dục vọng. “Haday” có nghĩa là trái tim. Theo sớ giải của các ngài Buddhaghosa và Anuruddha thì căn cứ mà ý thức dựa vào (cittassavatthu - cứ điểm của tâm thức) là loại hình thái vật chất xuất phát từ trái tim. 

Nhưng hầu hết mọi người đều cảm nhận thấy rằng ý nghĩ chỉ diễn ra trong đầu ; và quan niệm cho rằng bộ não là cơ quan sản sinh ra ý nghĩ, ý thức, trí tuệ… được hầu hết mọi người công nhận. Mặc dù các nhà khoa học có uy tín thường rất thận trọng trong khi đề cập đến ý thức, nhưng các công trình nghiên cứu khoa học khi tìm hiểu về căn cứ vật chất của ý nghĩ, ý thức hay trí tuệ đều tập trung sự chú ý vào não bộ. Trong khi đó, một số nhà triết học dựa trên một vài kiến thức của khoa học tuyên bố rằng “Ý thức là sản phẩm cao cấp của vật chất, là chức năng của một khối vật chất đặc biệt gọi là não người”. Có lẽ xuất phát từ quan niệm này mà phần lớn từ điển Tiếng Việt hiện nay đều giải thích rằng “Ý nghĩ là điều nảy sinh trong óc do kết quả hoạt động của trí tuệ”. 

Vậy quan niệm nào là đúng ? 

Theo nhận thức của khoa học, não và tủy sống là những bộ phận quan trọng của hệ thần kinh trung ương, có chức năng thu nhận, xử lý tất cả các thông tin và phát thông tin trả lời, trong đó não là trung khu hoạt động thần kinh cao cấp như tư duy, trí nhớ v.v… Mặc dù tránh không đụng chạm đến vấn đề ý thức, nhưng khi trình bày về hệ thống thần kinh trên phương diện truyền đạt và xử lý thông tin, các nhà khoa học vẫn cho rằng não hoặc tủy sống đều có khả năng “đưa ra quyết định”: các quyết định đơn giản được thực hiện ở tủy sống, còn các quyết định quan trọng hơn thì được thực hiện ở não bộ. 

Có một số nội dung không hợp lý:

Thứ nhất: Hệ thần kinh có chức năng nhận biết các thông tin dưới dạng tín hiệu quang học, âm học, hóa học, áp lực, nhiệt độ… và chuyển mã thành  tín hiệu điện. Các tín hiệu này tồn tại trong dạng xung thần kinh, lan truyền từ nơron này sang nơron khác kết nối theo hệ thống. Khi nghiên cứu về điều được gọi là sự tiến hóa của hệ thần kinh, khoa học nhận ra rằng hệ thần kinh đơn giản nhất chỉ bao gồm các nơron được nối với nhau một cách ngẫu nhiên tạo thành một cấu trúc gọi là mạng lưới thần kinh. Các mạng lưới này thường được thấy ở ngành Cnidaria hay ruột khoang, nhóm động vật không xương sống bao gồm Hydra, Obelia và loài sứa. Khi bề mặt cơ thể của các sinh vật này tiếp xúc với một vật nào đó thì các xung thần kinh được truyền đi các hướng làm co các tế bào biểu mô cơ ở thành cơ thể, do đó con  vật sẽ tránh xa các kích thích. Điều này chứng tỏ rằng đối với các động vật không có bộ não hay tủy sống thì hoạt động xử lý thông tin theo cách đưa ra một quyết định cũng vẫn diễn ra. 

Thứ hai: các nơron thần kinh vốn chỉ có chức năng truyền dẫn các xung thần kinh. Trong quá trình tiến hóa, từ mạng lưới thần kinh đơn giản, các thân các tế bào thần kinh tập trung lại thành một cấu trúc gọi là các hạch thần kinh (ganglion) và sự tập trung nhiều hạch thần kinh lại tạo thành hệ thần kinh trung ương. Đối với động vật có xương sống thì vùng đầu hình thành chỉ là do các hạch thần kinh tập trung nhiều hơn, chứ không phải là ở đó có một cấu trúc vật chất khác thường có khả năng xử lý thông tin. Ở tủy sống, các đường thần kinh mang xung động chỉ vào và ra qua các lỗ nhỏ được tạo nên bởi các đốt sống xếp liền nhau, chứ ở đó cũng không hề có một bộ phận đặc biệt nào có khả năng xử lý thông tin.

Thí nghiệm quen thuộc nhất về hoạt động của tủy sống là thí nghiệm về hoạt động phản xạ đầu gối, hay còn gọi là phản xạ duỗi. Khi gõ nhẹ vào gân đầu gối phía dưới xương bánh chè, các cơ quan cảm nhận là các thoi cơ nằm trong cơ tứ đầu đùi. Cơ thoi này có chứa các dây thần kinh cảm giác nối với các bó nhỏ của các sợi cơ được bao quanh bởi mô liên kết. Khi gõ vào gân làm duỗi cơ tứ đầu đùi kích thích các thoi cơ, một luồng xung động được tạo thành, lan truyền về tủy sống và sau một thời gian rất ngắn, cơ tứ đầu đùi co lại tạo ra điều được gọi là phản xạ đầu gối. Trong thí nghiệm này, ở tủy sống, các nơron cảm giác tiếp xúc trực tiếp với các nơron vận động tương ứng. Điều này có nghĩa là nơi đây chỉ diễn ra sự truyền đạt chuyển tiếp các xung động chứ không phải là nơi hình thành một quyết định. Quyết định phản xạ đầu gối trong trường hợp này không phải được đưa ra ở nơi tiếp xúc xinap trực tiếp giữa nơron cảm giác và nơron vận động. Quyết định phản xạ, tức là hoạt động của ý thức, rõ ràng đã được hình thành ở nơi khác và từ trước khi xung động lan truyền đến nơi tiếp xúc xinap. 

Một lý do khiến người ta nghĩ rằng bộ não là nơi hình thành ý thức là vì vỏ não chứa tới 90% nơron có trong toàn bộ hệ thống thần kinh. Ngoài ra một vài khu vực của não có liên quan đến một số hoạt động của cơ thể, chẳng hạn vùng vỏ não vận động sơ cấp nằm ngay trước rãnh trung tâm có chứa các tế bào liên quan đến vận động, được sắp xếp theo một trật tự nhất định và tương ứng với từng phần khác nhau của cơ thể. Người ta thí nghiệm và nhận thấy rằng kích thích điện vào bất kỳ điểm nào trên vùng vận động của vỏ não cũng gây nên vận động ở từng phần cơ thể tương ứng. Thế nhưng từ điều này không thể đưa đến kết luận rằng vùng vận động của vỏ não là khu vực đưa ra các quyết định, bởi vì chính kích thích điện khi đó đóng vai trò thay thế cho một tín hiệu quyết định của ý thức, còn các nơron ở vỏ não chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt tín hiệu đó mà thôi. 

Trong những trường hợp khác, khi kích thích điện vào điểm nào đó thuộc vùng vỏ não cảm giác thì sẽ tạo cảm giác đau ở vùng cơ thể tương ứng, nhưng điều này cũng không làm ảnh hưởng đến ý nghĩ hay ý thức về sự đau đớn. Ở vùng ngôn ngữ thuộc phần vỏ não liên hợp, các kích thích cũng làm cho vận động phát âm trở nên khó khăn hoặc âm thanh phát ra trở nên không sáng tỏ chứ hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến ý nghĩ hay ý thức đối với việc phát âm. Khi bị tổn thương hoặc bị phẫu thuật lấy đi vùng ngôn ngữ thì khả năng nói sẽ mất hẳn nhưng ý nghĩ hay ý thức về ngôn ngữ vẫn còn nguyên vẹn. Người ta nhận thấy rằng tín hiệu từ nhiều dải dao động biến tần khác nhau đều đi đến vùng vỏ não liên hợp nên tưởng rằng các tín hiệu đó được xử lý tại đây, bởi vì các tổn thương ở vùng này thường ảnh hưởng đến các hoạt động trí tuệ bao gồm sự suy nghĩ, học hành và trí nhớ.

Cách thức thí nghiệm gây tổn thương hay cắt bỏ một phần nào đó ở vỏ não, thấy rằng khả năng vận động, khả năng cảm giác, khả năng suy nghĩ, học hành hoặc trí nhớ cũng bị tổn thương hoặc mất đi, rồi suy ra rằng não là cơ quan sản sinh ra ý thức, thì không khác gì sau khi cắt đứt mạch điện ở một điểm bất kỳ, thấy trong mạch không còn dòng điện nữa, rồi suy ra rằng chỗ cắt đó chính là nguồn điện. 

Việc khẳng định bộ não là nơi sản sinh ra ý thức làm cho khoa học không thể lý giải được những trường hợp đặc biệt, ví dụ như ca phẫu thuật của hai bác sĩ Yan Bruel và George Aulbi đã thực hiện ở Mỹ năm 1957: Một bệnh nhân 37 tuổi sau khi được cắt bỏ toàn bộ bán cầu phải của não vẫn không hề giảm sút khả năng trí tuệ vốn có của mình. 

Như vậy, với nhận thức của khoa học ngày nay, không thể khẳng định rằng não là nơi sản sinh ra hoặc là căn cứ vật chất mà ý nghĩ, ý thức hay trí tuệ dựa vào. 

Phật học khẳng định rằng loại vật chất làm căn cứ cho ý thức dựa vào có ở trong máu. Nó đóng vai trò như là một phương tiện chuyên chở ý thức, có nhiệm vụ truyền tải ý thức. Nó được sự nâng đỡ của bốn yếu tố căn bản là “đất”, “nước”, “lửa” và “gió”. Nó được củng cố bởi thời tiết, cái biết và thực phẩm. Ý thức vận hành theo các lộ trình của cái biết ở giao diện gốc ý (manodvaravithicitta - ý môn lộ trình tâm). Cũng theo Phật học, trong thế giới dục vọng, khi một đối tượng xuất hiện, có bốn lộ trình của ý diễn ra nối tiếp nhau: 

  1. Lộ trình xác định đối tượng điểm quá khư (atitaggahanavithicitta) có chức năng nhận biết chi tiết điểm trên đối tượng, bằng cách so sánh thông tin về chi tiết điểm ấy với một trong rất nhiều thông tin về chi tiết điểm đã từng được lộ trình của cái biết ở các giác quan lưu trữ từ trong quá khứ. 

2. Lộ trình định dạng đối tượng (samuhaggahanavithicitta) có chức năng nhận biết định đạng đối tượng, bằng cách tổng hợp các thông tin điểm và so sánh với thông tin định dạng đối tượng  đã được lưu trữ từ trong quá khứ.

3. Lộ trình xác định ý nghĩa đối tượng (atthaggahanavithicitta) có chức năng xác định ý nghĩa đối tượng (khái niệm) bằng cách so sánh nó với khái niệm đã từng được lưu trữ từ trong quá khứ. 

4. Lộ trình xác định tên đối tượng (namaggahanavithicitta) có chức năng xác định tên của đối tượng bằng cách so sánh với tên gọi quy ước đi kèm khái niệm đã được lưu trữ từ trong quá khứ. 

Trong máu có rất nhiều thành phần khác nhau. Vậy thành phần cụ thể nào đóng vai trò là căn cứ vật chất của ý thức? Ta hãy đưa ra hai phán đoán:

Phán đoán 1: Vì có bốn lộ trình của ý thực hiện bốn chức năng khác nhau nên căn cứ vật chất của ý thức chắc chắn phải là bốn loại vật chất cùng loại nhưng có cấu trúc khác nhau. 

Phán đoán 2: Vì ý thức chỉ có trong sự sống, do đó căn cứ vật chất của ý thức phải có trong thành phần căn bản đặc trưng cho sự sống. Điều này có nghĩa là căn cứ vật chất mà ý thức dựa vào phải có mặt trong các protein. Protein là những polimer sinh học từ các đơn phân gọi là axit amin. Chúng là các đại phân tử (macromolecule) có khối lượng phân tử rất lớn, đạt đến hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn dalton. Chúng chiếm 80% trọng lượng khô của tế bào, có cấu tạo rất phức tạp, và có vai trò quyết định trong cơ thể sống. Protein đóng vai trò như là vật liệu xây dựng nên các tế bào và mô. Chúng là cơ sở phân tử của tất cả mọi hoạt động sống. 

Có hai nhóm protein được phân biệt bởi dạng sợi (đóng vai trò là các nguyên liệu cấu trúc) và dạng hạt (đóng vai trò chính trong quá trình trao đổi chất). Khoa học đánh giá các protein dạng hạt có vai trò rất quan trọng trong nhiệm vụ chuyển hóa đảm bảo cho toàn cơ thể hoạt động như một thể thống nhất. Nhiều protein dạng hạt là enzim, hoạt động như một xúc tác đặc biệt làm thay đổi tốc độ của đa số các phản ứng hóa học của cơ thể. Thế nhưng để hoạt động được, các protein dạng hạt hoặc các enzim đó đều phải liên kết với một cấu tử thuộc nhóm prosretic (nhóm tiền tố). Các protein như thế gọi là các protein phức hợp, mà trong số đó có hemoglobin, sắc tố của tế bào hồng cầu trong máu (có từ 4 triệu đến 6 triệu hồng cầu trong 1mm3 máu, mà mỗi hồng cầu có tới 250 triệu phân tử hemoglobin). Các phân tử hemoglobin có thể vận chuyển oxy (vì chúng có chứa một nhóm prosretic gọi là nhóm heme, mà mỗi nhóm heme chứa một nguyên tử sắt tạo ra liên kết không bền vững với phân tử oxy, do đó hơn 98% oxy trong cơ thể được vận chuyển bởi hemoglobin). 

Mỗi phân tử hemoglobin bao gồm bốn cấu trúc đơn vị nhỏ là hai chuỗi  và hai chuỗi . Một nguyên tử sắt (Fe) liên kết được với một phân tử oxy, do đó mỗi phân tử hemoglobin có thể kết hợp thuận nghịch với bốn phân tử oxy, và do đó có bốn dạng oxyhemoglobin khác nhau được hình thành theo các phương trình phản ứng sau: 

Hb4   +  O2 
     Hb4O2 

Hb4O2   +  O2       Hb4O4

Hb4O4   +  O2      Hb4O6

Hb4O6   +  O2    Hb4O8

Trong thế giới mà con người đang tồn tại, ý thức chỉ có ở con người và ở các giống loài động vật mà không có ở thực vật; và thực vật thì không có máu, không có hồng cầu, không có oxyhemoglobin. 

Với cấu trúc của các oxyhemoglobin, ta nhận thấy: Fe là một nguyên tử kim loại, nó thể hiện rất rõ rệt yếu tố mang đặc tính“đất”. Oxy là một nguyên tử mà khi liên kết với Hydro (H2O) nó thể hiện rõ rệt yếu tố mang đặc tính “nước” ; nó cháy được, thể hiện yếu tố mang đặc tính “lửa”; và tồn tại trong không khí mà sự lưu chuyển của nó thể hiện rõ rệt yếu tố mang đặc tính “gió”. Điều này tương ứng với sự trình bày của Phật học, nói rằng căn cứ vật chất mà ý thức dựa vào có nhiệm vụ truyền tải ý thức với sự trợ giúp theo cách nâng đỡ của bốn yếu tố căn bản là “đất”, “nước”, “lửa” và “gió”. 

Kết hợp hai phán đoán, ta có kết luận rằng các cấu trúc vật chất mà ý thức dựa vào chính là bốn dạng phân tử oxyhemoglobin.

Bốn lộ trình của cái biết ở giao diện gốc ý diễn ra trong thời lượng vô cùng ngắn ngủi (4  x 45 sacna), và diễn ra ngay sau lộ trình của cái biết ở giao diện các gốc giác quan (51 sacna), mà vùng đầu là nơi tập trung đầy đủ cả năm giác quan. Con người bình thường không thể phân biệt được thời lượng vô cùng ngắn ngủi của từng sácna nên không thể cảm nhận phân biệt từng diễn biến vi mô diễn ra trong bản chất của đời sống. Do đó người bình thường cảm thấy ý nghĩ có ở trong đầu là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Người ta dễ bị mất ý thức (dẫn đến bị ngất) khi máu thiếu oxy, chứ không phải là do máu không đưa được oxy lên não. Y học cũng nhận thấy rằng các bệnh nhân sau khi được thay nhiều máu thường có sự thay đổi về tính tình. Những hiện tượng ấy phù hợp với quan niệm cho rằng chỗ dựa của ý thức là loại hình thái vật chất có trong máu. 

Trên đây chỉ là một vài phân tích mang tính lý thuyết. Tác giả rất mong các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà Sinh học và các nhà Y học, quan tâm đến bài viết này, và có các thực nghiệm khoa học giúp làm sáng tỏ vấn đề này. 

Nếu quan niệm của Phật học là đúng và nhận thức truyền thống của dân tộc Việt Nam là đúng thì tốt biết bao. 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 03 -THÁNG 4, 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)