VỀ
CĂN CỨ VẬT CHẤT
CỦA
Ý THỨC
NGUYÊN
ĐĂNG TRUNG
Khi đề cập đến tính
cách của một người nào đó, người Việt ta thường có
nhận xét nôm na “người ấy có dòng máu cao quý (hoặc dòng
máu thấp hèn, hoặc máu nóng, máu lạnh máu điên v.v…)”;
còn để chỉ trình độ, ý thức, phẩm chất, tinh thần, bản
lĩnh… cao đẹp của người Việt Nam, người Việt ta thường
nhắc đến dòng máu Lạc Hồng. Điều này hàm chứa một nhận
thức truyền thống của người Việt từ xưa, cho rằng ý
nghĩ hoặc ý thức của con người có ở trong dòng máu.
Đây là quan niệm xuất
phát từ nhận thức Phật học. Khi tại thế và thuyết giảng,
Đức Phật có đề cập đến một loại hình thái vật chất
- gọi là “hadayyavatthu” (đoàn tâm) - đóng vai trò làm căn
cứ cho ý dựa vào khi các cá thể có cái biết (sattva - chúng
sinh) tồn tại trong thế giới dục vọng. “Haday” có nghĩa
là trái tim. Theo sớ giải của các ngài Buddhaghosa và Anuruddha
thì căn cứ mà ý thức dựa vào (cittassavatthu - cứ điểm
của tâm thức) là loại hình thái vật chất xuất phát từ
trái tim.
Nhưng hầu hết mọi
người đều cảm nhận thấy rằng ý nghĩ chỉ diễn ra trong
đầu ; và quan niệm cho rằng bộ não là cơ quan sản sinh ra
ý nghĩ, ý thức, trí tuệ… được hầu hết mọi người
công nhận. Mặc dù các nhà khoa học có uy tín thường rất
thận trọng trong khi đề cập đến ý thức, nhưng các công
trình nghiên cứu khoa học khi tìm hiểu về căn cứ vật chất
của ý nghĩ, ý thức hay trí tuệ đều tập trung sự chú ý
vào não bộ. Trong khi đó, một số nhà triết học dựa trên
một vài kiến thức của khoa học tuyên bố rằng “Ý thức
là sản phẩm cao cấp của vật chất, là chức năng của một
khối vật chất đặc biệt gọi là não người”. Có lẽ
xuất phát từ quan niệm này mà phần lớn từ điển Tiếng
Việt hiện nay đều giải thích rằng “Ý nghĩ là điều nảy
sinh trong óc do kết quả hoạt động của trí tuệ”.
Vậy quan niệm nào là
đúng ?
Theo nhận thức của
khoa học, não và tủy sống là những bộ phận quan trọng
của hệ thần kinh trung ương, có chức năng thu nhận, xử
lý tất cả các thông tin và phát thông tin trả lời, trong
đó não là trung khu hoạt động thần kinh cao cấp như tư duy,
trí nhớ v.v… Mặc dù tránh không đụng chạm đến vấn đề
ý thức, nhưng khi trình bày về hệ thống thần kinh trên phương
diện truyền đạt và xử lý thông tin, các nhà khoa học vẫn
cho rằng não hoặc tủy sống đều có khả năng “đưa ra
quyết định”: các quyết định đơn giản được thực hiện
ở tủy sống, còn các quyết định quan trọng hơn thì được
thực hiện ở não bộ.
Có một số nội dung
không hợp lý:
Thứ nhất: Hệ thần
kinh có chức năng nhận biết các thông tin dưới dạng tín
hiệu quang học, âm học, hóa học, áp lực, nhiệt độ…
và chuyển mã thành tín hiệu điện. Các tín hiệu này
tồn tại trong dạng xung thần kinh, lan truyền từ nơron này
sang nơron khác kết nối theo hệ thống. Khi nghiên cứu về
điều được gọi là sự tiến hóa của hệ thần kinh, khoa
học nhận ra rằng hệ thần kinh đơn giản nhất chỉ bao gồm
các nơron được nối với nhau một cách ngẫu nhiên tạo thành
một cấu trúc gọi là mạng lưới thần kinh. Các mạng lưới
này thường được thấy ở ngành Cnidaria hay ruột khoang, nhóm
động vật không xương sống bao gồm Hydra, Obelia và loài sứa.
Khi bề mặt cơ thể của các sinh vật này tiếp xúc với một
vật nào đó thì các xung thần kinh được truyền đi các hướng
làm co các tế bào biểu mô cơ ở thành cơ thể, do đó con
vật sẽ tránh xa các kích thích. Điều này chứng tỏ rằng
đối với các động vật không có bộ não hay tủy sống thì
hoạt động xử lý thông tin theo cách đưa ra một quyết định
cũng vẫn diễn ra.
Thứ hai: các nơron thần
kinh vốn chỉ có chức năng truyền dẫn các xung thần kinh.
Trong quá trình tiến hóa, từ mạng lưới thần kinh đơn giản,
các thân các tế bào thần kinh tập trung lại thành một cấu
trúc gọi là các hạch thần kinh (ganglion) và sự tập trung
nhiều hạch thần kinh lại tạo thành hệ thần kinh trung ương.
Đối với động vật có xương sống thì vùng đầu hình thành
chỉ là do các hạch thần kinh tập trung nhiều hơn, chứ không
phải là ở đó có một cấu trúc vật chất khác thường
có khả năng xử lý thông tin. Ở tủy sống, các đường thần
kinh mang xung động chỉ vào và ra qua các lỗ nhỏ được tạo
nên bởi các đốt sống xếp liền nhau, chứ ở đó cũng không
hề có một bộ phận đặc biệt nào có khả năng xử lý
thông tin.
Thí nghiệm quen thuộc
nhất về hoạt động của tủy sống là thí nghiệm về hoạt
động phản xạ đầu gối, hay còn gọi là phản xạ duỗi.
Khi gõ nhẹ vào gân đầu gối phía dưới xương bánh chè,
các cơ quan cảm nhận là các thoi cơ nằm trong cơ tứ đầu
đùi. Cơ thoi này có chứa các dây thần kinh cảm giác nối
với các bó nhỏ của các sợi cơ được bao quanh bởi mô
liên kết. Khi gõ vào gân làm duỗi cơ tứ đầu đùi kích
thích các thoi cơ, một luồng xung động được tạo thành,
lan truyền về tủy sống và sau một thời gian rất ngắn,
cơ tứ đầu đùi co lại tạo ra điều được gọi là phản
xạ đầu gối. Trong thí nghiệm này, ở tủy sống, các nơron
cảm giác tiếp xúc trực tiếp với các nơron vận động tương
ứng. Điều này có nghĩa là nơi đây chỉ diễn ra sự truyền
đạt chuyển tiếp các xung động chứ không phải là nơi hình
thành một quyết định. Quyết định phản xạ đầu gối
trong trường hợp này không phải được đưa ra ở nơi tiếp
xúc xinap trực tiếp giữa nơron cảm giác và nơron vận động.
Quyết định phản xạ, tức là hoạt động của ý thức,
rõ ràng đã được hình thành ở nơi khác và từ trước khi
xung động lan truyền đến nơi tiếp xúc xinap.
Một lý do khiến người
ta nghĩ rằng bộ não là nơi hình thành ý thức là vì vỏ
não chứa tới 90% nơron có trong toàn bộ hệ thống thần kinh.
Ngoài ra một vài khu vực của não có liên quan đến một số
hoạt động của cơ thể, chẳng hạn vùng vỏ não vận động
sơ cấp nằm ngay trước rãnh trung tâm có chứa các tế bào
liên quan đến vận động, được sắp xếp theo một trật
tự nhất định và tương ứng với từng phần khác nhau của
cơ thể. Người ta thí nghiệm và nhận thấy rằng kích thích
điện vào bất kỳ điểm nào trên vùng vận động của vỏ
não cũng gây nên vận động ở từng phần cơ thể tương
ứng. Thế nhưng từ điều này không thể đưa đến kết luận
rằng vùng vận động của vỏ não là khu vực đưa ra các
quyết định, bởi vì chính kích thích điện khi đó đóng
vai trò thay thế cho một tín hiệu quyết định của ý thức,
còn các nơron ở vỏ não chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt
tín hiệu đó mà thôi.
Trong những trường hợp
khác, khi kích thích điện vào điểm nào đó thuộc vùng vỏ
não cảm giác thì sẽ tạo cảm giác đau ở vùng cơ thể tương
ứng, nhưng điều này cũng không làm ảnh hưởng đến ý nghĩ
hay ý thức về sự đau đớn. Ở vùng ngôn ngữ thuộc phần
vỏ não liên hợp, các kích thích cũng làm cho vận động phát
âm trở nên khó khăn hoặc âm thanh phát ra trở nên không sáng
tỏ chứ hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến ý nghĩ hay
ý thức đối với việc phát âm. Khi bị tổn thương hoặc
bị phẫu thuật lấy đi vùng ngôn ngữ thì khả năng nói sẽ
mất hẳn nhưng ý nghĩ hay ý thức về ngôn ngữ vẫn còn nguyên
vẹn. Người ta nhận thấy rằng tín hiệu từ nhiều dải
dao động biến tần khác nhau đều đi đến vùng vỏ não liên
hợp nên tưởng rằng các tín hiệu đó được xử lý tại
đây, bởi vì các tổn thương ở vùng này thường ảnh hưởng
đến các hoạt động trí tuệ bao gồm sự suy nghĩ, học hành
và trí nhớ.
Cách thức thí nghiệm
gây tổn thương hay cắt bỏ một phần nào đó ở vỏ não,
thấy rằng khả năng vận động, khả năng cảm giác, khả
năng suy nghĩ, học hành hoặc trí nhớ cũng bị tổn thương
hoặc mất đi, rồi suy ra rằng não là cơ quan sản sinh ra ý
thức, thì không khác gì sau khi cắt đứt mạch điện ở một
điểm bất kỳ, thấy trong mạch không còn dòng điện nữa,
rồi suy ra rằng chỗ cắt đó chính là nguồn điện.
Việc khẳng định bộ
não là nơi sản sinh ra ý thức làm cho khoa học không thể
lý giải được những trường hợp đặc biệt, ví dụ như
ca phẫu thuật của hai bác sĩ Yan Bruel và George Aulbi đã thực
hiện ở Mỹ năm 1957: Một bệnh nhân 37 tuổi sau khi được
cắt bỏ toàn bộ bán cầu phải của não vẫn không hề giảm
sút khả năng trí tuệ vốn có của mình.
Như vậy, với nhận
thức của khoa học ngày nay, không thể khẳng định rằng
não là nơi sản sinh ra hoặc là căn cứ vật chất mà ý nghĩ,
ý thức hay trí tuệ dựa vào.
Phật học khẳng định
rằng loại vật chất làm căn cứ cho ý thức dựa vào có
ở trong máu. Nó đóng vai trò như là một phương tiện chuyên
chở ý thức, có nhiệm vụ truyền tải ý thức. Nó được
sự nâng đỡ của bốn yếu tố căn bản là “đất”, “nước”,
“lửa” và “gió”. Nó được củng cố bởi thời tiết,
cái biết và thực phẩm. Ý thức vận hành theo các lộ trình
của cái biết ở giao diện gốc ý (manodvaravithicitta - ý môn
lộ trình tâm). Cũng theo Phật học, trong thế giới dục vọng,
khi một đối tượng xuất hiện, có bốn lộ trình của ý
diễn ra nối tiếp nhau:
1. Lộ trình xác
định đối tượng điểm quá khư (atitaggahanavithicitta) có
chức năng nhận biết chi tiết điểm trên đối tượng, bằng
cách so sánh thông tin về chi tiết điểm ấy với một trong
rất nhiều thông tin về chi tiết điểm đã từng được lộ
trình của cái biết ở các giác quan lưu trữ từ trong quá
khứ.
2. Lộ trình định dạng
đối tượng (samuhaggahanavithicitta) có chức năng nhận biết
định đạng đối tượng, bằng cách tổng hợp các thông
tin điểm và so sánh với thông tin định dạng đối tượng
đã được lưu trữ từ trong quá khứ.
3. Lộ trình xác định
ý nghĩa đối tượng (atthaggahanavithicitta) có chức năng xác
định ý nghĩa đối tượng (khái niệm) bằng cách so sánh
nó với khái niệm đã từng được lưu trữ từ trong quá
khứ.
4. Lộ trình xác định
tên đối tượng (namaggahanavithicitta) có chức năng xác định
tên của đối tượng bằng cách so sánh với tên gọi quy ước
đi kèm khái niệm đã được lưu trữ từ trong quá khứ.
Trong máu có rất nhiều
thành phần khác nhau. Vậy thành phần cụ thể nào đóng vai
trò là căn cứ vật chất của ý thức? Ta hãy đưa ra hai phán
đoán:
Phán đoán 1: Vì có bốn
lộ trình của ý thực hiện bốn chức năng khác nhau nên căn
cứ vật chất của ý thức chắc chắn phải là bốn loại
vật chất cùng loại nhưng có cấu trúc khác nhau.
Phán đoán 2: Vì ý thức
chỉ có trong sự sống, do đó căn cứ vật chất của ý thức
phải có trong thành phần căn bản đặc trưng cho sự sống.
Điều này có nghĩa là căn cứ vật chất mà ý thức dựa
vào phải có mặt trong các protein. Protein là những polimer sinh
học từ các đơn phân gọi là axit amin. Chúng là các đại
phân tử (macromolecule) có khối lượng phân tử rất lớn,
đạt đến hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn dalton. Chúng chiếm
80% trọng lượng khô của tế bào, có cấu tạo rất phức
tạp, và có vai trò quyết định trong cơ thể sống. Protein
đóng vai trò như là vật liệu xây dựng nên các tế bào và
mô. Chúng là cơ sở phân tử của tất cả mọi hoạt động
sống.
Có hai nhóm protein được
phân biệt bởi dạng sợi (đóng vai trò là các nguyên liệu
cấu trúc) và dạng hạt (đóng vai trò chính trong quá trình
trao đổi chất). Khoa học đánh giá các protein dạng hạt có
vai trò rất quan trọng trong nhiệm vụ chuyển hóa đảm bảo
cho toàn cơ thể hoạt động như một thể thống nhất. Nhiều
protein dạng hạt là enzim, hoạt động như một xúc tác đặc
biệt làm thay đổi tốc độ của đa số các phản ứng hóa
học của cơ thể. Thế nhưng để hoạt động được, các
protein dạng hạt hoặc các enzim đó đều phải liên kết với
một cấu tử thuộc nhóm prosretic (nhóm tiền tố). Các protein
như thế gọi là các protein phức hợp, mà trong số đó có
hemoglobin, sắc tố của tế bào hồng cầu trong máu (có từ
4 triệu đến 6 triệu hồng cầu trong 1mm3 máu, mà mỗi hồng
cầu có tới 250 triệu phân tử hemoglobin). Các phân tử hemoglobin
có thể vận chuyển oxy (vì chúng có chứa một nhóm prosretic
gọi là nhóm heme, mà mỗi nhóm heme chứa một nguyên tử sắt
tạo ra liên kết không bền vững với phân tử oxy, do đó
hơn 98% oxy trong cơ thể được vận chuyển bởi hemoglobin).
Mỗi phân tử hemoglobin
bao gồm bốn cấu trúc đơn vị nhỏ là hai chuỗi và hai
chuỗi . Một nguyên tử sắt (Fe) liên kết được với một
phân tử oxy, do đó mỗi phân tử hemoglobin có thể kết hợp
thuận nghịch với bốn phân tử oxy, và do đó có bốn dạng
oxyhemoglobin khác nhau được hình thành theo các phương trình
phản ứng sau:
Hb4 + O2
Hb4O2
Hb4O2 +
O2
Hb4O4
Hb4O4 +
O2
Hb4O6
Hb4O6 +
O2
Hb4O8
Trong thế giới mà con
người đang tồn tại, ý thức chỉ có ở con người và ở
các giống loài động vật mà không có ở thực vật; và thực
vật thì không có máu, không có hồng cầu, không có oxyhemoglobin.
Với cấu trúc của các
oxyhemoglobin, ta nhận thấy: Fe là một nguyên tử kim loại,
nó thể hiện rất rõ rệt yếu tố mang đặc tính“đất”.
Oxy là một nguyên tử mà khi liên kết với Hydro (H2O) nó thể
hiện rõ rệt yếu tố mang đặc tính “nước” ; nó cháy
được, thể hiện yếu tố mang đặc tính “lửa”; và tồn
tại trong không khí mà sự lưu chuyển của nó thể hiện rõ
rệt yếu tố mang đặc tính “gió”. Điều này tương ứng
với sự trình bày của Phật học, nói rằng căn cứ vật
chất mà ý thức dựa vào có nhiệm vụ truyền tải ý thức
với sự trợ giúp theo cách nâng đỡ của bốn yếu tố căn
bản là “đất”, “nước”, “lửa” và “gió”.
Kết hợp hai phán đoán,
ta có kết luận rằng các cấu trúc vật chất mà ý thức
dựa vào chính là bốn dạng phân tử oxyhemoglobin.
Bốn lộ trình của cái
biết ở giao diện gốc ý diễn ra trong thời lượng vô cùng
ngắn ngủi (4 x 45 sacna), và diễn ra ngay sau lộ trình
của cái biết ở giao diện các gốc giác quan (51 sacna), mà
vùng đầu là nơi tập trung đầy đủ cả năm giác quan. Con
người bình thường không thể phân biệt được thời lượng
vô cùng ngắn ngủi của từng sácna nên không thể cảm nhận
phân biệt từng diễn biến vi mô diễn ra trong bản chất của
đời sống. Do đó người bình thường cảm thấy ý nghĩ có
ở trong đầu là điều hoàn toàn dễ hiểu.
Người ta dễ bị mất
ý thức (dẫn đến bị ngất) khi máu thiếu oxy, chứ không
phải là do máu không đưa được oxy lên não. Y học cũng nhận
thấy rằng các bệnh nhân sau khi được thay nhiều máu thường
có sự thay đổi về tính tình. Những hiện tượng ấy phù
hợp với quan niệm cho rằng chỗ dựa của ý thức là loại
hình thái vật chất có trong máu.
Trên đây chỉ là một
vài phân tích mang tính lý thuyết. Tác giả rất mong các nhà
khoa học, đặc biệt là các nhà Sinh học và các nhà Y học,
quan tâm đến bài viết này, và có các thực nghiệm khoa học
giúp làm sáng tỏ vấn đề này.
Nếu quan niệm của Phật
học là đúng và nhận thức truyền thống của dân tộc Việt
Nam là đúng thì tốt biết bao.