PHẬT
GIÁO VIỆT NAM
VỚI
TINH THẦN VÔ ÚY CỨU DÂN
NGUYỄN
ĐẮC XUÂN
“Kháng chiến
lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu
dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà
còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống
nhất hoà bình an lạc!”… (Sư bà Thích Nữ Diệu Không)
Tôi xuất thân từ các
cuộc vận động của Phật giáo trong những năm 1963 đến
1966. Lúc theo kháng chiến (1966-1975), tôi có nhiều dịp chuyển
thư từ, hình ảnh của Hoà thượng Thích Đôn Hậu và cán
bộ tập kết ngoài Bắc vào cho các chùa và đồng bào theo
Đạo Phật ở Huế. Nhờ thế, sau ngày Giải phóng miền Nam,
nhiều lần tôi được Sư bà Thích nữ Diệu Không tiếp tại
chùa Hồng Ân và chùa Kiều Đàm (Huế). Biết tôi là người
rất thích chuyện cũ và thơ văn nên Sư bà đọc nhiều bài
thơ mừng ngày thống nhất đất nước và kể những hoạt
động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30.4.1975 cho
tôi nghe. Sư Bà nói:
“Kháng chiến
lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu
dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà
còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống
nhất hoà bình an lạc!”.
Tôi rất thấm thía lời
dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu
hiệu suông mà là cả một thực tế rất quý báu. Suốt những
năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông
thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng… không
may nằm lại tại chiến trường, dân chúng, và người thân
của liệt sĩ ít người dám ra mặt nhận xác về chôn. Gặp
những tình huống như thế, các khuôn hội Phật giáo chắp
tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất.
Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết
trận. Sau chiến dịch Huế Xuân 1968, nhiều người Huế bị
chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi
đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng. Đến ngày Rằm tháng
bảy năm Mậu thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày
“xá tội vong nhân” đứng ra xin chính quyền VNCH trả tự
do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội
danh”. Một trong những người được trả tự do năm ấy
là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan, (sau này là nhà báo viết chuyện
cười Hoàng Thiếu Phủ).
Thời gian cuối tháng
4.1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn. Ngày nào Phật tử
cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được
qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA... Sau khi nghe
tin vùng Cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền nam Trung
phần từ Huế vô đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm
29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư
bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài
Gòn. Trưa ngày 30.4.1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh
chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng.
Tại Đại Học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay
là đường Lê Văn Sĩ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng
xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các
xe tải cắm cờ ngũ sắc của Phật giáo. Những binh lính ở
xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật.
Sư bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng
đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài
Gòn vừa giải giáp.
Những chuyện cứu dân
như trên nhiều lắm, không thể nào kể hết trong một bài
báo. Các cuộc vận động của Phật giáo từ năm 1963 cho đến
1975 cho hoà bình dân tộc, cuộc du thuyết quốc tế cho hòa
bình Việt Nam của Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Âu Mỹ
cũng không có mục đích nào khác là chuyện cứu dân.
Qua tư liệu lịch sử
tôi thấy người Phật tử có ý thức cứu dân nổi tiếng
là ông Dương Văn Minh - một vị tướng của quân đội VNCH
cũ. Vì thương dân mà ông đã tổ chức cuộc đảo chính chế
độ độc tài Ngô Đình Diệm vào tháng 11.1963. Mười hai năm
sau, vào những ngày cuối tháng 4.1975, ông Dương Văn Minh lại
ra giữ chức tổng thống cuối cùng của chế độ VNCH để
cứu dân. Trong một bài viết đăng trên báo Sài Gòn Giải
Phóng nhân kỷ niệm 20 năm Giải phóng miền Nam Việt Nam (1975-1995),
nhà cách mạng lão thành Trần Trọng Tân cho biết:
“Dương Văn Minh lên
làm tổng thống không chủ trương đối đầu. Ông Minh muốn
ra thay Hương vì thấy Hương quá thân Mỹ, quá hung hăng chống
Cộng, từng đã ra lệnh sử dụng bom CBU, loại giết người
hàng loạt, ở Bình Tuy. Vả lại nếu không đứng ra nhận
trách nhiệm tổng thống thì e rằng Nguyễn Cao Kỳ sẽ làm
đảo chính và y sẽ tuyên bố tử thủ, cuối cùng rồi cũng
thua nhưng gây nên nhiều cảnh thảm khốc”.
Đúng như thế, sáng
ngày 30.4.1975, Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ
Văn Mẫu, với tinh thần của người Phật tử, lãnh trách
nhiệm lịch sử, chuẩn bị tự ngừng bắn và trao quyền cho
Mặt trận DTGPMN để tránh phản ứng của nhiều đơn vị
quân đội VNCH đang muốn điên cuồng tử chiến. Cùng lúc
đó, hai ông nhận đuợc điện thoại của các vị lãnh
đạo Phật giáo khuyên hai ông nên nhanh chóng đầu hàng vô
điều kiện để cứu dân(2). Hai ông Tổng thống và Thủ tướng
cuối cùng của VNCH vốn là những Phật tử đã có nhiều
gắn bó với Phật giáo từ năm 1963 đến 1975, nên khi nghe
lời khuyên của các vị lãnh đạo Phật giáo họ cảm thấy
yên lòng. Nhờ thế khi đại diện Cách mạng tiến vào Dinh
Độc Lập buộc chính quyền VNCH phải đầu hàng, họ đầu
hàng ngay.
Chuyện ông Dương
Văn Minh “đầu hàng” để cứu dân là một sự kiện lịch
sử. Người miền Nam từng khát khao đất nước thống nhất,
độc lập, hòa bình, rất biết ơn ông. Nhờ ông mà họ được
sống để hưởng độc lập hòa bình do Cách mạng đem lại.
Trái lại, một số người cố tình muốn đi ngược dòng lịch
sử đã không ngừng lên án ông. Hành động đầu hàng của
ông Minh không vì quyền, không vì lợi, không vì bất cứ một
vinh dự nào ngoài mục đích cứu dân. Cứu được dân rồi,
ông sống lặng lẽ ở TP. HCM, sau đó qua Pháp (1982) rồi qua
Mỹ nương tựa trong gia đình một người con gái và cuối
cùng vĩnh biệt cuộc đời trong một bệnh viện ở Mỹ.
Vào những năm cuối
đời, có lần ông Minh “bị” ông Đinh Xuân Dũng (con trai
của một người bạn mặc áo lính của tướng Dương Văn
Minh, đang định cư ở nước ngoài) hỏi:
- Đại Tướng nghĩ sao
sau khi Miền Nam sụp đổ?
Không một chút do dự,
ông Minh đáp:
- Điều tôi mừng nhất
là tránh cho nhân dân khỏi chết chóc và Sài Gòn khỏi thành
bình địa.
Cách đây vài ba năm,
ông Trần Quang Thuận (Bộ trưởng xã hội trong chính phủ
của tướng Nguyễn Khánh năm 1964 ở Sài Gòn, hiện nay đang
họat động trong các tổ chức Phật giáo ở Mỹ) về thăm
Huế. Trong câu chuyện lịch sử, ông Thuận kể lại tâm sự
của tướng Dương Văn Minh về sự kiện tướng Minh “đầu
hàng” vào ngày 30.4.1975 rằng:
- Tướng Dương Văn Minh
nói với tôi: “Chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu? Một năm?
Hai năm? Cuối cùng thì cũng phải đầu hàng thôi, không thể
đánh mãi được, đầu hàng càng nhanh càng tốt. Tốt cho người
dân Sài Gòn”.
Chuyện ông Dương Văn
Minh đầu hàng để “tốt cho người dân Sài Gòn” đã được
những người trong cuộc - Trần Trọng Tân (MTGPMN) và Trần
Quang Thuận (Chính quyền VNCH cũ) - khẳng định. Đối với
những Phật tử đã chứng kiến sự nghiệt ngã của
chiến tranh, họ thoát chết nhờ sự đầu hàng kịp thời
của ông Dương Văn Minh. Nay được sống và thấy được đất
nước thống nhất, độc lập, hòa bình, họ xem ông Dương
Văn Minh như một vị Bồ-tát.
Đã là Phật tử (chân
chính), dù làm quân hay làm tướng, dù bên Đông hay bên Tây,
bên cạnh nhiệm vụ cứu nước luôn có nhiệm vụ cứu dân.
Đó là đạo đức Phật giáo và cũng là truyền thống của
văn hóa Việt Nam. Thương thay cho những nước đang có chiến
tranh với những khẩu hiệu “cứu nước” mà thiếu
lời kêu gọi cứu dân.
Ngày 30.4.1975, trận chiến
cuối cùng ở Sài Gòn, giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước, kết thúc cuộc chiến tranh gần 30 năm mà không đổ
thêm máu thì quả là một chiến thắng vô cùng to lớn, không
giấy bút nào có thể tả hết được.
Bài viết này thay cho
một nén hương tưởng niệm những người đã xả thân cứu
nước - cứu dân ở trận chiến cuối cùng 30.4.1975.
Gác Nhiêu Lộc TP.
HCM, tháng 4.2005.