.
..SỐ 03 -THÁNG 4, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 03 -THÁNG 4, 2005

 

 

TẢN MẠN 
QUANH THỊ TRƯỜNG SÁCH 
ĐANG NÓNG
GIAO HƯỞNG

Người Tây Tạng lật úp chiếc cốc uống nước khi nghe có ai đó qua đời. Một vị ẩn cư, sống đơn độc, đã làm như  thế vào mỗi đêm, lật úp chiếc cốc “báo tử ” cho chính mình trước lúc đi ngủ. Vì ông nghĩ, nếu mình chết bất ngờ giữa khuya vắng, sẽ chẳng ai biết để úp giùm mình “chiếc ly đời” đã cạn. Sáng hôm sau, nhịp sống lại đầy và “mỗi lần thở ra, ông cảm thấy thật sung sướng vì lại được hít vào”. Nỗi hữu hạn của mạng người được thường trực cảnh báo như vậy, giúp người ta luôn tỉnh giác, không bỏ lỡ cơ hội làm người, để tìm cách nỗ lực thoát ra khỏi những loanh quanh truyền kiếp. Điều đó có thể đọc thấy qua cuốn Cái vô hạn trong lòng bàn tay – từ Big Bang đến giác ngộ  (L’ Infini dans la paume de la main – Du Big Bang à l’Eveil), Phạm Văn Thiều và Ngô Vũ dịch, NXB Trẻ 2005, ghi lại cuộc nói chuyện giữa nhà khoa học người Pháp Matthieu Ricard với nhà thiên văn học người Việt: Trịnh Xuân Thuận trên dãy Pyrénée. 

Hai ông gặp nhau sau một chặng “hành hương” ngược chiều dài ngót nửa cuộc đời. Matthieu  từ  nước Pháp đi về phương Đông, đến dãy Hymalaya năm 1967 và ở lại đó trong thảo am của vị thầy Tây Tạng. Còn Trịnh Xuân Thuận, sinh tại Hà Nội năm 1948, từ Sài Gòn đi về phương Tây, đến Pháp và Thụy Sĩ, qua Mỹ, học Viện Công nghệ California và hiện dạy học tại Đại học Virginia. Họ gặp nhau ở “giao lộ” của tri thức hữu học và những chiêm nghiệm tự thân - cùng chiếu sáng cho “người ngoài cuộc” thấy những điều lý thú. Ví dụ, là chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu sự hình thành vũ trụ, Trịnh Xuân Thuận đã đưa ra con số 100 tỷ thiên hà “có thể quan sát được” (số không thể quan sát và đoán biết là vô hạn), mỗi thiên hà lại chứa 100 tỷ ngôi sao. Ông nói hầu hết các ngôi sao này đều có một bầu đoàn gồm khoảng chục hành tinh giống như mặt trời của chúng ta “ thì tổng số hành tinh trong vũ trụ này lên tới 100 000 tỷ tỷ”. Như thế “khó có thể khẳng định rằng trong hằng hà sa số hành tinh như vậy mà chỉ duy nhất hành tinh của chúng ta là có sự sống và ý thức”. Nghĩa là “những dạng trí tuệ khác có thể đang tồn tại trong vũ trụ” và từ đó dẫn tới phần đối thoại với Matthieu về những băn khoăn thần học: 

* Trịnh Xuân Thuận:(…) Theo quan điểm của Thiên chúa giáo, Chúa đã phái Chúa con là Jésus Christ xuống trái đất để cứu rỗi con người. Vậy liệu có rất nhiều Jésus Christ nữa được phái xuống các hành tinh có sự sống và ý thức khác để cứu rỗi các sinh vật sống trên đó hay không?. 

* Matthieu: Phật giáo nói về hàng tỷ thế giới, ở đó các dạng sinh vật khác nhau tồn tại và phát triển. Trong hầu hết tất cả các thế giới này (mỗi thế giới) đều có một Đức Phật (thị hiện giáng sinh để) giảng giải cho chúng sinh làm thế nào đạt đến giác ngộ. Ngài không cứu chúng sinh theo cách người ta mang một hòn đá vô tri bất động từ chân núi lên đỉnh, mà chỉ đường cho họ tự lực bước đi, trao cho họ các phương tiện để tự vượt qua chính mình và giải thoát. 

Nhiều nội dung khác về tồn tại và không tồn tại, về ảo ảnh của hiện thực, về những bí mật của toán học, về thiền định và những thể nhập vào dòng sống đang trôi, đã được hai nhà khoa học thảo luận trong gần 500 trang sách. Đây là cuốn đang “nóng” vì mới phát hành và vì được độc giả chào đón khá nồng nhiệt. 

Một cuốn thứ hai cũng “nóng”  tương tự: Krishnamurti, người nhập cuộc của NXB Thanh Niên do Mộc Nhiên biên soạn theo hướng “không tôn vinh Krishnamurti, không giải thích lời nói của Krishnamurti theo quan điểm riêng (…) trả về Krishnamurti những gì đúng là Krishnamurti”. Người ta hỏi, vậy thì, “đúng là Krishnamurti” gồm những gì? Theo Mộc Nhiên, trước hết, đó là con người bình thường với những phát hiện tự tâm như chính Krishnamurti viết trong một lá thư: “Con hạnh phúc vô cùng vì con đã  được thấy. Mọi thứ sẽ không còn như cũ nữa (…) Con đã đứng trên đỉnh điểm và nhìn tường tận các Thực thể hùng vĩ  xa xa và con đã bất ngờ bừng thấy ánh sáng cứu chữa. Tình yêu trong mọi vẻ huy hoàng của nó đã làm say ngất lòng con”.  Sau thời bừng sáng, Krishnamurti đã từ khước vai trò thế sư,  phủ nhận vị trí giáo chủ, không khoác lên hào quang của một “bồ  tát thị hiện” mà người khác mang lại cho mình, để xuất hiện giản dị hòa đồng trước hàng triệu thính giả ở Ấn, Anh, Pháp, Ý, Hà Lan, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ… cho đến lúc qua đời năm 1986 ở tuổi 91. Tại Việt Nam, trước Mộc Nhiên, đã có một số tác giả dịch các bài giảng hoặc viết về Krishnamurti như Phạm Công Thiện (trước năm 1975) hoặc Nguyễn Ước, Nguyễn Minh Lý sau này chẳng hạn. Một trong vài bản sớm nhất là Hiển chơn phá vọng (Mười bài thuyết pháp tại Ojai) do Minh Hải  dịch, Huệ Hải viết tựa, Bửu Cầm giới thiệu, in tại Huế từ 1952. Đến Mộc Nhiên thì cuộc đời Krishnamurti được trình bày như một “con người nhập cuộc” với những bài nói chuyện “rất người” về mọi đề tài có thể và bằng ngôn ngữ tâm linh. Ngôn ngữ này không nhân danh một “quốc gia”, hoặc một “cái tôi”, một “đấng tối cao” nào. Không đòi hỏi có “người được nghe” và “nghe ra sao”. Nó tràn khỏi  biên bờ của những cái ngã chật hẹp và “như cơn mưa rào, lời giảng chẳng quan tâm xem những giọt nước ngọt ngào của nó có làm mát lòng ai”. Nó tuôn chảy bằng tình yêu vô tư của suối nguồn  như lời Krishnamurti nói: “Một đóa hoa tỏa hương không bận tâm ai sẽ ngửi được nó, hay ai sẽ quay lưng với nó. Tình yêu là thế”. Tình yêu này tự nhiên và dồi dào như ánh mặt trời, hoặc ánh trăng, thường chiếu bên cửa sổ, trên đường đi và ngay cả lúc bạn đang nằm mộng nữa. 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 03 -THÁNG 4, 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)