TẢN
MẠN
QUANH
THỊ TRƯỜNG SÁCH
ĐANG
NÓNG
GIAO
HƯỞNG
Người Tây Tạng lật
úp chiếc cốc uống nước khi nghe có ai đó qua đời. Một
vị ẩn cư, sống đơn độc, đã làm như thế vào mỗi
đêm, lật úp chiếc cốc “báo tử ” cho chính mình trước
lúc đi ngủ. Vì ông nghĩ, nếu mình chết bất ngờ giữa khuya
vắng, sẽ chẳng ai biết để úp giùm mình “chiếc ly đời”
đã cạn. Sáng hôm sau, nhịp sống lại đầy và “mỗi lần
thở ra, ông cảm thấy thật sung sướng vì lại được hít
vào”. Nỗi hữu hạn của mạng người được thường trực
cảnh báo như vậy, giúp người ta luôn tỉnh giác, không bỏ
lỡ cơ hội làm người, để tìm cách nỗ lực thoát ra khỏi
những loanh quanh truyền kiếp. Điều đó có thể đọc thấy
qua cuốn Cái vô hạn trong lòng bàn tay – từ Big Bang đến
giác ngộ (L’ Infini dans la paume de la main – Du Big Bang
à l’Eveil), Phạm Văn Thiều và Ngô Vũ dịch, NXB Trẻ 2005,
ghi lại cuộc nói chuyện giữa nhà khoa học người Pháp Matthieu
Ricard với nhà thiên văn học người Việt: Trịnh Xuân Thuận
trên dãy Pyrénée.
Hai ông gặp nhau sau một
chặng “hành hương” ngược chiều dài ngót nửa cuộc đời.
Matthieu từ nước Pháp đi về phương Đông, đến
dãy Hymalaya năm 1967 và ở lại đó trong thảo am của vị thầy
Tây Tạng. Còn Trịnh Xuân Thuận, sinh tại Hà Nội năm 1948,
từ Sài Gòn đi về phương Tây, đến Pháp và Thụy Sĩ, qua
Mỹ, học Viện Công nghệ California và hiện dạy học tại
Đại học Virginia. Họ gặp nhau ở “giao lộ” của tri thức
hữu học và những chiêm nghiệm tự thân - cùng chiếu sáng
cho “người ngoài cuộc” thấy những điều lý thú. Ví dụ,
là chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu sự hình
thành vũ trụ, Trịnh Xuân Thuận đã đưa ra con số 100 tỷ
thiên hà “có thể quan sát được” (số không thể quan sát
và đoán biết là vô hạn), mỗi thiên hà lại chứa 100 tỷ
ngôi sao. Ông nói hầu hết các ngôi sao này đều có một bầu
đoàn gồm khoảng chục hành tinh giống như mặt trời của
chúng ta “ thì tổng số hành tinh trong vũ trụ này lên tới
100 000 tỷ tỷ”. Như thế “khó có thể khẳng định rằng
trong hằng hà sa số hành tinh như vậy mà chỉ duy nhất hành
tinh của chúng ta là có sự sống và ý thức”. Nghĩa là “những
dạng trí tuệ khác có thể đang tồn tại trong vũ trụ”
và từ đó dẫn tới phần đối thoại với Matthieu về những
băn khoăn thần học:
* Trịnh Xuân Thuận:(…)
Theo quan điểm của Thiên chúa giáo, Chúa đã phái Chúa con
là Jésus Christ xuống trái đất để cứu rỗi con người.
Vậy liệu có rất nhiều Jésus Christ nữa được phái xuống
các hành tinh có sự sống và ý thức khác để cứu rỗi các
sinh vật sống trên đó hay không?.
* Matthieu:
Phật giáo nói về hàng tỷ thế giới, ở đó các dạng sinh
vật khác nhau tồn tại và phát triển. Trong hầu hết tất
cả các thế giới này (mỗi thế giới) đều có một Đức
Phật (thị hiện giáng sinh để) giảng giải cho chúng sinh
làm thế nào đạt đến giác ngộ. Ngài không cứu chúng sinh
theo cách người ta mang một hòn đá vô tri bất động từ
chân núi lên đỉnh, mà chỉ đường cho họ tự lực bước
đi, trao cho họ các phương tiện để tự vượt qua chính mình
và giải thoát.
Nhiều nội dung khác
về tồn tại và không tồn tại, về ảo ảnh của hiện thực,
về những bí mật của toán học, về thiền định và những
thể nhập vào dòng sống đang trôi, đã được hai nhà khoa
học thảo luận trong gần 500 trang sách. Đây là cuốn đang
“nóng” vì mới phát hành và vì được độc giả chào đón
khá nồng nhiệt.
Một cuốn thứ hai cũng
“nóng” tương tự: Krishnamurti, người nhập cuộc
của NXB Thanh Niên do Mộc Nhiên biên soạn theo hướng “không
tôn vinh Krishnamurti, không giải thích lời nói của Krishnamurti
theo quan điểm riêng (…) trả về Krishnamurti những gì đúng
là Krishnamurti”. Người ta hỏi, vậy thì, “đúng là Krishnamurti”
gồm những gì? Theo Mộc Nhiên, trước hết, đó là con người
bình thường với những phát hiện tự tâm như chính Krishnamurti
viết trong một lá thư: “Con hạnh phúc vô cùng vì con đã
được thấy. Mọi thứ sẽ không còn như cũ nữa (…) Con
đã đứng trên đỉnh điểm và nhìn tường tận các Thực
thể hùng vĩ xa xa và con đã bất ngờ bừng thấy ánh
sáng cứu chữa. Tình yêu trong mọi vẻ huy hoàng của nó đã
làm say ngất lòng con”. Sau thời bừng sáng, Krishnamurti
đã từ khước vai trò thế sư, phủ nhận vị trí giáo
chủ, không khoác lên hào quang của một “bồ tát thị
hiện” mà người khác mang lại cho mình, để xuất hiện
giản dị hòa đồng trước hàng triệu thính giả ở Ấn,
Anh, Pháp, Ý, Hà Lan, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ… cho đến lúc qua đời
năm 1986 ở tuổi 91. Tại Việt Nam, trước Mộc Nhiên, đã
có một số tác giả dịch các bài giảng hoặc viết về Krishnamurti
như Phạm Công Thiện (trước năm 1975) hoặc Nguyễn Ước,
Nguyễn Minh Lý sau này chẳng hạn. Một trong vài bản sớm
nhất là Hiển chơn phá vọng (Mười bài thuyết pháp tại
Ojai) do Minh Hải dịch, Huệ Hải viết tựa, Bửu Cầm
giới thiệu, in tại Huế từ 1952. Đến Mộc Nhiên thì cuộc
đời Krishnamurti được trình bày như một “con người nhập
cuộc” với những bài nói chuyện “rất người” về mọi
đề tài có thể và bằng ngôn ngữ tâm linh. Ngôn ngữ này
không nhân danh một “quốc gia”, hoặc một “cái tôi”,
một “đấng tối cao” nào. Không đòi hỏi có “người
được nghe” và “nghe ra sao”. Nó tràn khỏi biên bờ
của những cái ngã chật hẹp và “như cơn mưa rào, lời
giảng chẳng quan tâm xem những giọt nước ngọt ngào của
nó có làm mát lòng ai”. Nó tuôn chảy bằng tình yêu vô tư
của suối nguồn như lời Krishnamurti nói: “Một đóa
hoa tỏa hương không bận tâm ai sẽ ngửi được nó, hay ai
sẽ quay lưng với nó. Tình yêu là thế”. Tình yêu này tự
nhiên và dồi dào như ánh mặt trời, hoặc ánh trăng, thường
chiếu bên cửa sổ, trên đường đi và ngay cả lúc bạn đang
nằm mộng nữa.