HƯỚNG
DẪN
THIỀN
CĂN BẢN
Cư
sĩ Nguyên Giác dịch
Trước tiên, hãy sửa
soạn tư thế của bạn: xếp chân ở vị trí thoải mái nhất;
xương sống thẳng như mũi tên. Đặt hai bàn tay vào thế quân
bình (khoảng cách chiều rộng bốn ngón tay dưới rún) với
bàn tay trái ở dưới, bàn tay phải đặt trên, và các ngón
cái chạm nhau để thành một hình tam giác. Tư thế này của
các bàn tay có liên hệ với cơ thể, nơi nội nhiệt khởi
lên. Nghiêng cổ xuống chút xíu, để miệng và răng như bình
thường, với đầu lưỡi chạm vào vòm trên của miệng gần
các răng phía trên. Hướng mắt nhìn xuống thả lỏng – không
cần thiết phải nhìn vào chóp mũi; mắt có thể hướng về
sàn nhà phía trước chỗ bạn ngồi, nếu điều này tự nhiên
hơn. Đừng mở mắt quá lớn mà cũng đừng nhắm mắt; hãy
để mắt mở hé chút xíu. Đôi khi mắt sẽ khép lại tự
nhiên; thế cũng được. Ngay cả nếu mắt đang mở, khi ý
thức chú tâm đều đặn vào đối tượng, các hiện tướng
của nhãn thức sẽ không quấy rối bạn.
Với những người mang
kính, bạn có ghi nhận rằng khi gỡ kính ra (bởi vì mắt thấy
ít rõ ràng cho nên sẽ ít cơ nguy hơn từ sự sinh khởi kích
động) sẽ có thêm cơ nguy của sự lơi lỏng? Bạn có thấy
có dị biệt giữa việc hướng mặt vào tường và không hướng
mặt vào tường? Khi hướng vào tường, bạn có thể thấy
là có ít cơ nguy của sự kích động hay tán tâm? Qua kinh nghiệm,
bạn sẽ quyết định tư thế nào đó sao cho thoải mái, dễ
an tâm...
Hãy cố gắng để tâm
trong trạng thái tự nhiên một cách sinh động, không nghĩ
gì về chuyện quá khứ hay về chuyện bạn tính làm trong tương
lai, không khởi lên bất kỳ một khái niệm nào. Ý thức của
bạn đang ở nơi đâu? Nó [ý thức] đang ở với đôi mắt
hay ở đâu? Nhiều lúc, bạn sẽ cảm thấy nó [ý thức] liên
kết với đôi mắt, bởi vì hầu hết nhận thức về thế
giới này được khởi lên là xuyên qua mắt thấy. Điều này
là do dựa quá nhiều vào cảm thức của chúng ta. Tuy nhiên,
sự hiện hữu của một ý thức riêng biệt có thể biết
chắc được; thí dụ, khi chú tâm hướng về âm thanh thì
những gì xuất hiện qua nhãn thức không được ghi nhận.
Như thế cho thấy một ý thức riêng biệt đang chuyên chú
hơn vào âm thanh nghe qua nhĩ thức, hơn là ảnh của nhãn thức.
Với tu tập kiên trì,
ý thức có thể được nhận ra hay được cảm nhận như một
thực thể của ánh sáng thuần khiết và của tánh biết, mà
đối với nó bất kỳ thứ gì cũng có khả năng xuất hiện,
và nó [ý thức], khi các điều kiện thích nghi hội đủ, có
thể được sinh khởi trong hình ảnh của bất kỳ đối tượng
nào. Khi nào mà tâm không đối phó với khái niệm về ngoại
cảnh, tâm sẽ an trú rỗng không mà không có gì xuất hiện
trong nó, hệt như nước trong. Thực thể của nó [tâm] là
thực thể của kinh nghiệm thuần túy. Hãy để tâm trôi chảy
tự nhiên mà đừng phủ lên khái niệm nào. Hãy để tâm an
nghỉ trong trạng thái tự nhiên của nó, và quan sát nó. Lúc
đầu, khi bạn chưa quen với pháp này, nó thật là khó, nhưng
dần dần tâm sẽ xuất hiện như nước trong. Rồi thì, hãy
an trú với tâm không bị thêu dệt này, và đừng để khái
niệm nào sinh khởi. Khi chứng ngộ bản tánh của tâm, chúng
ta sẽ lần đầu tiên định vị được đối tượng quan sát
của loại thiền nội quan này.
Thời gian tốt nhất
để tập pháp thiền này là vào buổi sáng, tại một nơi
im vắng, khi tâm rất trong suốt và tỉnh táo. Đêm trước
đó, nhớ đừng ăn nhiều quá hay ngủ nhiều quá; như thế
sẽ làm cho tâm nhẹ hơn và nhạy bén hơn vào buổi sáng kế
tiếp. Dần dần, tâm sẽ trở nên càng lúc càng an bình; sự
tỉnh thức và trí nhớ sẽ trở thành rõ ràng hơn.
(Dịch từ nguyên tác
Anh ngữ “Tibetan Meditation Instructions,” một bản văn cô đọng
về Thiền Tây Tạng do Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14 viết
cho ấn bản điện tử của Tricycle, một tạp chí Phật Giáo
tại Hoa Kỳ. Nơi đây, ngài nói về pháp thiền này là hãy
để tâm vào trạng thái tự nhiên, và hãy quán sát tâm này
– mà tâm là một thực thể, theo ngài, có tánh sáng và tánh
biết, nơi đó bất kỳ những pháp gì, hiện tượng gì, sự
kiện gì trong thế giới xuất hiện với chúng ta cũng đều
qua nhận biết của thức. Khi ngồi, tóm gọn, chỉ để tâm
thả lỏng tự nhiên và nhìn vào tâm này, dần dần sẽ thấy
bản tánh của tâm, Cư sĩ Nguyên Giác dịch, tựa bài do tạp
chí VHPG đặt).