TIM
SEN
TRONG BIỂN
LỬA
Trần
Trung Phượng
LTS: Một cậu bé
12 tuổi bất ngờ chứng kiến cảnh tượng bi tráng của ngọn
lửa Thích Quảng Đức tại một ngã tư giữa Sài Gòn. Cậu
ta kinh hoảng và không hiểu gì cả. Nhưng cảnh tượng bi tráng
ấy vẫn luôn âm ỉ trong tâm can…, cho đến hôm nay, đã hơn
bốn muơi năm, với kinh nghiệm sống của một nhà giáo tuổi
ngoại ngũ tuần, những âm ỉ ấy mới nên lời…
Trong lịch sử Phật
giáo Việt Nam hiện đại, có thể nói mùa Phật đản 1963
có vị trí hết sức đặc biệt, để lại một dấu
ấn lớn không chỉ trong tâm thức của người Phật tử mà
cả trong tâm thức của người ngoài Phật giáo. Đó chính
là năm mà Hòa thượng Thích Quảng Đức đã quyết tâm “tự
thiêu để cúng dường Tam bảo” và cũng đồng thời để
cảnh tỉnh một chế độ đã phạm phải một sai lầm chết
người là kỳ thị, đàn áp tôn giáo. Giữa đỉnh cao mùa
tranh đấu của Phật giáo, vào ngày 11-6-1963, ngọn lửa tự
thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức đã bùng cháy uy dũng
tại ngã tư đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu)
và Lê Văn Duyệt (nay Là Cách Mạng Tháng Tám) trong tiếng niệm
Phật vang dội của hàng trăn Tăng Ni đang ngồi, đứng vây
quanh chắp tay thành kính.
Ngày ấy, ngọn lửa
tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tạo ra một
sự rung chuyển mạnh trên chính trường miền Nam, góp phần
làm sụp đổ một chế độ đã đến hồi cáo chung. Đối
với một số người Phương Tây, không phải là tất cả đều
có thể hiểu được ý nghĩa của cái chết bi hùng này. Tất
cả sự giải thích ở đây, ngoài ý nghĩa chính trị, xã hội,
còn có ý nghĩa triết học: “Bên kia cái chết, đó là lịch
sử của con người” (L’au-delà de la mort, c’est l’histoire
des hommes), như nhận định của một số tác giả phương Tây,
Giờ đây, sau hơn 40
năm nhìn lại biến cố bi hùng nói trên, chúng ta có những
suy nghĩ gì và có thể rút ra được bài học bổ ích nào
từ vô số các bài học quý giá mà lịch sử có thể dạy
cho chúng ta?
Ngọn lửa đã thiêu
cháy nhục thân của Hòa thượng Thích Quảng Đức cách đây
hơn bốn mươi năm giờ đây đã trở thành biểu tượng của
một tinh thần tranh đấu mà không phải ai cũng có thể dễ
dàng chấp nhận. Đó cũng là biểu tượng của một sự hy
sinh tuyệt đối cho CHÁNH PHÁP và CHÁNH NGHĨA, là ngọn đuốc
để soi sáng đêm tối vô minh và thức tỉnh lương tri con
người, khơi dậy những cảm xúc mãnh liệt nhất về những
giá trị bất biến của con người và cuộc đời.
Và ngọn lửa ấy càng
có ý ngĩa thiêng lêng hơn khi chúng ta biết rằng sau khi thân
thể của Hòa thượng Thích Quảng Đức thiêu thành tro
bụi, trái tim của ngài vẫn còn đỏ hồng dưới sức nóng
kinh khủng của lò thiêu An Dưỡng Địa, như hình ảnh của
một đóa hoa sen sáng ngời trong biển lửa. Đó chính là Trái
Tim Xá Lợi, Trái Tim của một nhà tu hành đã mang tâm
nguyện Bồ tát vào đời hành đạo, hoằng pháp độ sinh bằng
chính cuộc đời vị tha và cái chết bi hùng của mình. Còn
có hình ảnh nào bi tráng hơn hình ảnh một trái Tim Sen nằm
bất động giữa biển lửa sáng ngời, như hình ảnh của
vị Bồ tát ở giữa cuộc đời đầy ô trọc, phiền não
và nghiệp chướng này. Một hình ảnh đã làm xúc động tất
cả trái tim của chúng ta, vì chính từ niềm cảm xúc
lớn lao ấy, nhà htơ Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài Lửa
Từ Bi để nói về sự kiện hết sức đặc biệt này. Vâng,
ngọn lửa ô trọc của thế gian có thể đốt cháy tất cả
mọi sự vật trên đời, thiêu hủy ra tro tấm thân tứ đại
nhưng không sao có thể hủy diệt được tâm từ bi của một
vị Bồ tát, trái lại, càng làm cho tâm từ bi này càng thêm
rực sáng. Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng TỪ BI chính
là động lực quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của
con người.
Từ bài học tâm linh
nói trên, chúng ta có thể suy nghĩ về một bài học khác có
tính chất thế gian: Đó là bài học về mối quan hệ giữa
nhà nước và tôn giáo, giữa chính quyền và giáo hội, giữa
quyền lực chính trị và sức mạnh tâm linh. Nhìn vào
lịch sử của nhiều nước trên thế giới từ xưa đến nay,
chúng ta thấy rằng mối quan hệ này thưồng diễn biến rất
phức tạp, và nói chung, không bao giờ sự lấn áp, thống
trị của một lĩnh vực này đối với một lĩnh vực kia lại
có thể đam đến một kết quả tốt đẹp lâu bền được.
Mỗi lĩnh vực đều có những chức năng và giá trị riêng
biệt đó để trên cơ sở này tiến đến hợp tác với nhau,
cùng nhau giảu quyết những vấn đề bất tận của cõi đời
cũng như của cõi đạo. Mỗi lĩnh vực đều có những thế
mạnh và những đặc trưng riêng biệt của nó, và về bản
chất, những đặc trưng này không hề mâu thuẫn hoặc xung
đột với nhau. Trái lại, chúng hoàn toàn có thể cộng tác
với nhau trong một tiến trình hòa giải thật sự để đem
lại niềm vui và hạnh phúc cho con người.
Tiếc thay, một chân
lý đơn giản như thế lại không luôn luôn được nghĩ đúng
và làm đúng; và kết quả là cả nhà nước lẫn tôn giáo
đều phải chịu đựng những tổn thất không đáng có, thậm
chí đi đến diệt vong như chế độ của Ngô Đình Diệm.
Ngày nay, chúng ta có
những điều kiện thuận lợi hơn bao giờ hết để xây dựng
một mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà nước với tôn giáo,
giữa chính quyền với giáo hội. Những thành kiến và đố
kỵ trong qúa khứ cần phải được gạt bỏ. Thái độ khoan
dung và tấm lòng rộng mở sẵn sàng chấp nhận những sự
khác biệt với mình cần phải được xem là dòng tư tưởng
chủ đạo của một xã hội an lạc và thanh bình thực sự,
một xã hội như chúng ta thường nói, vừa TỐT ĐỜI vừa
ĐẸP ĐẠO.
Hôm nay, chính ngọn lửa
thiêng của Bồ tát Quảng Đức đã nhắc nhở chúng ta về
điều đó.