.
..SỐ 04 -THÁNG 5, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 04-THÁNG 5, 2005

 

 

CHỖ NGƯỜI NGỒI
MỘT THIÊN THU TUYÊT TÁC (*)

LTS: Cuộc vận động Phật giáo năm 1963 là một dấu son lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Điều làm cho cuộc vận động năm 1963 trở nên bất diệt là từ trong cuộc vận động đó đã sản sinh một vị Bồ tát: Bồ tát Thích Quảng Đức. Lúc nguy khốn, Bồ tát Thích Quảng Đức đã hiện thân. Sự hiện thân ấy đã làm xoay chuyển mọi tình thế. Bồ tát đến và đi như vậy, rất dung dị nhưng rất phi thường, ngoài những suy tính của con người thường tình. Hướng về kỷ niệm ngày Bồ tát Thích Quảng Đức hóa thân làm ngọn đuốc thiêng (16-6-1963), TC Văn Hóa Phật Giáo tìm lại những ký ức về ngài, qua hồi ký của những người trong cuộc và báo chí quốc tế đương thời.

Tỳ kheo Thích Trí Quang: Trước đây tôi không quen biết với Ngài, chỉ gặp một lần khi Ngài trù trì chùa Phước Hòa, biết Ngài chuyên tâm trì tụng và lễ bái Pháp Hoa. Giai đoạn trước khi Ngài tự thiêu tôi cũng chỉ biết mỗi một bức thư nói trên. Sau này mới biết, trước khi tự thiêu, Ngài chuẩn bị một cách chân thành, bình dị và kín đáo. Vẫn trì tụng lễ bái Pháp Hoa hằng ngày. Vẫn sinh hoạt bình thường. Tế nhị lắm mới thấy Ngài có vẻ như người sắp đi xa. Quan trọng nhất là di chúc của Ngài. Một vị tân tỷ kheo gần Ngài mà đến hôm Ngài sắp tự thiêu mới biết được ý nguyện và bản di chúc ấy.

Bản di chúc ấy bình dị, chân thành, quan trọng nhất là ý thức chứa đựng bên trong. Chính ý thức này chứa đựng tâm nguyện Bồ tát của Ngài. Không oán trách đến cả ông Diệm, ngài chỉ nói tự đốt thân mình để cầu cho ông sáng suốt...Ngoài di chúc, Ngài còn một tấm ảnh và một quả tim. Về tấm ảnh, một ký giả chụp được lúc ngọn lửa bùng lên gần khắp người Ngài rồi, còn lại chỉ có một bên vai, gần một nửa trên đầu, trán cũng đã có lửa, chỉ mặt còn nguyên. Chính trong lúc như vậy mà nét mặt Ngài hoàn toàn bình thản, siêu thoát, không một nét nhăn hay một chút ráng sức. Bức ảnh này được giải thưởng quốc tế. Lại nghe nói lửa bùng lên hoàn toàn mà Ngài vẫn an tọa. Cho đến lửa tắt, một tấm hình khác cho thấy Ngài ngồi như pho tượng đồng đen. Sau đó một lúc Ngài mới gật đầu xuống như thể cúi chào tăng ni Phật tử, rồi nhẹ nhàng bật ngửa người ra. Ngài tự thiêu mấy hôm rồi tôi mới vào Sài gòn. Tình trạng khi Ngài tự thiêu, nghe nói cực kỳ bi tráng, cho đến nay vẫn là không tiền khoáng hậu.

Về đám tang của Ngài, tôi sẽ nói đến trong chương 30. Nay hãy nói đến sự kiện quan trọng nhất là quả tim của Ngài, “quả tim Quảng Đức“. Việc hỏa thiêu nhục thân của Ngài là do thầy Thiện Hòa chủ trì. Thiêu rồi lấy ra, trong đống tro tàn còn một khối thịt mà vị trí cho biết đó là quả tim. Thầy Thiện Hòa cho vào lò thiêu lại cũng vẫn không cháy. Lại thiêu nữa nhưng xăng hết. Bấy giờ rất đông ký giả hiện diện. Họ chạy kiếm xăng giúp. Bấy giờ chỉ họ mới đi lại được dễ dàng. Họ kiếm được mấy can xăng super, đem thiêu kỹ, nhưng lấy ra vẫn không cháy. Việc này làm cho tôi tin, xưa, ngài La Thập sau khi hỏa thiêu cái lưỡi vẫn còn. Nhưng ở đây mọi thắc mắc dị nghị hoàn toàn không có được nữa. Vì đây là việc mà trên dưới 50 ký giả, đa số là ký giả quốc tế, không những cũng chứng kiến mà còn dự vào. 

Về quả tim này tôi vẫn nói đến vào gần cuối bản tự ghi này. Ở đây chỉ nói khi hỏa thiêu ngài rồi, tôi thảo để ngài Hội chủ ký một thông bạch. Cuối thông bạch ấy tôi viết “cầu nguyện vị nhục thân Bồ tát gia hộ cho cuộc vận động của Phật giáo đựơc thành tựu“. Và niệm “Nam mô đại hùng đại lực Quảng Đức bồ tát“ ; Hồng danh Bồ tát Quảng Đức khởi đầu từ đó. Hồng danh ấy, và Bồ tát Quảng Đức, cho đến nay chính những người duy vật cũng không thể không công nhận. Một trong những sự bất diệt của cuộc vận động 1963 là sản xuất một vị Bồ tát.

Sự tự thiêu của Bồ tát Quảng Đức ngay khi mới xảy ra đã làm cho ông Diệm rụng rời. Rồi mấy giờ sau, cả thế giới, nhất là ở Mỹ, ngọn lửa tự thiêu của Ngài rực lên trên máy truyền hình, đốt cháy tan tành hình ảnh ông Diệm và chế độ của ông. Ngọn lửa Quảng Đức chung đúc và làm sáng lên cái khí thế cao độ mà ông Diệm không còn giữ được gì về thái độ và chính sách của ông.

Dân tộc Việt Nam có lắm vĩ nhân. Nhưng Bồ tát Quảng Đức là vĩ nhân mà siêu nhân (Trích “Hồi ký chưa xuất bản”, theo khuongviet.net)

Hòa thượng Thích Đức Nhuận:“Ngọn lửa Quảng Đức đã thắp sáng thời đại chúng ta, một thời đại chiến tranh, hận thù đang bao trùm lên thân phận con người (mà) tâm tư thì chứa những lo âu, buồn chán, nghi kỵ, sợ sệt và mất niềm tin…

Ngọn lửa “thiêu” với sức nóng hàng ngàn độ đã không đốt cháy được trái tim kim cương bất hoại của vị Bồ tát “vị pháp thiêu thân”. Ngọn lửa Quảng Đức không chỉ làm chấn động lương tâm nhân loại trên khắp thế giới mà còn đốt luôn một chế độ hà chính bất công, thối nát, sau 9 năm cai trị miền Nam khiến người dân phải sống cuộc sống trong quằn quại, đau thương, tủi nhục…”.
(Trích Ánh đuốc Quảng Đức)

Hòa thượng Thích Đức Nghiệp:“Bùng cháy! Ngọn lửa ngất trời! Không thể nào tả xiết nỗi bàng hoàng của tất cả Tăng Ni và những người đứng xung quanh! Lệ rơi! Tiếng khóc vang lên!...

Biết rằng trong lúc tự thiêu này, có cả Simon Michaud, đại diện hãng thông tấn AFP của Pháp; Malcome Browne, đại diện AP của Mỹ và Neel Shihanm, đại diện UPI  đều chứng kiến tận mắt,  và xe của đại tướng Hakins Mỹ cũng tới chỗ hỏa thiêu này…

Rồi những làn sóng người bốn phương tràn tới chùa Xá Lợi để kính viếng một Bồ tát đã thiêu thân. Đài phát thanh trong nước và khắp thế giới đều kính cẩn đưa tin tự thiêu này…”.
(Hồi ký đặc biệt: Vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức)

Nguyễn Lang: “Lửa cháy trước con mắt kinh ngạc của những ký giả và nhiếp ảnh gia quốc tế. Lửa cháy trước niềm xót thương và lòng kính cẩn của quần chúng có mặt tại đó. Xe cộ dừng lại cả, và mọi người đến vây quanh cảnh tượng hào hùng chưa từng thấy xảy ra ở thủ đô Sài Gòn. Mười lăm phút sau, nhục thân của thiền sư ngã xuống; tiếng kêu khóc của quần chúng vang lên, nức nở. Vài giờ đồng hồ sau, hình ảnh và tin tức thiền sư Quảng Đức tự thiêu đã tràn ngập trên hệ thống truyền hình và báo chương quốc tế. Nhật báo nào cũng đăng hình thiền sư tự thiêu ở trang đầu với tiêu đề lớn. Thế giới chấn động, dồn hết sự chú ý về phía trời Đông Nam Á. Không một ai trên trái đất còn giữ thái độ hờ hững về cuộc tranh đấu của Phật tử Việt Nam…”.
(Trích Việt Nam Phật giáo sử luận tập 3)

Giáo sư Cao Huy Thuần: “Đối với lịch sử, lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, 1963 là năm bùng lên ngọn lửa, một sự kiện phi thường làm chấn động lương tri. Đối với Phật giáo, 1963 là trái tim, trái tim còn nguyên không cháy, khi nhục thân Quảng Đức thành tro. Trái tim đó không nói hận thù. Không nói Winning the war. Nên nhắc lại điều đó để hiểu 1964, 1965 và về sau, để hiểu sự chống đối của các lực lượng chiến tranh đối với một phong trào không nói: Winning the war…”.
(Trích Kỷ niệm 40 năm 1963: Toàn trị và ngoại thuộc)

Trong Phật giáo, sự hy sinh là sự chịu đựng tất cả nỗi đau khổ của kẻ khác. Vị Hòa thượng tử đạo  đã được coi như một vị đắc đại định nên ngài không còn cảm thấy đau đớn trong khi thân hình ngài chìm trong biển lửa. Hành động tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức là sự biểu dương  ý chí cương quyết của Phật giáo đồ buộc chính phủ Thiên Chúa giáo của Tổng thống Diệm phải chấp nhận 5 nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo đòi  hỏi công bình xã hội, tự do tín ngưỡng. Trong bài tự nguyện, Hòa thượng đã viết: “Trước khi nhắm mắt về cõi Phật, tôi trân trọng có mấy lời khuyên Tổng thống Ngô Đình Diệm hãy lấy lòng nhân từ và khoan dung đối với nhân dân và thực thi chính sách bình đẳng tôn giáo…” (Tuần báo Times, 21/6/1963)

 “Việc trái tim của vị đại đức hy sinh vì đạo ở miền Nam Việt Nam đốt mãi mà không thành tro, đã kích động tinh thần dân chúng Phật giáo Tích Lan rất mạnh…” (Colombo, 26/6/1963) 

“Hôm thứ Bảy (9/6/1963) 40.000 Đại đức Tăng, Ni Tích Lan đã đồng thanh chấp thuận một bản kiến nghị yêu cầu Chính phủ Tích Lan cố gắng thỉnh cho được trái tim của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu làm xá lợi để tôn thờ tại Tích Lan…” (Tin Á Châu,  30/6/1963)

 “Người ta vẫn sợ những sự tự thiêu có thể xảy ra nữa. Sài Gòn, hôm thứ Bảy Phật giáo đã tổ chức một buổi lễ đặc biệt cầu siêu cho Hòa thượng Quảng Đức, người đã tự thiêu ở một đường phố lớn Sài Gòn ngày 11/6/1963 để phản đối sự ngược đãi và kỳ thị  của Chính phủ Việt Nam cộng hòa đối với Phật giáo…” (Stars And Stripes, 1/7/1963)

“Hòa thượng Thích Quảng Đức, một tu sĩ đã biến áo cà sa vàng của mình thành một giàn hỏa thiêu. Tổng thống Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam đang làm một việc rất hay là ông đang tự đốt hết nền tảng của chế độ ông…” (New York Tribune,  21/7/1963)

“Một biến cố lo ngại nhất đã xảy ra tại miền Nam Việt Nam, đó là sự tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức để phản đối chính sách bất công của Chính phủ Nam Việt đối với Phật giáo. Sự kiện này dĩ nhiên đã gây xúc động sâu xa cho toàn dân và mọi nguy cơ của thể xảy ra trong tương lai, gần đây sẽ là mọi nguy cơ mà Chính phủ miền Nam Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm…”( Prachaipatai)

“Cuộc khủng hoảng đã đến lúc tột độ khi một vị Hòa thượng tự thiêu để phản đối Chính phủ. Chính phủ đã lâm vào một tình trạng nguy khốn, mất hẳn sự ủng hộ của đại đa số dân chúng…” (Lak Muang)

“ Cuộc tranh chấp giữa Phật giáo đồ 80% tổng số dân chúng tại miền Nam Việt Nam và chính phủ do Tổng thống Ngô Đình Diệm, một tín đồ Thiên Chúa giáo lãnh đạo càng thêm trầm trọng. Sự làm ngơ đối với những nguyện vọng của Phật giáo và nhất là sự vô tình của ông đối với việc tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức sẽ khiến cho tình hình trở nên gnuy ngập…” ( Chao Thai)

“Cuộc khủng hoảng đã tới tột độ khi một vị Hòa thượng tự thiêu để phản đối chính phủ Thiên Chúa giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã áp bức Phật giáo. Vị Hòa thượng đã hy sinh  đời mình để đòi cho được  quyền tự do tín ngưỡng cho nhân dân miềnNam và đòi sự đối xử công bằng cho Phật tử, bởi thế sự hy sinh của ngài thật cao cả lớn lao…” ( Siam Nikorn)

* Thơ Vũ Hoàng Chương
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 04 -THÁNG 5, 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)