Lửa
Đỏ
Trong
Tim
THÁI
KIM LAN
Hôm ấy là ngày 11. 6.
dương lịch. 9 giờ rưỡi sáng, tất cả Phật tử trong chùa
đã họp nhau trên chánh điện để tụng kinh hàng tuần cho
các Thánh Tử Đạo. Chúng tôi cùng nhau đọc kinh và nghe giảng
đến khoảng hơn 11 giờ trưa. Vừa dứt câu “Nguyện đem
công đức này hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng
sanh, thề trọn thành Phật đạo!„, mọi người lạy từ
lui ra, bỗng nghe chuông trống bát nhã vang lừng một cách lạ
thường. Mọi người đều giật mình quay ra phía góc tả hữu
hai bên chánh điện, thấy một bên anh Từ, bên kia Thầy Chánh
Trực đang dùng hết sức bình sinh nổi chuông và trống liên
hồi. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn nhau không biết chuyện gì
trầm trọng đã đang và sẽ xảy ra mà trống chuông đổ khẩn
cấp đến thế ! Vừa dứt tiếng trống, anh Từ nói lớn,
sắc mặt và giọng nói đầy bi hùng pha lẫn chút nghẹn ngào
của nước mắt đang quanh mi: “Mời tất cả ở trong chánh
điện, Thầy có chuyện nói với qúi vị!„
Vài phút sau tin truyền
ra như một tia chớp của cơn giông: Hoà Thượng Thích Quảng
Đức đã tự thiêu vào khoảng 11 giờ sáng hôm nay với lời
nguyện “Tôi sẵn sàng tự thiêu để cúng dường Tam Bảo
và để giác ngộ cho chính quyền mau mau thỏa mãn năm nguyện
vọng của của Phật giáo".
LỜI NGUYÊN TÂM QUYẾT
“Tôi pháp danh Thích
Quảng Đức, Hòa thượng trụ trì chùa Quán Âm, Phú Nhuận
(Gia Định).
Nhận thấy Phật giáo
nước nhà lúc ngửa nghiêng, tôi là một tu sĩ mệnh danh là
trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa
thị để cho Phật Pháp tiêu vong, nên tôi phát nguyện thiêu
thân giả tạm này cúng dường Chư Phật để hồi hướng
công đức bảo tồn Phật Giáo.
Mong ơn mười phương
Chư Phật, Chư Đại đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành
ý nguyện như sau:
1- Cầu hồng ơn Phật
Tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp
nhận 5 nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi
trong Bản Tuyên ngôn.
2- Nhờ ơn Phật từ
bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất
diệt.
3- Mong nhờ hồng ơn
Đức Phật gia hộ cho Chư Đại đức, Tăng Ni, Phật tử Việt
Nam tránh khỏi tại nạn khủng bố, bắt bớ giam cầm của
kẻ gian ác.
4- Cầu nguyện cho
đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.
Trước khi nhắm mắt
mà về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gửi lời cho Tổng
thống Ngô Đình Diệm lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc
dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững
nước nhà muôn thuở.
Tôi thiết tha kêu
gọi Chư Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni, Phật tử đoàn
kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật Pháp.
Nam mô Đấu Chiến
Thắng Phật.
Làm tại chùa Ấn
Quang ngày 8/4 Nhuần Quý Mão.
Tỳ Kheo Thích Quảng
Đức kính bạch
Nghe tin tất cả mọi
người đều thảng thốt như bị điện giựt, rồi không ai
bảo ai mọi người đều quỳ xuống, các ni sư có người
òa lên khóc, nhiều tiếng niệm Phật nho nhỏ thốt lên như
những tiếng kêu tán thán, rồi tất cả mọi người cùng
sụp lạy và qùy tụng theo lời của anh Từ xướng lên “Nam
Mô tiếp dẫn đạo sư A di đà Phật“, tiếng tụng kinh ban
đầu còn lảo đảo ngập ngừng trong cơn xúc động, nhưng
càng lúc càng vững vàng tự tin lấn át mọi nghẹn ngào của
nước mắt đang chảy tràn trên mặt nhiều người, nghe ầm
ì như tiếng của một cơn sóng thần từ trên trời dội xuống.
Tôi ngồi đó như bị
câm, môi tê cứng không thể mấp máy tụng theo mọi người.
Hình như tôi chưa có một ý niệm hay chưa vẽ ra được trước
mắt hình ảnh về mấy chữ vừa được nghe: “Hoà Thượng
Thích Quảng Đức vị Pháp thiêu thân, đốt cháy thân xác
mình để cứu đạo Pháp và giác ngộ con người!“. Sau từng
câu chữ là tổng thể của một chí nguyện và sức mạnh
tinh thần vô úy, vô ngại, dũng mãnh để biến thành ngọn
lửa thiêu thân thành hiện thực, điều này đang vượt quá
giới hạn kinh nghiệm của một đứa sinh viên Phật tử nhỏ
bé yếu đuối là tôi đang cúi đầu sụp lạy. Tôi tự hỏi
không biết mình sẽ phản ứng như thế nào khi được chứng
kiến tận mắt cảnh tượng hy sinh chưa từng có này : khóc,
la hét, ngất xỉu, niệm Phật, lạy, sửng sờ, sợ hãi, chết
cứng, sùng bái? Mọi liên tưởng hay so sánh của con người
về hình ảnh đó bỗng trở nên hạn hẹp và tố cáo kinh
nghiệm chủ quan cũng như trình độ hiểu biết của từng
cá nhân. Tôi nhớ đến màu đỏ lửa của hoa phượng trong
giấc mơ: Lửa! Lửa! Lửa! Một kẻ ngu ngơ như tôi chỉ
có thể tưởng tượng được ngọn lửa vây quanh ngài cũng
đỏ như màu hoa phượng trong giấc mơ, nhưng trong giấc mơ,
hoa phượng có thành lửa đỏ cũng chỉ là mơ..., lửa không
nóng mà lại mát rượi cả tâm hồn! Và cho dù tôi có học
thuộc lòng lý thuyết của D. Hume về kinh nghiệm bỏ tay vào
lửa là bị phỏng, phỏng làm đau...mà bản tính của con người
sợ đau nên học được thói quen thấy lửa là tránh, đã
sợ đau tránh lửa thì làm sao có thể hiểu hết được
sức mạnh siêu nhiên vô úy của người ngồi kiết già trong
lửa?
Có người như bà Trần
Lệ Xuân, vợ của ông Cố vấn Ngô đình Nhu, chủ tịch Phụ
nữ Liên đới VN, trong tình cảm riêng tư, khi nghe tin „lửa
cháy...thân xác“ liền nghĩ ngay đến món „thịt nướng“
trong biệt thự sang cả của bà, không hơn không kém! Tổng
thống Ngô Đình Diệm, trong vai trò của ông, vừa nghe tin đã
rụng rời, rơi cả giấy đang cầm tay và hốt hoảng đọc
lời hiệu triệu nhưng vẫn tuyên bố một câu đầy oai quyền
„sau lưng hiến pháp còn có tôi“ như một lời tự thú về
quá trình độc tài của chính ông. Cả thế giới nhìn Việt
nam với nỗi kinh ngạc về sức mạnh tâm linh của một hiện
tượng tôn giáo độc nhất vô nhị trên đời. Và báo chí
khắp năm châu kín trang đi tìm ý nghĩa hành động tự thiêu
của Thích Quảng Đức như một hy sinh cao cả ! Họ làm sao
hiểu hết được hành động phi thường này qua những
tam đoạn luận, phép tỷ giảo, loại suy, phân tích, so sánh
(ngay cả với chúa Jesus!). Hình như mọi so sánh đều là những
quá trình giảm thiểu rút gọn vào kinh nghiệm thuộc thế
giới thường nghiệm, do đấy trở nên ngờ nghệch và khập
khiểng.
Trái tim Bồ tát
Vượt lên trên tất
cả sức tưởng tượng của con người cũng như lòng tin căn
cứ vào thói quen cho rằng „lửa có khả năng khủng khiếp
đốt cháy tiêu hủy hết tất cả những chi thuộc về „sắc“
tướng“, Thích Quảng Đức đã đưa một thông điệp khác
cho loài người: THẾ NHƯNG! LỬA đã không thể thiêu hủy
trái tim Bồ tát Thích Quảng Đức! Nghe thượng tọa Đức
Nghiệp, người đã đưa Hoà Thượng Thích Quảng Đức đến
ngã tư Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng (Sài Gòn) ngồi xuống
ung dung châm lửa tự thiêu, kể lại rằng: hôm ấy mấy chục
ký giả ngoại quốc chứng kiến vụ tự thiêu - những người
được tôi luyện trong tri thức khoa học và tin tưởng vào
khoa học -, đã lon ton chạy đi tìm thêm mấy bình xăng, quẹt
hết mấy hộp diêm, hì hà hì hục cố tình đốt lui đốt
tới hầu mong có thể tiêu hủy trái tim vẫn còn nguyên vẹn
sau khi nhục thể của Ngài đã thành tro, nhưng LỬA hơn nghìn
độ của lò hỏa thiêu cũng như mấy chục lít xăng super của
người ngoại quốc đã quy hàng trước TRÁI TIM BỒ TÁT.
Trái tim có sức mạnh
biến lửa tam muội thành LỬA TỪ BI. Hiện tượng bất ngờ!
Những kẻ tự hào văn minh Tây phương ngơ ngác! Hình như mọi
thứ ngôn từ khoa học vừa dừng lại nơi đây, nơi cái gạch
nối ấy, gạch nối giữa thể xác và tâm linh, giữa trái
tim nhục thể và trái tim bất diệt, khoa học đang dừng lại
bên bờ nhịp đập và nhịp ngừng của trái tim, quờ quạng
không tiến xa hơn một bước, trong lúc kẻ hành thâm bát nhã
đã thâm nhập vào bến bờ của tâm - ý - thức siêu ngã,
đã qua bờ và đã quay về - khi đi cũng như khi trở lại không
bằng con đường nào khác hơn là con đường của TÂM - của
trái tim: từ trái tim khả tử đến trái tim bất tử - tuy
hai mà chỉ là một, trái tim Quảng Đức:
„Gọi hết lửa vào
xương da bỏ ngỏ, Phật pháp chẳng rời tay ,
Bóng người vượt
chín tầng mây, nhân gian mát rượi bóng cây Bồ Đề“.
Có chăng chỉ còn „vần
điệu của thi nhân“, trong một phút giây trực cảm, đã
đến gần với nhịp đập của trái tim Bồ Tát ấy, đã có
thể
„sờ“ được ngọn lửa từ bi, khả dĩ đem ánh sáng ngọn
lửa Quảng Đức chiếu dọi vào tâm hồn của người Việt
trên khắp miền Nam và cả thế giới. Một tháng sau ngày Thích
Quảng Đức tự thiêu, với „Lửa Từ Bi“ thi sĩ Vũ Hoàng
Chương đã thêm một lần làm ngọn lửa này rực sáng thiên
thu bất diệt, đã làm bừng cháy ý nguyện của Phật tử
miền Nam:
Ngọc hay đá, tượng
chẳng cần ai tạc
Lụa hay tre, nào khiến
bút ai ghi
Chỗ người ngồi:
một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng
chói nét từ bi.
Rồi đây… rồi
mai sau… còn chi ?
Ngọc đá cũng thành
tro, lụa tre dần mục nát
Với thời gian, lê
vết máu qua đi
Còn mãi chứ, còn
trái tim Bồ tát
Dội hào quang xuống
chốn A tì
Ôi ngọn lửa huyền
vi
Thế giới ba ngàn,
phút giây ngơ ngác.
Lời thơ vang dội đã
gây nên một tác dụng mãnh liệt nung đốt ý nguyện vô úy
của Phật tử miền Nam, đến nỗi những người có uy quyền
phải giật mình thảng thốt. Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu nổi
giận trước đám bộ hạ tướng tá giám đốc công an, cảnh
sát, mật vụ của ông và quát tháo rằng, cả guồng
máy công an cảnh sát miền Nam chẳng làm gì được mà thua
một bài thơ của tên thi sĩ quèn trói gà không chặc. Hình
như trong cơn nóng giận, bị nung đốt trong lửa dục độc
tôn và lửa hờn ghét tất cả những ai không theo mình, bị
mê hoặc trong lửa ái ngã và chấp ngã, ông Cố vấn vốn
nổi tiếng thông minh tài ba đầy mưu thần chước quĩ đã
không thấy được sức mạnh của một « cung » rất
nhỏ trong « vần điệu thi nhân », một dấu nhấn hầu như
vô hình nhưng có mãnh lực đưa mũi tên mỏng như lá tre phá
cả thành trì vô minh, khai phóng giác ngộ giải thoát, đưa
bài thơ theo cùng với ngọn lửa Quảng Đức tỏa khắp mười
phương:
Từ cõi vô minh
Hướng về cực lạc
Vần điệu thi nhân
chỉ còn là rơm rác
Và cũng chỉ nguyện
được là rơm rác.
Chính cung thương «nhạn
quá trường giang » của tâm vô ngã «chỉ nguyện được là
rơm rác» đã giúp thi nhân «tự đốt mình» diệt mọi sân
si tham ái, vượt bờ giới hạn ngã chấp, lời thơ bay vút
rực sáng trong tâm nhân loại ngọn lửa từ bi Quảng Đức:
Thơ cháy lên theo với
lời kinh,
Tụng cho nhân loại
hoà bình,
Trước sau bền vững
tình huynh đệ này...
Hôm nay khi viết những
giòng này, như một cuộc hẹn vô tình, lại cũng là ngày 11.
tháng 6 của năm xưa, đã vừa vặn 40 năm ngọn lửa Thích
Quảng Đức! Bút mực thời ấy đã chảy ra rất nhiều, lời
ca ngợi tán thán cũng đã lắm, sự sùng bái tột bực. Nhưng
bỗng giựt mình cho hôm nay và cho cả ngày xưa ấy! 40 năm
đã đem lại nhiều thăng trầm cho Việt Nam, quá nhiều tang
thương cho cả mấy thế hệ 50, 60, 70, đến nỗi lịch sử
lắm khi vì quá đau hay quá kiêu hãnh lại bỏ sót một vài
điều tâm linh đáng để quan tâm, nhưng dễ bị bốc hơi ở
nơi những trang sử thiên về vật chất ! Bia đá dễ mòn nhưng
có lẽ không nên mòn về hiện tượng tâm linh Thích Quảng
Đức.
Thích Trí Quang tán thán
ngọn lửa Quảng Đức bằng một câu đáng suy ngẫm: «Nước
Việt nam có lắm vĩ nhân. Nhưng Bồ tát Quảng Đức là
vĩ nhân mà siêu nhân ».
Thật thế, Việt nam
của thế kỷ hai mươi đã có nhiều điều đáng nói, nhưng
trên bình diện thể tính văn hoá Việt nam - hay nói nôm na
trên bình diện tu tâm, - có lẽ điều đáng nói nhất mà không
quá đáng là Việt nam đã có một siêu nhân Thích Quảng Đức
với một sức mạnh tâm linh đã được thực chứng bằng
„trái tim Bồ tát». Ngọn lửa Thích Quảng Đức không chỉ
bùng cháy cho người Phật tử, ngọn lửa Thích Quảng Đức
là một minh chứng cho cả một nền văn hoá Việt nam được
thể nhập như một đồng nhất « tâm thể », khơi dậy cho
thế hệ nối tiếp một niềm hy vọng nhân ái trên con đường
hội nhập nội tâm - và có lẽ chỉ ở điểm này - ở tính
nhân ái từ bi nhẫn nhục nhưng đầy vô úy vô ngại -
trái tim Quảng Đức khác với «trái tim bốc lửa linh thiêng»
(«heilig gluehend Herz») của một Prometheus, - kẻ đem lửa cho
trần gian - mà Goethe đã từng ca ngợi ( J. W. v. Goethe,
Prometheus). Prometheus phản kháng và thách đố Thượng
đế, kẻ đánh lừa trái tim « tươi trẻ và thánh thiện »
đã bùng cháy một thời cho thần linh và Thượng đế ngủ
yên, đã là một giấc mơ huyền thoại về lý tưởng
văn hoá của con người Tây phương, giấc mơ về hiệu hữu
của loài người không phụ thuộc vào thần linh và Thượng
đế, của một giống người với trái tim bốc cháy theo hình
tượng một Prometheus «biết đớn đau, biết khóc biết cười,
biết vui chơi và hạnh phúc» và «vô úy» (J. W v. Goethe, đã
dẫn), không hãi sợ thần linh. Prometheus bắt đầu xây dựng
nhân tính bằng tự do, nhưng cũng bằng sự kiêu hãnh chấp
ngã của một cá tính phương Tây. Xét cho cùng Prometheus cũng
chỉ là giấc mơ huyền thoại lý tưởng của Tây phương!
Với Hitler, tập đoàn thuộc địa, đế quốc và độc tài
phương Tây, giấc mơ Prometheus phần nào đã trở thành cơn
ác mộng của loài người. Trong lúc «Thích Quảng Đức
ngồi yên thế hoa sen trong biển lửa» là một hiện thực
« vô úy - từ bi » trọn vẹn của con người đã vượt chấp
ngã, của «vị Phật đã thành», khởi đầu bằng sự phát
triển chánh kiến chánh niệm, mở rộng trái tim cho tất cả
chúng sinh, quên mình cho lý tưởng giác ngộ, chỉ nẻo cho
tha nhân lầm đường và cầu nguyện cho chính những người
thù nghịch với con người. Ngọn lửa Thích Quảng Đức
không phải là một huyền thoại hay một niềm tin mù quáng
mà là ngọn lửa của con người, của «mỗi người tự thắp
đuốc lên mà đi».
Đầu thế kỷ hai mươi
mốt, một thời điểm mà thế giới chưa bao giờ như ngày
hôm nay khi bị phá sản về tinh thần và văn hóa trầm trọng
đến từ hai phía: sự hung hăng thô bạo của thế lực vũ
lực ngụy tín và sự vô vọng hư vô (nihilist) của
cuồng tín tâm linh, nền tảng đạo đức nhân loại đang lung
lay sụp đổ dưới chân của mỗi người. Với LỬA TỪ BI
và TRÁI TIM BỒ TÁT, Việt nam có lý do hơn ai cả để tin tưởng
vào sức mạnh vô úy siêu nhiên đầy tình nhân loại của
chính con người Việt nam.
Nói điều ấy mà không
mang một chút ảo tưởng, nếu mỗi người, nhất là người
Phật tử Việt nam không xem câu chuyện Thích Quảng Đức
như một hiện tượng đặc biệt duy nhất, chỉ nên được
nhớ hay quên như một dữ kiện lịch sử. Tấm gương Bồ
Tát Quảng Đức là một minh kính sửa lại cái nhìn sai lệch
cho rằng hiện tượng tâm linh tôn giáo là một liều thuốc
độc mê ngủ, đồng thời mở ra một chân trời mới cho thấy
khả năng tâm linh của con người liên hệ với thực tại
siêu việt trong nỗ lực vươn tới tuyệt đối chân thiện
mỹ, mà những tôn giáo độc thần giáo điều thường giao
trọn trong tay Thượng đế.
Câu trả lời nằm
trong câu hỏi: công án Thích Quảng Đức
Đối với thế hệ trẻ,
ngọn lửa Thích Quảng Đức trở nên một vấn nạn, một
tiền đề tu chứng khởi đầu hành trình tỉnh thức cho cả
một đời người, một tấm gương khai phá sức mạnh tâm
linh siêu nhiên của con người Việt Nam.
Vấn nạn ấy anh em sinh
viên đã thao thức đặt ra ngay sau ngày Thích Quảng Đức tự
thiêu cũng như trong những buổi hội thảo những năm tháng
kế tiếp, rồi bị rơi vào quên lãng.
Câu hỏi thường được
đặt ra là «Thiêu thân có phải là một sự tự sát và đạo
Phật có tự sát hay không ?». Trả lời câu hỏi ấy mà chẳng
trả lời, Thầy Trí Quang đưa ra chấp nhận lời dạy của
Đức Phật làm cả bọn chưng hửng « hân người
khó được!»
Vĩnh Kha hạ kính cận
xuống, nhìn mà không thấy ai: «thưa Thầy, hình như chưa đả
thông được lời dạy « thân người khó được» với sự
tự thiêu! Chị Tuyết xen vào : «Thưa Thầy, theo con nghĩ, Đức
Phật đã dạy coi tấm thân ngũ uẩn tứ đại là vô
thường, thì chuyện tự thiêu chẳng có chi mâu thuẫn!
Nhưng lại mâu thuẫn với thân người khó có » Đông tủm
tỉm nhắc lại câu hỏi.
Đến đó Thầy Trí Quang
mới dẫn chứng thêm «Trong kinh cũng có nói về đốt thân
xác như một hành động tu chứng chế ngự bản thân và nhất
là trong trường hợp cần phải cứu độ sinh linh, hành
giả có thể tự nguyện hủy thân mình!» . Chúng tôi
thở phào an tâm, đã có lời Phật dạy như thế!
Nhưng trong lòng nỗi
băn khoăn vẫn chưa dứt. Hình như chúng tôi cũng đang quanh
quẩn trong rừng rậm hoài nghi mà một người chưa học Phật
thấu đáo thường mắc phải, và những kẻ ngộ nhận Phật
giáo thường vội vàng dựa vào đó để đi đến những kết
luận xuyên tạc : kết luận Đạo Phật là phi tôn giáo, từ
chối bản thể siêu việt và không giải đáp được những
câu hỏi siêu hình của con người. Những kết luận này cho
thấy sự nông cạn, không thấy được hay không muốn thấy
hai bình diện chân lý khác nhau trong lời dạy «tấm thân ngũ
uẩn» và thân người khó có» của Đức Phật. Trong
lúc thấy được tính giả hợp của tấm thân ngũ uẩn là
nhìn đúng bản chất của sự vật trên bình diện khoa học
khách quan, thì mặt khác lời dạy « thân người khó
được» nhấn mạnh đến giá trị hiếm có của chính
thân người trên thế gian, chính giá trị này mang đến ý
nghĩa cho sự hiện hữu của con người như là một thực thể
có khả năng giác ngộ, giải thoát. Ngay ở điểm này cho thấy,
trí tuệ trong cái nhìn khách quan khoa học «thân ngũ uẩn»
luôn luôn đi đôi với câu hỏi về đạo đức tâm linh «thân
khó được» đã làm nên yếu tính tu học của người Phật
tử. Hành giả thấy được sự giả hợp của tấm thân
ngũ uẩn, nhưng không bao giờ vất bỏ tấm thân muôn kiếp
mới được làm người trên thế gian này!
Phải suốt cả cuộc
đời tinh tấn, hành thâm chính kiến ngũ uẩn, tận tâm tận
lực qúy trọng nhưng không chấp thủ « thân người khó được
» mới hiểu được ý nghĩa hạnh nguyện khẩn thiết «được
tự thiêu » của Bồ Tát Quảng Đức. Ý nghiã này, ngoài lòng
từ bi vô lượng, không bắt nguồn từ đâu khác hơn sự thâm
nhập và thực chứng lời dạy của Đức Phật về giá trị
đạo đức và tâm linh của thực thể con người.
40 năm vấn nạn Thích
Quảng Đức như một công án cho cả đời người. Ngờ đâu
câu trả lời đã nằm trong câu hỏi. Thích Quảng Đức là
câu trả lời, là gạch nối giữa «thân khó được» trong
sự tu luyện thân xác trở nên kim cương bất hoại và « tự
thiêu vì chánh pháp cứu độ sinh linh » như một hạnh nguyện
từ bi vô lượng vô biên. Nhìn lại Thích Quảng Đức là nhìn
lại cả hành trình tu chứng của Phật Giáo Việt nam như một
thực chứng giác ngộ giải thoát mà mỗi người Việt nam
đang có sẵn trong tâm thức của chính mình !