VẤN
ĐỀ HỘI NHẬP
VĂN
HÓA PHẬT GIÁO
TẠI
THUẬN HÓA
NGUYÊN
ANH
Phật giáo đến với
cộng đồng dân tộc Việt Nam đã hơn 2.000 năm lịch sử.
Suốt cả chặng đường gần 2 thiên niên kỷ ấy, Phật giáo
đã đóng góp niều vào việc hình thành văn hóa Việt Nam và
con người Việt Nam. Vấn đề đã quá hiển nhiên và rộng
lớn, thiết tưởng không phải bàn đến. Ở đây, chúng tôi
chỉ xin được nói đôi nét về văn hóa Phú Xuân. Trong việc
hình thành văn hóa Phú Xuân-Huế và hình thành con người Huế
thì Phật giáo là một thành tố quan trọng; cho nên Vấn đề
hội nhập văn hóa Phật giáo ở Huế là vấn đề cần phải
bàn đến hôm nay.
I. Sự hình thành và
phát triển Phật giáo ở Huế
1. Phân kỳ từng giai
đoạn phát triển Phật giáo ở Huế từ khởi thủy đến
nay
Trước khi chúng ta có
Thuận Hóa, thì nơi đây vốn là hai Châu Ô Rí thuộc Chămpa.
Cùng với tín ngưỡng Siva và tín ngưỡng bản địa, Phật
giáo Chămpa cũng đã phát triển trên vùng đất Ô Rí này.
Đến năm 1306, đất Ô Rí trở lại tay người Đại Việt,
Phật giáo của miền Bắc đã theo dân Kinh Bắc, Hoan, Ái vào
đây, dung hóa với Phật giáo Chămpa và tín ngưỡng bản địa
để trở thành Phật giáo Thuận Hóa buổi đầu.
Vào năm 1555, Dương Văn
An nhuận sắc sách Ô Châu cận lục, trong đó nói rõ phong
tục, tín ngưỡng, chùa quán ở Tiên Bình và Thuận Hóa. Trước
khi có sách này, riêng tại phần đất Thừa Thiên-Huế đã
có chùa Thiên Mụ ở xã Hà Khê; chùa Sùng Hóa ở làng Lại
Ân; chùa Tu Khách ở cửa Tử Dung…
Chùa Sùng Hóa vào thế
kỷ thứ XV, XVI là một quốc tự: “Hằng năm đến tuần
tiết lập nghi thì tam ti và quan chức các nha môn, vệ sở
đến tụ họp đông đủ, áo xiêm lễ nhạc đông đảo như
mây” (Ô Châu cận lục, Bùi Lương dịch tr.69). Trong Sơn môn
đã có Tăng sĩ tụng kinh Đại thừa, ngoài dân gian đã có
tập tục cúng lễ Vu Lan. Sách Nam triều công nghiệp diễn
chí của Nguyễn Khoa Chiêm (1714) đã ghi: “Năm 1602, Chúa Nguyễn
Hoàng đã đến chùa Thiên Mụ để làm lễ Vu Lan”.
Vào đầu thế kỷ thứ
XVII, Chúa Nguyễn Hoàng cho làm lại chùa Thiên Mụ (1601); chùa
Sùng Hóa (1602) và mở Đại lễ Phật đản tại chùa Sùng
Hóa (1603); thỉnh chư Tăng đến giảng kinh, thuyết pháp Đại
thừa; làm cho dân Thuận Hóa vân tập, nghe kinh, xem hội rất
đông, “ai nấy tấm tắc khen là khá sánh với hội Vô giá”
(Sđd, Nguyễn Khoa Chiêm). Vào nửa sau thế kỷ này, Phật giáo
Thuận Hóa bắt đầu hình thành nhiều Tông phái và phát triển.
Đời chúa Nguyễn Phúc
Tần (1649-1687) có ngài Nguyên Thiều tứ Trung Quốc sang phủ
Quy Ninh (Quy Nhơn) rồi lại ra Thuận Hóa lên núi Phú Xuân,
khai sơn chùa Vĩnh Ân (Quốc Ân hiện nay) để hoằng giáo Thiền
Lâm Tế. Ngài Nguyên Thiều rất có uy tín với cá chúa Nguyễn
Phúc Tần, Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691), Nguyễn Phúc Chu (1691-1725)
và Nguyễn Phúc Chú (1725-1738). Cùng trong đời chúa Phúc Tần
còn có Tổ Giác Phong khai sơn chùa Báo Quốc; Tổ Từ Lâm khai
sơn chùa Từ Lâm; Tổ Khắc Huyền khai sơn Thiền Lâm Thiền
viện (thuộc Thiền phái Tào Động). Cuối thế kỷ thứ XVII,
chúa Nguyễn Phúc Chu mời Thạch Liêm Hòa thượng, cũng phái
Tào Động, sang mở giới đàn truyền giới tại chùa Thiền
Lâm tức thiền viện Thiền Lâm ngày trước, đến đây Phật
giáo Thuận Hóa đã thiết lập được Đại giới đàn với
đủ Tỷ-kheo, Sa-di và Bồ-tát giới. Lần này Phật giáo kết
hợp với phủ chúa Nguyễn rất mật thiết. Chúa đã được
ngài Thạch Liêm truyền dạy cách trị nước theo tinh thần
và đạo đức Phật giáo; lúc đó có 4.000 giới tử Thuận
Hóa đã được truyền giới. (Hải Ngoại Ký Sự).
Thế kỷ thứ XVIII, Phật
giáo Thuận Hóa phát triển một cách đặc biệt. Thứ nhất
là Tổ Minh Hoằng Tử Dung, khai sơn Ấn Tôn tự tức chùa Từ
Đàm hiện nay. Tổ đã hướng dẫn một mùa an cư kiết hạ
rất lớn tại Thiền Lâm thiền viện, địa bàn Trường An
bây giờ (vùng đất từ Từ Đàm lên tới đàn Nam Giao). Chư
Tăng cả hai đạo Thuận Quảng đều vân tập về đây, Tổ
được cung thỉnh làm Thiền chủ. Thứ hai là trong kỳ an cư
kiết hạ năm Nhâm Thìn (1712), Tổ Liễu Quán, người Đại
Việt đầu tiên ở Nam hà đắc đạo với Tổ Minh Hoằng Tử
Dung. Đây là một sự kiện lớn không những cho Phật giáo
Thuận Hóa và Đàng Trong, mà cho cả Phật giáo Việt Nam nói
chung. Về sau Tổ Liễu Quán đã tổ chức đến 5 Đại giới
đàn: Quý Sửu (1733), Giáp Dần (1734), Ất Mão (1735), Canh Thân
(1740) và Nhâm Tuất (1742) (Theo bia ở Tháp Liễu Quán), truyền
giới cho hàng vạn tín đồ, Tổ có đến 49 đệ tử đắc
pháp. Tổ lại xuất kệ khai phái Thiền Lâm Tế Tử Dung-Liễu
Quán ở Nam hà, truyền bá từ Huế vào Nam; Tổ đình phái
này là Thiền Tôn.
Thế kỷ thứ XIX, khởi
đầu từ vua Gia Long (1802-1819), Phật giáo Thuận Hóa phát triển
rộng rãi; chùa chiền nhiều, Tăng chúng đông, với tên tuổi
của các Cao Tăng như ngài Đạo Minh Phổ Tịnh, ngài Mật Hoằng,
Tánh Thiên Nhất Định, Hải Thuận Diệu Giác, Hải Thiệu
Cang Kỷ, vân vân và vân vân …
Thế kỷ thứ XX, Hội
An Nam Phật học ra đời (1932), hầu hết các thành viên ở
Thuận Hóa là Nho sĩ, quan lại, phụ nữ, thanh niên, trí thức
tân học…, đã cùng với Giáo hội Tăng già chuyển Phật
giáo Thuận Hóa sang thời kỳ phát triển mới; dùng chữ quốc
ngữ để dịch kinh tụng hằng ngày; đưa nhạc lễ vào các
khóa hành lễ (như bài Trầm Hương Đốt của Bửu Bác), cải
cách thờ tự cho trang nghiêm và giản dị hơn; tổ chức các
Học Đường để đào tạo Tăng tài theo học phong mới; tổ
chức Khuôn Hội đến tận làng xã để đưa Phật giáo về
nông thôn, góp phần khai trí dân sinh thoát khỏi mê tín dị
đoan, bỏ thói xấu kiện cáo lẫn nhau, lập nếp sống thân
ái hiền hòa, giản dị. Nhất là chú ý giáo dục thanh thiếu
niên nhi đồng như Gia đình Phật Hóa Phổ về sau là Gia đình
Phật tử; lập nhà nuôi trẻ mồ côi, lập trường Bồ Đề
từ Tiểu đến Trung học, các trường Mầm non Lâm Tỳ Ni v.v…
Lại mở Bệnh xá ở Thành phố và tận các làng xã xa xôi
để khám và cho thuốc miễn phí… Tất cả đều đã và đang
phát triển tại Thừa Thiên Huế.
2. Trong tiến trình hình
thành và phát triển
Qua hơn 700 năm trên đất
Thuận Hóa, Phật giáo cũng đã hòa nhập, tương tác với thiên
nhiên, khí hậu và con người của một vùng sông núi hài hòa
thanh tú; nhất là hình ảnh sông Hương. Sông Hương có lẽ
là con sông đặc biệt không đâu có; trừ mùa mưa lụt trong
thời gian ngắn so với toàn năm, lúc nào nước sông Hương
cũng trong, mặt sông bình lặng như hồ. Núi ở phía Tây trùng
điệp, những dãy đồi cao thấp ở mạn Nam sông Hương như
Hàm Long sơn, Hoàng Long sơn , Dương Xuân sơn.. rất nhiều chùa
chiền gần như đối lại với cảnh kinh thành, toàn bộ sông
núi, cảnh thiên nhiên tạo nên cái đẹp hoằng viễn; dần
dà huân tập ảnh hưởng để làm phát sinh mẫu người Huế
trầm lắng, bình tĩnh, ôn nhu nhưng cương nghị. Người Huế
đã đến với Phật giáo bằng tâm hồn đó. Các vị cao Tăng
phần nhiều gốc người Quảng Trị (thuộc Thuận Châu ngày
xưa) đều vào các chùa Huế để xuất gia vì nơi đây vốn
đã có căn cơ, chủng tử Như Lai; được sống với môi trường
ấy, các ngài đã trở thành những vị chân tu theo mẫu người
Huế, khế hợp hoàn toàn với cư dân tại đây (thuộc Hóa
châu ngày trước) để tạo thành Phật giáo Thuận Hóa có
nhiều nét đặc trưng riêng biệt.
Ngoài ra trong kiến trúc
chùa chiền, trong nếp sống đạo hạnh, Phật giáo Huế cũng
mang trong mình văn hóa và lễ giáo cung đình triều Nguyễn.
Chắc chắn trong hơn 300 năm văn hóa Phú Xuân, Phật giáo đã
hội nhập tương tác rất sinh động trong văn hóa Huế vậy.
II. Một số đặc
điểm về sự hội nhập văn hóa Phật giáo ở Huế
Văn hóa Việt Nam nói
chung là văn hóa nông nghiệp – văn hóa xanh, lấy thiên nhiên
làm nền tảng. Để tồn sinh và phát triển loại văn hóa
này, con người trong đó phải có một giòng máu dũng cảm
và ý chí cao độ, để sống với thiên nhiên khắc nghiệt,
vừa mở mang khai phá vừa giữ gìn trân trọng; chống ngoại
nhân xâm lược, lấy con người làm nền tảng. Nhất là Thiền
Tôn (kể cả Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn, Quy Ngưỡng, Pháp
Nhãn) rất trọng thiên nhiên, môi trường sinh thái; khế hợp
với văn hóa đồng xanh, Lạc Việt, cho nên Phật giáo đã
hội nhập đầy đủ với văn hóa dân tộc. Riêng ở Thuận
Hóa, chúng tôi sẽ nói qua bốn điểm sau:
1. Hội nhập trong nghi
lễ
Nghi lễ là phần chính
yếu của một tôn giáo; nghi lễ cũng là một nhu cầu bức
thiết của con người nhằm tỏ lòng biết ơn, cầu nguyện,
van vái… Nhưng Phật giáo chỉ lấy “giải thoát” làm mục
đích cho cuộc sống; cho nên về phần nghi lễ không hề bày
ra một cái gì để trói buộc, áp đặt con người. Nghi lễ
Phật giáo rất thiết thực và diễn ra thường ngày như nghi
lễ đánh chuông, gõ mõ, tụng kinh, tâm tưởng hướng thiện,
cầu giải thoát ngay trong cuộc sống hiện tại: không lo âu,
sợ sệt, hão huyền; tâm trạng luôn an trụ trong thư thái,
vui vẻ; thoát mọi phiền não, tức giận, tham lam… Trong việc
hội nhập với văn hóa dân tộc, Phật giáo Huế đã đưa
nghi lễ vào cuộc sống dân Thuận Hóa bằng hai phần: thứ
nhất là bày biện lễ vật cúng; thứ hai là tịnh tâm hộ
niệm và “chính tín”.
• Phần bày biện lễ
vật, chủ yếu là giản khiết và tinh sạch, vệ sinh; Tượng
Phật thờ đúng cách, ngoài tượng ra còn có kinh, chuông mõ,
tràng hạt; trên bàn thờ có đèn sáng, hương trầm thơm hoa
quả tươi tắn, có sự cân xứng để tạo tâm tưởng chỉnh
nghi. Nếu cần cỗ cúng Tổ Tiên, chỉ cần làm cỗ chay vừa
hợp vệ sinh, vừa đỡ hao tốn, tránh ruồi nhặng bâu hút
truyền mầm bệnh vào đồ ăn. Tuyệt đối là không có đốt
giấy vàng mã.
• Phần tự trang nghiêm
chính mình: giữ gìn thân, khẩu, ý để hướng thiện, hộ
trì khi cúng lễ. Biết chắp tay, tĩnh tâm niệm theo tiếng
xướng, tán, đọc kinh, trì chú của vị Tăng chủ sám. Phần
này thì hiện giờ Phật tử Huế hầu như đã làm đồng bộ,
tạo nên một nếp sống thuần nhã, có ý nghĩa. Chỉ nhìn
thái độ và nếp sống tôn giáo của Phật tử Thừa Thiên
Huế là rõ. Trở lại thời gian trước năm 1945, phải kiên
trì lắm mới làm cho người dân hiểu thế nào là “chánh
tín” và thế nào là “mê tín” để thoát khỏi thần quyền
, thoát khỏi cái mơ màng “thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo
cây đề” mà cả một thời gian dài trước đó đã xô đẩy
người dân vào mê tín, cầu đảo van xin tha lực phù hộ.
Tuy nhiên, Phật giáo
Huế cũng hòa nhập, tương tác với phong tục, tập quán của
từng địa phương vào những nghi lễ của mình như lễ “đám
chay” ở các phái, các họ tại nông thôn chẳng hạn. Không
bắt buộc ai vào lạy Phật thì cũng phải đầu tròn áo vuông,
người dân vẫn mang áo đen, khăn đóng, thậm chí cả áo rộng
xanh vào làm lễ Phật ở đàn tràng, đám chay. Truyền thống
của người dân Thuận Hóa cũng như cộng đồng dân tộc Việt
Nam, rất biết trọng ơn nghĩa tổ tiên theo đạo lý “uống
nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”; điều
này rất khế hợp với giáo lý “báo tứ trọng ân” của
Phật giáo. Phật giáo Huế tổ chức lễ Vu Lan rất trang trọng
để nhà chùa, tư gia Phật tử tưởng niệm công đức tổ
tiên ông bà, cha mẹ quá cố; và “mùa Báo hiếu” trở thành
mùa lễ hội lớn của toàn dân tộc.
2. Hội nhập trong kiến
thức và mỹ thuật
Nói đến kiến trúc
và mỹ thuật của Phật giáo thì phải nói đến chùa, tháp,
tượng, chuông, mõ v.v…
Chùa Huế được cấu
tạo theo phong cách nhà vườn truyền thống Huế. Ở Huế có
tất cả khoảng 200 ngôi chùa, mỗi ngôi chùa là một khung
cảnh đặc sắc đầy màu xanh của cây lá. Khi đến chùa,
người ta có cảm giác thư thái, thanh bình về cảnh đẹp,
về không khí trong lành, về vùng cây lá tươi mát và cung
cách sinh hoạt trang nghiêm của Tăng Ni.
Đại thể, chùa Huế
có nét tương đồng trong kiến trúc. Trước hết là cổng
tam quan; bên trên có lầu để thờ Hộ pháp; qua khỏi cổng
tam quan đến sân chùa. Ngôi chùa chính thường có hai phần:
Tiền đường và Đại điện. Nhìn lên cách trang trí trên
nóc chùa thường có rồng chầu hồ lô, hoặc chữ “Vạn”,
hoặc chữ “Phật”. Trong đại điện, thờ tự rất giống
nhau. Chính giữa có biển đề trên cao “Đại Hùng Bửu Điện”,
bên dưới là bàn thờ; ngoài hết là bàn kinh, có chuông mõ
… Chính giữa: tượng Phật Thích-ca; trên cao và trong khám
có ba pho tượng Tam Thế Phật; gian tay trái (nhìn ra) thờ tượng
Quan Âm, gian tay phải thờ tượng Địa Tạng; bên sau: chính
giữa có bàn thờ Tổ; hai gian hai bên thờ linh. Tương đồng
là vậy, song cũng có chùa cách bài trí thờ tự có khác hơn,
nhưng không quá khác biệt. Chùa nào cũng có Đại hồng chung,
trống lớn. Chuông trống hoặc là bài trí trong lầu chuông,
lầu trống hai bên tả hữu Tiền đường; hoặc để ngay trong
Tiền đường nếu chùa chưa có lầu chuông, lầu trống.
Phía sau chùa có nhà
hậu; hai dãy nối chùa chính với nhà hậu ở phía trái và
phía phải để làm nhà tăng và nhà khách, toàn bộ tạo nên
một phong cách kiến trúc đặc trưng của chùa Huế: kiến
trúc hình “chữ Khẩu” (
). Xét về hình thức này có phảng phất ảnh hưởng kiến
trúc cung đình Huế: nhất là các dãy điện chính như điệnThái
Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành… với các nhà Tả
vu, Hữu vu hai bên. Cách xây nhà “trùng lương” cũng ảnh
hưởng phần nào kiến trúc cung đình. Các mô-típ trang trí
trên mái, nhất là hai con rồng quay đầu chầu mặt trời ở
giữa. Có lẽ hai ngôi quốc tự Thiên Mụ và Diệu Đế do
nhà vua cử người kiến thiết và trang trí nên về sau các
chùa Huế cũng ảnh hưởng dần theo.
Tháp: Nguyên lai, chỉ
Phật giáo mới có. Vua Thiệu Trị (1840-1847) đã xây tháp Phước
Duyên ở chùa Thiên Mụ không phải thuần ý hướng truyền
bá đạo Phật, mà lại để trấn yểm kinh thành (Đại Nam
Nhất Thống Chí, quyển Kinh Sư), điều này làm cho tháp chùa
Thiên Mụ trở nên đặc sắc hơn, đó chính là nét hội nhập
văn hóa Phật giáo về mặt kiến trúc vào văn hóa dân tộc.
Tượng Phật: tượng
các vị Bồ-tát; tượng La-hán, Thập Điện Minh vương… là
những nét độc đáo về mỹ thuật điêu khắc, nắn tượng…
làm nên sắc thái riêng mà hầu như ngoài các chùa ở Huế
thì không ở đâu có các hình thức điêu khắc như thế. Mỗi
tượng một vẻ đã đành, chất liệu tạo tượng cũng rất
phong phú: đồng, đá, sành, thạch cao, gỗ v.v… Nói về nghệ
thuật tạo tượng, chắc chắn Phật giáo Huế đã làm giàu
cho kho tàng nghệ thuật dân tộc không ít.
Chuông: thì có Đại
hồng chung và chuông gia trì. Riêng về Đại hồng chung hiện
có chuông Nguyễn Phúc Chu, chuông Gia Long ở chùa Thiên Mụ;
chuông chùa Thuyền Tôn (đời Lê Cảnh Hưng); chuông chùa La
Chữ (đời Tây Sơn, niên hiệu Quang Trung); chuông chùa Hạ
Lang (thời Cảnh Thịnh)… đều là những bảo vật vô giá
cho lịch sử, triết học, nghệ thuật trang trí cho đến nghệ
thuật đúc đồng… Chuông gia trì, hiện tại ở Thừa Thiên
Huế có hai chuông: chuông đời Cảnh Thịnh ở chùa làng Hạ
Lang và chuông đời Minh Mạng ở chùa Khánh Vân, làng Lựu
Bảo rất đáng quý.
Mõ: Cách đục mõ, nghệ
thuật trình bày cái mõ bằng hình con cá gáy; mõ có thếp
hoặc chỉ sơn đỏ; mõ có đủ kích cỡ, chỉ đục bằng
gỗ mít cũng có thể là một chương đặc biệt về nghệ
thuật Huế.
Ngoài ra còn có câu đối,
văn bia và nghệ thuật điêu khắc trình bày các mô-típ: rồng,
hoa sen cách điệu chính diện, hoa sen hình cánh phượng ở
dưới bia, thể hiện sự tinh tế của nghệ thuật điêu khắc
đa dạng của Phật giáo Huế.
3. Thế ứng xử với
các tôn giáo và tín ngưỡng khác
Nói đến ứng xử cũng
là nói đến nhân sinh quan của Phật giáo. Suốt 2.500 năm,
Phật giáo chưa hề làm mất lòng một dân tộc nào, chứ đừng
nói là cưỡng ép người khác theo đạo đến nỗi gây ra đổ
máu. Trái lại, Phật giáo đi đến đâu cũng hòa nhập với
các truyền thống tư tưởng, học thuyết, tín ngưỡng vốn
có ở nơi đó. Tại Thuận Hóa thì cách sống đó của Phật
giáo lại càng rõ hơn.
Nói về tín ngưỡng
truyền thống, tự thân Phật giáo là một tín ngưỡng truyền
thống của dân tộc; là văn minh, văn hóa và nếp sống của
dân tộc trong suốt hai thiên niên kỷ nay. Bên cạnh đó, Nho
giáo – nhất là ở Huế, chốn kinh đô của triều Nguyễn
– có lúc đã giữ địa vị độc tôn; Lão giáo cũng đã
ăn sâu vào tâm thức người dân.
Cho đến đầu thế kỷ
XX, Nho giáo đã đi vào con đường bế tắc khi triều đình
bỏ kỳ thi chữ Nho vào năm 1918. Phật giáo Thừa Thiên Huế
cũng có chiều suy đồi vào giai đoạn nói trên. Thế nhưng,
Phật giáo đã nhanh chóng phục hưng và đổi mới để phát
triển vào năm 1932. Hội An Nam Phật Học ra đời đã kết
tụ được nhiều nhà Nho như Phan Khôi (viết báo Tràng An),
Huỳnh Thúc Kháng (báo Tiếng Dân), Phan Bội Châu, Nguyễn Đình
Hòe, Nguyễn Khoa Tân, Ưng Bình Thúc Dạ Thị … hoặc cổ vũ,
hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động chấn hưng Phật
giáo, trong đó có đông đảo các nhà Nho.
Lão giáo tôn trọng thiên
nhiên, sống phóng khoáng gần như Thiền. Phật giáo cũng rất
tôn trọng tinh thần yêu thiên nhiên nên đã hòa hợp và làm
cho người có tinh thần Lão Trang ưa chuộng; Như Như đạo
nhân ở Đào Hoa Trang là một ví dụ, ông vẫn cưỡi ngựa
trắng, mặc áo vỏ cây, rong chơi trên núi Thiên Thai; vẫn
ở tại Đào Hoa Trang ở vùng gần núi Ngự Bình; nhưng lại
cùng vị Trú trì chùa Diệu Đế tục biên bộ Hàm Long Sơn
Chí của Điềm Tịnh Cư sĩ – bộ sách nói về chùa chiền,
cao Tăng ở Huế.
Năm 1940, Hội An Nam Phật
Học đã mở lớp học đặc biệt dạy cả Phật học, Khổng
học và Lão học cho thanh niên tân học thời bấy giờ; lớp
thanh niên này về sau có nhiều người nổi danh trong Phật
giáo xứ Huế.
Bên cạnh đó, ở Huế
còn có Thiên chúa giáo. Đối với nhà Nho ngày trước, vì
thấm nhuần tinh thần “trung quân” của họ, nên khi vua chúa
Sắc dụ cấm Thiên chúa giáo thì nhà Nho gọi tín đồ Thiên
chúa giáo là người “đàng đạo” và tự xưng mình là “người
lương”. Trái lại, Phật giáo và tín đồ Phật giáo ở Thừa
Thiên Huế chưa bao giờ dùng hai chữ đó cả; thái độ ứng
xử với Thiên chúa giáo rất tự nhiên. Trong năm 1963, chế
độ Ngô Đình Diệm tàn sát Phật tử, hạ cờ Phật giáo,
đánh vào các chùa chiền. Phật giáo đồ đứng dậy đấu
tranh với chế độ Diệm với châm ngôn “bất bạo động”;
không hề chỉ trích đến tín đồ Thiên chúa giáo; đến nỗi
nhiều Linh mục cảm kích, đã đứng dậy chống chế độ
Diệm, theo hàng ngũ Phật giáo. Nói chung, thế ứng xử với
Thiên chúa giáo là đoàn kết.
Những thuần phong mỹ
tục của dân gian vẫn được Phật giáo trân trọng giữ gìn,
không hề bác bỏ: thờ cúng tổ tiên, kỵ chạp, đám chay,
ăn Tết Nguyên Đán v.v… nhưng chỉ trọng tinh giản, không
xa hoa đình đám.
4. Sách, báo, nhà xuất
bản, nhà in của Phật giáo ở Huế
Từ xưa, Phật giáo Huế
là nơi phát xuất việc soạn sách, khắc kinh với tư cách
thể nhân, không thuộc cơ quan văn hóa của triều đình như
Quốc Sử Quán chẳng hạn. Hiện nay còn bộ Hàm Long Sơn Chí
của hai soạn giả Điềm Tịnh Cư sĩ và Như Như Đạo nhân,
là một bộ sử Phật giáo Huế của thế kỷ XIX. Đến năm
1942, Hội An Nam Phật Học ra đời, lấy chữ quốc ngữ để
truyền bá đạo Phật. Năm 1942, sách Việt Nam Phật giáo sử
lược của Thầy Mật Thể được xuất bản, đánh dấu bước
tiến mạnh của Phật giáo Huế.
Báo chí là phương tiện
hoằng pháp hữu hiệu nên từ năm 1935, Phật giáo Huế đã
cho ra mắt Nguyệt san Viên Âm; trong tạp chí này đã có nội
dung bài trừ mê tín dị đoan và phần nghị luận ngoài những
Kinh, Luật, Luận dịch từ chữ Hán ra. Báo này được truyền
bá rất mạnh ở cả miền Nam lẫn miền Bắc.
Năm 1946, có báo “Giải
thoát” của Thầy Mật Thể và một số Tăng sĩ trẻ chủ
trương. Báo này có tiêu đề nêu rõ chủ đích: “Nghiên cứu
và áp dụng đạo Phật vào đời sống mới”. Năm 1947, có
“Phật giáo văn tập” của Cư sĩ Tráng Đinh. Năm 1949 có
báo “Giác Ngộ”. Năm 1950, “Viên Âm tục bản” do Cư sĩ
Chơn An Lê Văn Định chủ nhiệm. Những báo này đều có khuynh
hướng áp dụng và cải cách Phật giáo Huế cho khế hợp
với tinh thần dân tộc trong giai đoạn mới khi dân trí đã
cao, khoa học đã tiến bộ.
Năm 1959 có tạp chí
“Liên Hoa” của Giáo hội Tăng già Trung Việt, báo do Thầy
Đôn Hậu chủ nhiệm; Thầy Đức Tâm chủ bút, quy tụ khá
đông trí thức ở Huế cộng tác.
Cũng lấy chữ Quốc
ngữ làm chính, sách Nghi thức tụng niệm ra đời; sách này
đã in nhiều lần, cung cấp hàng vạn cuốn cho tín đồ khắp
nơi hành trì, truyền bá “chánh tín” theo nghi lễ Phật giáo,
góp phần bài trừ mê tín dị đoan. Năm 1960, các Tăng sĩ ở
Huế đã soạn quyển Phật pháp để dạy đạo đức cho Gia
đình Phật tử, sách này truyền bá đến cả người không
theo Phật giáo. Ngoài kinh sách chính thức còn có thể truyện,
thơ, ca, hò, vè, nhất là Ca Huế. Âm nhạc cũng được truyền
bá rất rộng. Có bài “Từ Đàm quê hương tôi” hiện nay
vẫn được mọi người ưa thích. Trước đây, ở Huế có
nhà in Liên Hoa, in nhiều sách báo của Giáo hội Phật giáo
Huế; và cả sách báo Phật giáo ở các tỉnh đưa về thuê
in. Nhà in này cũng đã góp phần với ngành in ở Huế một
thời, để đẩy mạnh việc in ấn văn hóa phẩm Phật giáo.
III. Tổng luận
Hiện nay, Huế đang đi
lên theo chủ trương: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; thì trong
bản sắc văn hóa dân tộc, Phật giáo Huế có phần đóng
góp rất sâu sắc trong lãnh vực đời sống văn hóa, thái
độ ứng xử giữa con người với con người và giữa con
người với mội trường sinh thái, đáp ứng được du lịch
xanh với mẫu nhà vườn kiểu Huế, qua phong thái kiến trúc
vườn, nhà và cách bố trí nhà ở các chùa. Thiết thực nhất,
món chay nấu theo lối Huế, do người phụ nữ Phật tử Huế
nấu, cũng có thể là một đáp ứng về văn hóa ẩm thực
hiện nay.
Hiện tại, nói về phương
diện vật chất, văn hóa Huế còn có một mảng lớn là kiến
trúc chùa, tháp với phong cảnh thanh u của cây xanh, bóng mát
thì hình như người ta chưa nói đến. Theo chúng tôi nghĩ,
có lẽ ta cần bổ sung ngay mới kịp.
Về văn hóa phi vật
thể, chúng tôi thấy tinh thần Phật giáo của xứ Huế, người
Phật tử với những nét đặc trưng, đã làm thuần hòa thêm
cho tinh thần người xứ Huế; vẫn là một kho báu tinh thần
mà ta cũng chưa nói đến.
Trong sự phát triển
của Phật giáo trong Nam ngoài Bắc thì Phật giáo Huế vẫn
có nhiều nét đặc trưng riêng về tôn giáo học, dân tộc
học, phong tục học… nên rất cần sự lưu ý của các học
giả chuyên môn để đưa ra những nghiên cứu mới về bản
sắc riêng của văn hóa Huế, trong đó có phần hội nhập
và hình thành do văn hóa Phật giáo đã thực hiện, đang thực
hiện và sẽ thực hiện.
Hiện tại, Phật giáo
đang có hai ngành đang đóng góp nhiều với văn hóa dân tộc
ở Huế là ngành y tế với Tuệ tĩnh đường Diệu Đế và
ngành giáo dục với các lớp Mầm Non từ thiện, Trường Cơ
bản Phật học Báo Quốc và Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Huế. Nhưng, chúng tôi thấy vẫn chưa đủ để hội nhập
với xã hội.
Chúng tôi mong Chính quyền
các cấp quan tâm đến Phật giáo Huế hơn nữa, để Phật
giáo có thể làm tròn chức năng truyền thống của mình trong
việc hội nhập với văn hóa dân tộc.
Về vấn đề văn hóa,
lối sống, phong cách hội nhập, chúng tôi mong về phần Giáo
hội và tín đồ phải gạt bỏ những sai lệch, cũ kỹ, lạc
hậu để đoàn kết, cùng giữ gìn, trân trọng và phát huy
truyền thống tốt đẹp vốn có, cho phù hợp với bước tiến
nhanh của dân tộc và theo kịp sự biến đổi của văn hóa
dân tộc.