PHẬT
PHÁP VÂN
HIÊN THÂN CỦA
NGƯỜI MẸ VIỆT
THÍCH
THANH THẮNG
Theo Cổ châu Pháp Vân
Phật bản hạnh, Phật Pháp Vân xuất hiện vào thời Sĩ Nhiếp
(khoảng thế kỷ thứ II). Sĩ Nhiếp đã cho tạo tượng, dựng
chùa, đồng thời cho mở lễ hội lớn hàng năm nhằm phổ
biến và tôn vinh Đức Phật Pháp Vân, một biểu tượng sáng
tạo văn hóa của người Việt. Như nước hòa với sữa, Phật
Pháp Vân đi vào đời sống dân tộc trên nhiều bình diện,
từ việc đem đến mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cho
đến việc đánh đuổi quân xâm lược, gi? yân bờ cõi…
Trong quá trình bản
địa hóa Phật giáo, nếu yếu tố thần, Bụt trong thần thoại
là bi?u hi?n cho khát vọng hạnh phúc của con người thì yếu
tố thần, Bụt trong đạo Phật là quá trình con người có
thể trở thành. Khi thần buớc sang giai đoạn xác nhận được
giới tính (nam thần, nữ thần…) như trong thần thoại đã
miêu tả thì cũng là lúc cuộc gặp gỡ đầy khoan dung trong
lịch sử giữa con người và thần diễn ra. Và kể từ khi
đạo Phật xuất hiện trên quê hương Việt Nam, những phẩm
chất Phật được hóa thân thông qua hình tướng con người
đã mang đến cho người dân bản địa cách nhìn nhận hoàn
toàn mới về thế giới. Đó chính là con người có thể nỗ
lực tu luyện, khắc phục những giới hạn của bản thân
để trở thành Phật. Có thể nói, khi Sĩ Nhiếp cho xây chùa
và tạo tượng Phật Pháp Vân là lúc cả dân tộc tôn vinh
người mẹ lên ngôi vị Phật Bà.
Kể từ đó, con người
đã chuyển sự chú ý từ nhiên thần sang nhân thần, đồng
thời lấy con người làm trung tâm cho tất cả những khát
vọng và mơ ước trong đời sống. Và vì vậy, khi tiếp thu
Phật giáo, vị thế con người ngày càng được nâng cao, tạo
tiền đề cho các thế kỷ tiếp theo khẳng định rõ nét hơn
quan niệm “tức tâm tức Phật”. Chính vì điều này mà
trong Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh cho rằng Man Nương
là Phật Mẫu thị hiện làm con người nên có sẵn trong mình
những phẩm chất giác ngộ và quyền năng vô biên. Có thể
nhận thấy, việc Man Nương thị hiện trong thân người nữ
(mà sau này trở thành Phật Bà) là quan niệm không mới trong
kinh điển Phật giáo nhưng rất mới với người Việt.
Và trong kỷ nguyên dân
tộc đang nỗ lực đấu tranh giành độc lập, chống lại
chính sách nô dịch văn hoá của nhà Hán thì sự xuất hiện
của Phật Pháp Vân càng trở nên có ý nghĩa. Ý nghĩa không
chỉ ở việc lý luận nhận thức mà còn từ đó quy tụ các
yếu tố tín ngưỡng bản địa vào địa hạt Phật giáo.
Đồng thời lấy Phật giáo làm nền tảng văn hóa quan trọng
để đối kháng với văn hóa Trung Hoa, cụ thể là Nho giáo
và thuyết trung tâm. Bên cạnh đó, tư tưởng trọng nam khinh
nữ đã đi theo tiếng vó ngựa xâm lăng tràn vào nước ta.
Trong hoàn cảnh ấy, Phật giáo chính là sự lựa chọn tốt
nhất của cả dân tộc. Thuyết bình đẳng mà Phật giáo mang
đến đã nhanh chóng xóa đi cái mặc cảm “man di”, để
người Việt có thể ngẩng cao đầu trên lộ trình sáng tạo
một nền văn hoá đậm chất nhân văn và trí tuệ.
Nếu như mỗi lần chiếc
trống đồng được đúc ra, phụ nữ là người vinh dự đánh
tiếng trống đầu tiên ấy thì sự xuất hiện của Phật
Pháp Vân là mạch nguồn trong dòng chảy ý thức sáng tạo
văn hoá. Người Việt đã tôn vinh người phụ nữ bằng hình
ảnh Phật Bà vừa thiêng liêng vừa gần gũi, vừa phổ độ,
phù trì, vừa thiết tha yêu nước, thương dân. Do đó, sự
phối hợp mầu nhiệm tất yếu phải diễn ra giữa Phật giáo
và dân tộc. Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ
nước, cả hai đã không ngừng truyền cho nhau sức sống. Lẽ
dĩ nhiên, việc hình thành một nền tảng tâm linh của dân
tộc là vô cùng cần thiết. Bằng nụ cười từ bi, thân thiện,
Phật giáo nhanh chóng trở thành tôn giáo bản địa ngay từ
cái nhìn đầu tiên của dân tộc. Giáo sư Cao Huy Đỉnh
viết: “Những nữ thần thị tộc: bà Dâu, bà Đậu, bà Dàn
là biểu tượng của những lực lượng thiên nhiên như mưa,
gió, sấm, sét ở trong thần thoại cổ của người Việt đã
trở thành Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Nhân dân
lại suy tôn một cô gái làng Dâu mà người nước ngoài hồi
đó quen gọi là Man Nương đã có công chống hạn, đem nước
suối vào ruộng cho dân cấy lúa, làm Phật Bà đầu tiên của
đạo Phật Việt Nam. Từ đó bà mẹ Việt, cô gái Việt được
coi như là hiện thân trong sáng nhất của Đấng Từ bi (…).
Hội tắm Phật hay hội Mẹ Tổ mồng tám tháng tư bắt đầu
có từ đó. Và “Mẹ ta hoa Phật” chắc hẳn cũng được
truyền ngôn từ đó…” (Bộ ba tác phẩm nhận giải thưởng
Hồ Chí Minh, NXB Văn hóa Thông tin, 1996, tr. 41). Nếu như nền
văn hóa bản địa lúc đầu con manh mún chưa có đủ cơ sở
để đối kháng với văn hóa Hán thì Phật giáo buổi ban đầu
đã trở thành điểm hội tụ văn hóa, tạo nên sức mạnh
trên cả hai bình diện tâm linh và lý luận nhận thức.
Cho nên, ngay từ thời
Hùng Vương, các nhà lãnh đạo đã xác quyết: “Người không
kể tôn ti, phải mang kinh năm giới mười lành, dùng làm chính
sách của nước”, hay “Hễ bỏ nết hạnh của Phật Pháp
mà đi làm chuyện tà ngụy của quỷ yêu thì chuyện mất nước
nhất định sẽ xảy ra”. Và cách tiếp nhận năm giới ngay
từ buổi đầu Phật giáo du nhập vào nước ta đã mang đến
những phương thức ứng xử mẫu mực, thể hiện đầy đủ
trình độ văn hóa của dân tộc Việt: “Lấy năm giới làm
trị chính, không hại nhân dân: một là nhân từ không giết,
ơn tới quần sinh; hai là thanh nhường không trộm, quên mình
cứu người; ba là tinh khiết không dâm, không phạm các dục;
bốn là thành tín không dối, lời không hoa sức; năm là giữ
hiếu không say, nết không dơ dáy” (Theo Lê Mạnh Thát, Lịch
sử Phật giáo Việt Nam tập 1, Nxb Thuận Hóa, 1999, tr. 90; 91).
Hệ thống Tứ Pháp ra
đời là bước dung hội đầy đủ của Phật giáo và dân
tộc. Vì vậy, Phật Pháp Vân không chỉ là điểm tựa tâm
linh mà còn cụ thể hoá thành sức mạnh đối kháng về văn
hoá và quân sự với phương Bắc. Phật Pháp Vân không ngừng
giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, tâm linh của
người Việt, ngài vừa là cứu tinh của mùa màng, vừa nuôi
dưỡng khát vọng no đủ thuần thiện, vừa là nguồn sức
mạnh vô biên để nhân dân tin tưởng chống lại kẻ thù
xâm lược. Trải qua bao cuộc kháng chiến vẻ vang của dân
tộc, đến tận thời hậu Lê (Thế kỷ XV), những chiến thắng
oanh liệt mà quân dân nhà Lê đã lập nên cũng không làm mờ
được vị thế của Phật Pháp Vân trong lòng dân tộc. Vì
thế, trong Hồng đức quốc âm thi tập, vua Lê Thánh Tông đã
xưng tụng và ngợi ca Phật Pháp Vân rằng:
Dậy đức thần cơ
chí mở mang,
Công thu thu vẹn chính
triều cương.
Kính bày dờn dợn
đồ khuê bích,
Gìn giữ khăng khăng
chốn [thái?] thường.
Nhờ phúc trùng trùng
so địa hậu,
Tưởng ơn dặc dặc
sánh thiên trường.
Tỉnh phù thế nước
dường như tại,
Thăm thẳm cao trông
nữa thái dương.
Khi được bản
địa hóa, Phật Pháp Vân trở thành điểm nhấn của sáng
tạo trên cơ sở của nền văn hóa nông nghiệp và lòng phục
vụ nhân dân. Hạn chế được tính chất “vui buồn thất
thường” của hệ thống thần bản địa.
Cũng từ hình tượng
Phật Pháp Vân mà càng về sau nhân dân càng đặt niềm tin
vào đạo Phật, nên họ có thể mường tượng ra “Tiếng
chuông kêu ba xứ, bóng tháp ngả trùm đồng”, “Đất vua
chùa làng phong cảnh Bụt”…
Có thể nói, chưa lúc
nào, sự khẳng định và niềm tin yêu của nhân dân trong lịch
sử lại dành cho đạo Phật một vị trí cao như thế. Ngoài
ra, hệ thống Tứ Pháp và các lễ hội văn hóa Phật giáo
còn cho ta hình dung đầy đủ về nền văn hoá, nghệ thuật
dân tộc suốt nhiều thế kỷ. Và Phật Pháp Vân vẫn là điểm
hội tụ tâm linh trong ý thức tôn vinh phẩm chất công hạnh
của người mẹ Việt, của nền văn hoá dân tộc, nên nhân
dân đã ví von một cách gần gũi, thân thương rằng: “Mẹ
ta hoa Phật”. Việc tạo ra hình tượng Phật Pháp Vân không
khó, cho dù có lúc cây gỗ để tạo tượng đao búa không
thể đẽo gọt. Song tạo ra hình tượng tâm linh Phật Bà Pháp
Vân trong dáng dấp người mẹ Việt thì muôn đời là sáng
tạo bất hủ của dân tộc Việt Nam.