DẤU
ẤN PHẬT GIÁO
TRÊN NHỮNG
NẺO ĐƯỜNG TRUNG HOA
TRẦN
ĐỨC TUẤN
“Những quốc gia
mà chúng tôi viếng thăm đều là những xứ sở Phật giáo
điển hình. Những nẻo đường mà chúng tôi đặt chân đều
dày đặc những dấu tích của nền văn hóa Phật giáo, từ
lịch sử cho tới kiến trúc, tín ngưỡng, nghệ thuật, truyền
thuyết dân gian… Đối với chúng tôi, đó thực sự là những
chuyến đi để đời, có một không hai, đã đem lại nhiều
thông tin lạ lùng và lý thú…”
Từ năm 2000 đến năm
2004, Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã lần lượt
cử 8 đoàn làm phim sang Turng Quốc, Mianmar, Lào, Thái Lan và
Campuchia (riêng ở Trung Quốc có 5 đoàn) để làm 3 bộ phim
tài liệu theo dạng ký sự đường dài, gồm: Trung Hoa du ký,
35 tập (đã hoàn thành và trình chiếu 23 tập); Những nẻo
đường Trung Hoa, 10 tập (đã hoàn thành và trình chiếu 9 tập);
và Mê Kông ký sự 85 tập (đã hoàn thành và trình chiếu 19
tập).
Tôi có may mắn được
tham gia tất cả các chuyến đi trên. Đối với chúng tôi,
đó thực sự là những chuyến đi để đời, có một không
hai, bởi đại bộ phận các lộ trình đều không nằm trên
các tuyến du lịch sẵn có mà được kiến tạo theo yêu cầu
của nội dung phim. Chính những hành trình “không giống ai”
đó đã đem lại nhiều thông tin lạ lùng và lý thú.
Cả năm quốc gia mà
chúng tôi viếng thăm đều là những xứ sở Phật giáo điển
hình. Những nẻo đường mà chúng tôi đặt chân đều dày
đặc những dấu tích của nền văn hóa Phật giáo, từ lịch
sử cho tới kiến trúc, tín ngưỡng, nghệ thuật, truyền thuyết
dân gian…
Đoàn làm phim đặt chân
lên đất nước Trung Hoa mênh mông, huyền bí, một trong những
cái nôi của nền văn minh nhân loại.
Về miền viễn Tây Trung
Hoa, nơi mà du khách đến đây còn rất ít ỏi, chúng tôi chú
ý tới một số địa danh nổi tiếng trong lịch sử như Trường
An, Hành lang Hà Tây, Con đường tơ lụa, Hành trình thỉnh
kinh của Đường Tam Tạng, Trung tâm nghệ thuật Phật giáo
Đôn Hoàng…
Cố đô Trường
An
Đây là kinh đô nổi
tiếng nhất của đế quốc Trung Hoa xua, đặc biệt là hai
triều đại Hán, Đường hùng mạnh. Phật giáo từ Ấn Độ,
theo con đường tơ lụa thâm nhập vào Trung Hoa từ thời Lưỡng
Hán, vì vậy, có thể nói Trường An là một trong những địa
phương quan trọng nhất tiếp xúc với nền văn hóa lừng danh
này ngay từ buổi ban mai.
Chúng tôi tới Tây An
(Trường An cổ), thủ phủ của tỉnh Thiểm Tây, bằng xe lửa,
từ cố đô Nam Kinh, qua các địa danh lừng lẫy trong lịch
sử
như Từ Châu phủ, Khai Phong phủ, Trịnh Châu và Lạc Dương,
loạt đô thị cổ nằm ngay phía Nam sông Hoàng Hà (trên bờ
Hữu Ngạn).
Trường An là một đô
thị lộng lẫy được quy hoạch rất nghiêm ngặt theo cấu
trúc điển hình của một kinh thành cổ bao bọc lấy hoàng
thành và hoàng cung ở giữa(1). Trong hàng loạt những di sản
nổi tiếng như Hoàng Thành (thành cổ Tây An), Cung Hoa Thanh
dưới chân dãy Ly Sơn của Đường Minh Hoàng và Dương Quý
Phi, lăng mộ Tần Thủy Hoàng và hầm tượng đồng binh mã,
sông Vị Thủy Hà, nơi Khương Tử Nha (Lã Vọng) ngồi câu
cá… có một di tích Phật giáo có giá trị văn hóa to lớn,
đó là chùa Đại Nhạn, nơi Đường Huyền Trang đã tàng trữ
những bộ kinh Phật được đem về từ Tây Trúc và tổ chức
dịch ra chữ Hán. Trường An chính là điểm xuất phát của
“Con đường tơ lụa” thời cổ đại, nơi xuất phát của
“Hành lang Hà Tây” nổi tiếng, cũng là nơi mà từ đó Huyền
Trang lên đường đi thỉnh kinh. Khi ông trở về, Đường Thái
tông Lý Thế Dân đã cùng hoàng hậu, thái tử, công chúa và
bá quan triều đình thân hành tổ chức trọng thể lễ đón
tiếp tưng bừng kéo dài cả cây số với sự tham dự của
hàng trăm ngàn người. Đó là lúc mà Đường Tam Tạng và
đoàn tùy tùng của ông hưởng trọn niềm vinh quang sau bao
năm gian khổ.
Đại Nhạn là ngôi chùa
rất lớn, nằm ngay giữa kinh thành, có khuôn viên rộng và
nhiều hạng mục công trình bề thế. Đặc biệt chùa có ngôi
tháp lớn rất cao, từ xa nhiều cây số mọi người đều
có thể nhìn thấy.
Hành lang Hà Tây
Hành lang Hà Tây được
xem là đoạn đầu tiên của con đường tơ lụa, kéo dài từ
kinh đô Trường An qua miền Trung Á, Tây Á tới tận vùng Địa
Trung Hải. Hành lang này bắt đầu từ Trường An qua Lan Châu,
Vũ Uy, Tửu Tuyền, Gia Dụ Quan tới Đôn Hoàng, Ngọc Môn Quan…
Đó là tuyến giao thông nằm ở phía Tây sông Hoàng Hà, phía
Bắc dãy núi tuyết K? Liên Sơn và phía Nam dãy Mã Tung Sơn
nhấp nhô, trùng điệp. Chính trên tuyến đường huyết mạch
này mà Trương Khiên đời Hán và Huyền Trang đời Đường
- một người là nhà chính trị, quân sự, ngoại giao và một
người là cao Tăng - đã thực hiện những chuyến Tây du nổi
tiếng trong lịch sử. Họ thực sự là những nhà thám hiểm
kỳ tài, bằng sứ mệnh của mình, họ đã để lại cho hậu
thế một di sản văn hóa có giá trị vô cùng to lớn.
Chúng tôi tới Gia Dụ
quan không phải từ Tây An ở phía Đông mà từ Urumxi và Tô
lô phan ở phía Tây dưới chân núi Thiên Sơn hùng vĩ. Chuyến
đi này cũng bằng xe lửa. Từ Urumxi, thủ phủ của Khu tự
trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, đi xe hơi tới bồn địa Tô lô
phan rồi tiếp xe lửa vượt sa mạc Gô bi rộng mênh mông để
tới Gia Dụ quan. Con đường tơ lụa khi xưa cũng gần với
tuyến thiết lộ hoang vắng này. Ngồi trên xe lửa băng băng
chỉ thấy mênh mông một màu sỏi cát khô cằn chìm trong nắng
lửa, không một bóng cây. Vậy mà xa xưa, thầy trò Đường
Tăng đã lặn lội khăn gói qua đây, qủa là ngoài sức tưởng
tượng. Mùa Hè thì đây là một chảo lửa còn mùa Đông thì
giá
lạnh hơn cả băng tuyết. Thời cổ đại, các thương gia và
các nhà truyền giáo thường dùng lạc đà để vượt sa mạc
nhưng cũng hết sức mạo hiểm. Vùng này cực kỳ hoang vắng,
hàng tram cây số không hề thấy xóm làng. Hành khách trên
xe lửa cũng chẳng có bao nhiêu, thỉnh thoảng xuất hiện một
nhà ga vắng bóng người.
Gia Dụ quan
Gia Dụ quan hiện là
một thành phố du lịch nổi tiếng của tỉnh Cam Túc, một
trung tâm về lĩnh vực tên lửa vũ trụ của Trung Quốc. Ngoại
ô gia Dụ quan có trấn Tửu Tuyền (suối rượu) nổi tiếng
trong lịch sử các cuộc viễn chinh của các hoàng đế Trung
Hoa. Từ thời xa xưa nơi đây là một ải quan trọng yếu trên
con đường huyết mạch, vừa để buôn bán vừa để hành
quân của các vương triều Hán ở Trung nguyên. Bên ngoài thành
phố hiện còn một khu pháo đài cổ nguyên vẹn, trông rất
bề thế. Đoạn Vạn Lý Trường Thành tại Gia Dụ quan có
tên là Tây bộ Bát Đạt Lĩnh Trường Thành, ý nói phần phía
Tây của Bát Đạt Lĩnh là khu trường thành diễm lệ và kỳ
vĩ nhất ở ngoại ô Bắc Kinh. Riêng vai trò ải quan, xưa kia
nơi đây được gọi là “Hà Tây đệ nhất ải khẩu” và
“Thiên hạ đệ nhất hùng quan” do vị trí chiến lược
và cảnh quan hùng vĩ của nó. Đây cũng là một cửa ải mà
thầy trò Đường Tăng đã dừng chân rồi tiếp tục lộ trình.
Từ đây, ông và đoàn tùy tùng phải tới Đôn Hoàng trước
khi vượt Ngọc Môn quan để tiến về Tây Vực.
Từ phía Gia Dụ quan,
chúng tôi đi xe hơi ngược trở lại phía Tây theo hành lang
Hà Tây để tới Đôn Hoàng. Đây là đoạn đường rất đặc
trưng, dài khoảng trên 300 cây số, xưa kia nó thuộc miền
biên ải xa xôi cực kỳ hẻo lánh. Tại đây, lần đầu tiên
chúng tôi được tận mắt ngắm nhìn những Phong Hỏa đài
bằng đất mà trước kia chỉ biết tới qua sách báo. Nhìn
chúng thật thô ráp, mộc mạc, trơ vơ giữa sa mạc nhưng rất
kiên cố và cao lênh khênh giữa bầu trời. đó là những trạm
thông tin quân sự thời cổ đại. Khi có giặc xâm lấn biên
thùy, người ta đốt lửa, khói bốc cao nghi ngút. Ban ngày
thì nhìn khói, ban đêm thì nhìn lửa. Các trạm phía trong khi
nhìn thấy khói lửa thì lần lượt cùng đốt lên, cứ thế,
chẳng bao lâu tin có giặc sẽ lan truyền tới đại bản doanh
hoặc kinh đô. Trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn có
câu: “ Cổ bề thanh động tràng thành nguyệt, Phong Hỏa ảnh
chiếu Cam Tuyền vân”, Đoàn Thị Điểm dịch là: “Trống
trường thành lung lay bóng nguyệt, Khói cam tuyền mờ mịt
thức mây” chính là để nói về cảnh báo động giặc giã
trên đoạn trường thành ở miền biên ải Tửu Tuyền, Cam
Túc này.
Đôn Hoàng
Đôn Hoàng là một thành
phố của hoang mạc Gô bi, mọi người sống được là nhờ
vào nguồn nước tuyết dồi dào trên núi Kỳ Liên. Từ xa
xưa nơi đây đã là một “lục châu” trù phú (lục châu
là miền đất đầy cây xanh tươi tốt). Đây là một thành
phố văn hóa và du lịch. Từ thời Thuấn-Vũ vùng này đã
có cư dân du mục, tới đời Hán thì nông nghiệp phát triển
do chính sách di dân lên Tây Bắc của triều đình. Người
Hán tới xây dựng các công trình thủy lợi đưa nước từ
Kỳ Liên Tuyết sơn xuống để canh tác. Vì vậy, nước sông
Đẳng Hà và nước tuyết Kỳ Liên là nguồn sống của vùng
Đôn Hoàng và cả miền Tây bộ Cam Túc. Vùng đất Đôn Hoàng
hoang vu tới mức thành phố quản lý tới 31.000 cây số vuông,
trong khi dân số chỉ có 124 ngàn, bằng dân số một huyện
ở Việt Nam. Sống cộng cư tại đây gồm các dân tộc Hán,
Mông Cổ, Tây Tạng, Hồ Tiên, Mãn, Thổ…
Có thể nói, 31.000 cây
số vuông mà Đôn Hoàng quản lý là một tập hợp những kỳ
quan thiên nhiên và văn hóa đặc sắc, nơi có hệ thống hang
động Mạc Cao, một kho tàng nghệ thuật Phật giáo siêu đẳng
với những giá trị tiêu biểu làm nên nền văn hóa Đôn Hoàng
rực rỡ; là nơi Đường Huyền Trang ra khỏi đất Hán để
vào Tây Vực; có Ngọc Môn quan, Dương quan, những biên ải
lừng danh đã gắn chặt với tên tuổi của những nhà thơ
Đường nổi tiếng như Vương Duy, Vương Chí Hoán…
(1) Vào các thế kỷ
VIII, IX, Kinh đô nhà Đại Đường được coi là đô thị lớn
nhất thế giớ i thời bấy giờ.
Kỳ tới:
Hang động Mạc Cao
- Núi Minh Sa – Hồ Nguyệt Nha - Dương Quan - Ngọc Môn Quan