NHÂN
QUẢ
NGUYỄN
ĐĂNG TRUNG
Nguyên lý nhân quả
trong đời sống diễn ra trong tiến trình mà phần biết và
phần được biết chỉ là sự phân lập từ một tổng thể
chung là cái biết, cho nên hiện tượng mà nó tạo ra sẽ được
gọi là hiện tượng nội sinh, một hiện tượng mà danh
từ Phật học gọi là nghiệp (kamma). Hiện tượng này không
do một đấng quyền năng tối cao hay một thế lực siêu nhiên
nào chi phối, nên nhân quả được xem như một nguyên
lý quan trọng nhất của đời sống, khi các vấn đề của
đời sống được tìm hiểu từ trong bản chất của nó.
Sẽ rất khó khăn, đến
mức không thể thực hiện được, nếu dịch ngắn gọn tựa
đề của bài viết này sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga
hoặc tiếng Đức… Bởi vì nhân quả trong tiếng Việt là
một từ đa nghĩa.
Trong nghĩa thứ nhất,
nhân quả là một phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ nguồn
gốc tất yếu của các hiện tượng, trong đó hiện tượng
này (được gọi là nguyên nhân) sản sinh ra hiện tượng khác
(được gọi là kết quả). Ở đây hiện tượng được hiểu
là cái diễn ra mà con người bình thường có thể nhìn nhận,
cảm nhận hoặc tự nhận thức được.
Có vô số thứ đang
diễn ra, nhưng có thể phân cái diễn ra thành ra hai loại:
cái diễn ra khi có tương tác giữa các đối tượng, và cái
diễn ra trong bản thân đối tượng khi nó đang vận động.
Do đó mối liên hệ nguồn gốc tất yếu trong hai loại hiện
tượng này tất nhiên sẽ khác nhau.
Tương tác là tác động
qua lại giữa các đối tượng, là quá trình các đối tượng
ảnh hưởng lẫn nhau, là một hình thức vận động, phát
triển, chung nhất và phổ biến nhất mà người bình thường
nhận thấy được. Quá trình tương tác làm thể hiện đặc
tính [nhìn thấy được] của các đối tượng tham gia tương
tác, và chính quá trình tương tác ấy xác lập mối quan hệ
nhân quả. Do đó mối liên hệ nguồn gốc tất yếu trong quan
hệ giữa các đối tượng được gọi là quan hệ nhân quả,
tức là có nguyên nhân (cause) và có kết quả (effect).
Trong quan hệ nhân quả,
người ta có thể phân biệt nguyên nhân đầy đủ, nguyên
nhân đặc thù và nguyên nhân cuối cùng. Nguyên nhân đầy
đủ là tập hợp tất cả các điều kiện mà khi có chúng
thì nhất thiết xuất hiện kết quả. Nguyên nhân đặc thù
là nhóm điều kiện chính yếu trong số các điều kiện cần
có để làm xuất hiện kết quả. Nguyên nhân cuối cùng là
điều kiện cuối cùng của một tập hợp điều kiện mà
khi có nó thì kết quả lập tức xuất hiện.
Quan hệ nhân quả trong
các tương tác diễn ra tức thời. Nếu một kết quả chỉ
do một nguyên nhân thì ngay khi có điều kiện nguyên nhân,
lập tức có kết quả. Nếu một kết quả do nhiều nguyên
nhân và các nguyên nhân không diễn ra cùng lúc, thì khi nguyên
nhân cuối cùng diễn ra, tức là khi có đầy đủ các nguyên
nhân, kết quả lập tức xuất hiện.
Ý nghĩa thứ hai của
nhân quả được khoa học đề cập trong các nghiên cứu thế
giới vi mô. Với việc E. Rutherford khám phá ra nguyên tử vào
năm 1911 và với các thí nghiệm của N. Bohr năm 1913, người
ta nhận thấy rằng khi một nguyên tử đưa ra một điện tích
thì nó có khuynh hướng thu về một điện tích cùng dấu.
Nội dung của hiện tượng
này xác định khuynh hướng của riêng một hệ sau khi đưa
ra một vận hành, trong đó việc “đưa ra một điện tích”
đóng vai trò là nguyên nhân (cause) còn “khuynh hướng thu về
một điện tích cùng dấu” đóng vai trò là kết quả (effect).
Đây là diễn biến bên trong một đối tượng chứ không phải
là tác động qua lại giữa các đối tượng, do đó nó không
được gọi là “quan hệ”, mà được gọi là “nguyên lý”
- nguyên lý nhân quả.
Nguyên lý này khẳng
định hai nội dung: “đưa ra thì thu về”, và “cùng dấu”.
Với điều đó, hình thái của hệ vật chất vi mô sẽ hoàn
toàn không có gì thay đổi sau khi đã đưa ra và thu lại một
số điện tích như nhau.
Liên quan đến việc
“đưa ra” và “thu về”, khoa học nhận thấy rằng khi
được cung cấp năng lượng từ bên ngoài, các electron không
chuyển động ra xa hạt nhân một cách liên tục mà gián đoạn
theo từng bước nhảy, từ quỹ đạo gần hạt nhân sang quỹ
đạo xa hạt nhân. Điều này có nghĩa là các electron chỉ
chuyển quỹ đạo khi đạt đến một mức năng lượng đủ
lớn nào đó.
Ý nghĩa thứ ba của
nhân quả thuộc về nhận thức của Phật học, được xem
như một nguyên lý quan trọng nhất của đời sống, khi
các vấn đề của đời sống được xem xét từ trong bản
chất của nó. Vấn đề nhân quả trong Phật học có liên
quan đến một số nội dung nhận thức sau đây:
1. Trong đời sống, con
người nhận biết về bản thân mình và thế giới xung quanh
mình bằng năm giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và hoạt
động tư duy của ý thức, trong đó năm giác quan làm nhiệm
vụ tiếp nhận và truyền đạt các thông tin từ bên ngoài
còn ý thức làm nhiệm vụ xử lý thông tin và đưa ra một
quyết định. Các nghiên cứu khoa học xác nhận rằng các
tín hiệu kích thích ở đầu vào của các giác quan bị méo
dạng trong quá trình phân cực lan truyền dọc theo các axon
thần kinh. Dạng biến đổi mức phân cực trong các axon - tương
ứng với cái biết ở các giác quan, hay còn được gọi là
sự hưng phấn - hoàn toàn khác với dạng của các kích thích
bên ngoài.
Vì bản chất vận động
truyền đạt tín hiệu trong các axon thần kinh ở các giác
quan không phải là chuyển động cơ học mà là hiện tượng
lan truyền cảm ứng phân cực điện nên cái biết ở mắt
gắn với trạng thái phân cực điện trên thành axon, khi bị
méo dạng so với kích thích, thì sự méo dạng đó không phải
là méo dạng hình học hay sai lạc gam màu. Sự méo dạng ở
đây cũng không chỉ bao gồm sự hạn hẹp trong phạm vi dải
tần mà các giác quan có khả năng cộng hưởng (ví dụ như
mắt không cộng hưởng được với các tần số ánh sáng
bên ngoài dải đỏ hoặc bên ngoài dải tím). Do vậy, một
cách nghiêm túc và thận trọng, không được phép kết luận
rằng có một hình ảnh đích thực nào đó, nhưng qua sự truyền
đạt không trung thực mà mắt thấy thành ra hình ảnh đang
thấy. Và tương tự vậy, không được nói rằng có một âm
thanh đích thực nào đó nhưng qua sự truyền đạt không trung
thực mà tai nghe thành ra âm thanh đang nghe, có mùi đích thực
nào đó nhưng qua sự truyền đạt không trung thực mà mũi
ngửi thành ra mùi đang ngửi, có vị đích thực nào đó nhưng
qua sự truyền đạt không trung thực mà lưỡi nếm thành ra
vị đang nếm, có các tiểu thể xúc giác đích thực nào đó
mà thân cảm nhận thành ra đối tượng xúc giác.
Chỉ có thể nói rằng:
Có “những cái gì đó” gây ra kích thích và do sự truyền
đạt không trung thực mà các giác quan biến đổi chúng thành
cảm nhận hình ảnh ở mắt, cảm nhận âm thanh ở tai, cảm
nhận mùi ở mũi, cảm nhận vị ở lưỡi và cảm nhận đối
tượng xúc giác trên thân.
Trong Phật học, hiện
tượng không truyền đạt các kích thích một cách trung thực
trong các giác quan gọi là sự không nhìn nhận được (anidassana
- vô kiến); hiện tượng truyền đạt không trung thực gọi
là sự đối chiếu theo (sappatigha - hữu đối chiếu).
Ta biết rằng, nếu một
người nhìn một vật thể qua một tấm kính lồi lõm thì
hình ảnh méo mó mà người đó thấy được là hình ảnh
do tấm kính đem lại, vật chất cấu thành hình ảnh méo mó
đó là vật chất của tấm kính, chứ không phải là hình
ảnh hay vật chất của vật thể.
Khi truyền đạt không
trung thực thì các khâu truyền đạt trong các giác quan đóng
vai trò như là những tấm kính lồi lõm. Do vậy mọi đối
tượng vật chất mà con người cảm nhận như là các đối
tượng thuộc khách thể bên ngoài chỉ là các hình thái đối
tượng cụ thể hóa (vinnana - thức), và là hình thái vật
chất (rupadhamma - sắc pháp) của cái biết ở các giác quan.
Ngoài các đối tượng
vật chất, con người còn biết về các đối tượng phi vật
chất (đối tượng phi vật thể), là các đối tượng không
có hình thể, không được cảm nhận ở năm giác quan, chỉ
có khái niệm và tên gọi, được biết bởi ý nghĩ. Chúng
là hình thái phi vật chất của cái biết, gọi là hình thái
định danh (namadhamma - danh pháp), và cũng là các hình thái
đối tượng cụ thể hóa (vinnana - thức).
Nhưng ngay cả các giác
quan cùng với thân xác vật chất của con người cũng là các
vật thể, là các đối tượng vật chất trong sự cảm nhận
của con người (ta nhìn thấy có các thân xác vật chất, có
các giác quan), cho nên cùng với mọi đối tượng khác, chúng
không thật.
Điều này có nghĩa là
mọi thế giới chỉ là các trạng thái biến đổi của cái
biết (citta - tâm) và mọi đối tượng (dhamma - pháp) chỉ
là các hình thái đối tượng cụ thể hóa (vinnana - thức)
trong cái biết - “Thế giới duy tâm biến hiện. Mọi pháp
duy thức”.
Trong các hệ thống tương
đối, cái biết phân lập thành hai phần: phần biết (darsababhaga
- kiến phần) được nhìn thấy như là chủ thể, và phần
được biết (minittabhaga - tướng phần) được nhìn thấy
như là khách thể trong một hệ thống đồng nhất là cái
biết - và đó là cái biết tương đối.
Khi là cái biết tương
đối, mọi cá thể có cái biết đều biết về các đối
tượng như là có thật, và cảm nhận chúng như là khách thể,
vì trong cái biết có thành phần tưởng thật (sannacetasika
- tưởng tâm sở). Thành phần tưởng thật và tình trạng
không sáng tỏ (avijja - vô minh) của cái biết tạo ra hiện
tượng khách thể hóa.
2. Từ một phương diện
khác, khi đi vào bản chất của đời sống thì toàn bộ thế
giới vật chất được nhìn thấy trong hệ thống vi mô được
lấp đầy bởi các vi hạt. Trong thế giới vật chất vi mô
không có sự phân biệt ra từng con người cụ thể hay từng
đối tượng cụ thể, vốn vô cùng đa dạng và phong phú trong
cái biết ở hệ thống vật chất vĩ mô. Nhưng điều này
không có nghĩa là trong thế giới vi mô không tồn tại các
cá thể có cái biết (sattva - chúng sinh) riêng rẽ. Ở đó,
từng cá thể có cái biết vẫn tồn tại và chỉ có thể
được xác định theo các tập hợp đặc thù của chúng; và
vì các tập hợp đó không nhìn thấy được ở hệ thống
vĩ mô nên chúng được gọi là các tập kín (khandha - uẩn).
Trong thế giới mà con người đang tồn tại (thế giới dục
vọng - kammavacara) từng cá thể có cái biết được xác định
bởi năm tập kín (pancakhandho - ngũ uẩn): tập hình thái vật
chất (rupakhandho - sắc uẩn), tập cảm nhận (vedanakhandho -
thụ uẩn), tập tưởng thật (sannakkhandho - tưởng uẩn), tập
vận hành (sankharakhandho - hành uẩn) và tập hình thái đối
tượng cụ thể hóa (vinnanakhandho - thức uẩn).
Khi phần được biết
(được nhìn thấy như là khách thể) có các biến động tạo
thành các kích thích tác động lên phần biết (được nhìn
thấy như là chủ thể) thì trong phần biết có sự cảm nhận
và hoạt động vận hành phản ứng. Vì phần biết và phần
được biết là do sự phân lập của một tổng thể duy nhất
là cái biết nên chúng không thể được xem như hai đối tượng
biệt lập; và do đó sự cảm nhận và vận hành phản ứng
không thể được xem như là quan hệ tương tác giữa hai đối
tượng độc lập mà phải được hiểu là diễn biến diễn
ra trong nội bộ của một hệ khép kín - một cá thể có cái
biết .
3. Ngoài ra, trong từng
cá thể có cái biết đều có hiện tượng lưu giữ thông
tin. Khoa học ngày nay đã biết về hiện tượng lưu giữ thông
tin ở một cơ cấu vật chất đặc biệt trong cơ thể người,
gọi là gène. Hiểu biết ngày nay của khoa học còn rất sơ
sài và phiến diện. Sơ sài vì mới biết về sự lưu trữ
các thông tin ở hình thái vật chất mà chưa biết đến sự
lưu trữ các thông tin ở hình thái phi vật chất. Phiến diện
vì chỉ mới biết về sự lưu trữ mà chưa biết đến sự
phát khởi.
Quan điểm của Phật
học (được Đức Phật thuyết giảng cách đây hơn 2500 năm)
khác với nhận thức của khoa học ngày nay ở chỗ có sự
khẳng định rằng trong các cá thể có cái biết không chỉ
có hiện tượng lưu giữ thông tin mà còn có hiện tượng
phát khởi những thứ có nguồn gốc từ các thông tin đã
được lưu trữ. Theo Phật học, hiện tượng lưu giữị và
phát khởi diễn ra ở thể alaya (alaya - tàng thức). Thể alaya
được trình bày như một thể mang lưỡng tính sóng hạt.
Về nguyên lý, khi phần
biết vận hành phản ứng trước các kích thích phát sinh do
các biến động từ phần được biết thì thông tin về nội
dung và tính chất của các vận hành phản ứng ấy (ý nghĩ,
lời nói và hành động) được đưa vào lưu trữ ở thể
alaya dưới dạng sóng dao động (vasana - tập khí). Sự lưu
giữ được thực hiện dưới hình thức tổng hợp dao động,
giống như kết quả phép cộng dao động của J.B.Fourier. Sau
một thời gian lưu trữ, các thông tin đó phát khởi, làm phát
sinh các biến động ở phần được biết, tiếp tục kích
thích tác động trở lại vào phần biết. Do lưỡng tính sóng
hạt nên cái phát khởi ra từ thể alaya được nhìn thấy
là các vi hạt (bija - chủng tử), đóng vai trò là cơ sở cấu
thành trường hoàn cảnh, tức là những thứ được nhìn thấy
như là các đối tượng và diễn biến của chúng ở môi trường
khách thể.
Thông tin khi đưa vào
lưu trữ ở thể alaya không phát khởi ngay mà có một thời
gian lưu trữ nhất định nào đó. Điều này cũng tương tự
như hiện tượng chuyển quỹ đạo của các electron: phải
có một sự tích lũy đủ lớn mới có được một bước
nhảy phát khởi.
4. Việc các thông tin
về vận hành phát khởi tạo thành trường hoàn cảnh có liên
quan đến các chu trình đời sống (kappa - kiếp) trong các hệ
thống tương đối. Một mặt, sự tích lũy và phát khởi diễn
ra song song, liên tục trong suốt chu trình đời sống; nhưng
mặt khác sự phát khởi không diễn ra một cách tùy tiện
hoặc theo trình tự tích lũy, mà theo một chương trình được
định sẵn. Việc lập trình chỉ diễn ra một lần cho một
chu trình sống, được tiến hành vào giai đoạn cận tử của
chu trình sống kế trước.
Trong giai đoạn cận
tử, toàn bộ các thông tin về các vận hành trong chu trình
sống vừa qua được đưa vào lưu trữ ở thể alaya cùng với
các thông tin còn sót lại từ các chu trình sống quá khứ,
thực hiện việc lập trình chi tiết toàn bộ nội dung và
tính chất của hoàn cảnh đời sống cho chu trình sống tiếp
sau. Điều này có nghĩa là nội dung và tính chất của mọi
hoàn cảnh trong một chu trình sống của mọi cá thể có cái
biết đều đã được định trước. Nhưng sự định trước
này là do nội dung và tính chất của các vận hành trong quá
khứ của chính từng cá thể ấy quy định, chứ không phải
do đấng tối cao hay một thế lực siêu nhiên nào khác quyết
định.
Do được lưu trữ trong
cùng một thể, nên các thông tin lưu trữ có sự trao đổi
thành phần với nhau, làm cho giữa nội dung thông tin lưu trữ
và nội dung trường hoàn cảnh phát khởi không có sự tương
ứng giống hệt nhau, mà có sự biến đổi sai khác (vikapa
- dị thục). Ngoài ra, các sự kiện trong chương trình định
sẵn cho một chu trình đời sống có thể thay đổi mức độ
của tính chất do có sự bổ sung liên tục các thông tin về
các vận hành đang không ngừng diễn ra trong chu trình sống
hiện tại (vì tính chất của các vận hành hiện tại khi
đưa vào lưu trữ có thể trao đổi với tính chất của các
sự kiện định sẵn).
Như vậy, khi một chủ
thể vận hành tác động vào các đối tượng thuộc về môi
trường khách thể thì quan hệ nhân quả diễn ra tức thời
và nhìn thấy được. Trong khi đó, thông tin về nội dung và
tính chất của các vận hành của chủ thể (phần biết) được
đưa vào lưu trữ ở thể alaya. Sau một thời gian lưu trữ,
sự phát khởi các chủng tử từ thể alaya sẽ tạo thành
hoàn cảnh cho chính chủ thể trong tương lai, tương ứng về
tính chất nhưng không giống hệt về nội dung. Nếu chủ thể
đưa ra một vận hành đúng tốt (kusala - thiện) thì chủ thể
có khuynh hướng thu nhận lại một hoàn cảnh tốt đẹp trong
tương lai; nếu chủ thể đưa ra một vận hành sai xấu (akusala
- bất thiện) thì chủ thể có khuynh hướng thu nhận lại
một hoàn cảnh xấu dở trong tương lai. Đó là nguyên lý nhân
quả trong đời sống.
Trong nguyên lý nhân quả
của đời sống, vận hành của chủ thể (bao gồm suy nghĩ,
nói và hành động) đóng vai trò là “cái nhân” (nucléus),
còn hoàn cảnh tương lai đóng vai trò là “cái quả” (fruit).
Nguyên lý nhân quả không diễn ra tức thời, người bình thường
không nhìn thấy được. Sở dĩ tiếng Việt gọi nguyên lý
này là “nhân quả” vì nó mô tả một hiện tượng giống
như tiến trình phát triển của một hạt mang cái nhân, được
gieo trồng. Cái hạt đó cần có một thời gian dài tiếp nhận
thêm nhiều yếu tố bổ sung khác, biến đổi và phát triển
để tạo thành cái quả. Do có sự tham gia của nhiều yếu
tố tạo ra sự biến đổi sai khác trong tiến trình phát triển,
nên nội dung của “cái quả” không hoàn toàn giống nội
dung của “cái nhân” trong khi tính chất thể hiện ở chủng
loại thì tương ứng hoàn toàn với nhau (tốt đẹp tương
ứng với đúng tốt, và xấu dở tương ứng với sai xấu)
- nhân nào thì quả ấy.
Do nguyên lý nhân quả
trong đời sống diễn ra trong tiến trình phát triển của riêng
một hệ (vì phần biết và phần được biết chỉ là sự
phân lập từ một tổng thể chung là cái biết), cho nên hiện
tượng mà nó tạo ra sẽ được gọi là hiện tượng nội
sinh (le phénomène endogène), một hiện tượng mà danh từ Phật
học gọi là nghiệp (kamma). Hiện tượng nội sinh (kamma - nghiệp)
diễn ra một cách tự nhiên, không do một đấng quyền năng
tối cao hay một thế lực siêu nhiên nào chi phối.
Phật học được du
nhập vào Việt Nam từ hàng ngàn năm trước và đã trở thành
một phần rất quan trọng trong nhận thức truyền thống của
dân tộc Việt Nam. Trước khi tiếp nhận ảnh hưởng của
nền văn minh Phương Tây, người Việt ta đã có một trình
độ nhận thức rất cao. Ít ra, trong phạm vi những vấn đề
mà bài viết này đề cập, trình độ của dân tộc Việt
Nam chúng ta từ hàng ngàn năm trước vẫn cao hơn hẳn trình
độ của khoa học ngày nay.
Về ngôn ngữ, lẽ ra
mối quan hệ giữa “cause” và “effect” nên được gọi
là quan hệ giữa lý do và thành sự, vì trong mối quan hệ
đó không có sự phát triển của “nucléus” để tạo thành
“fruit”. Nguyên nhân là cái nhân nguyên trạng ban đầu trong
cái hạt được gieo trồng. Kết quả là cái quả được kết
thành từ cái nhân ban đầu ấy.