Nghệ sĩ Bạch
Tuyết:
Phật
Giáo,
Chất Men Thúc
Đẩy
Lòng Hướng
Thiện
Của Con Người…
Hơn bốn mươi năm
hoạt động không mệt mỏi trên sàn diễn ca kịch cải lương,
từ hai lần đạt giải Thanh Tâm (1963-1965) đến ngôi vị ‘Cải
lương chi bảo’, hiện nay, Bạch Tuyết là một trong những
nghệ sĩ ưu tú của nền nghệ thuật sân khấu dân tộc. Vẫn
là những thanh âm truyền cảm, lôi cuốn, Bạch Tuyết đã
xuất hiện qua ba tác phẩm trường ca cải lương mang đề
tài Phật giáo…
Nhiều vấn đề
nội dung tư tưởng trong nghệ thuật cải lương mà chị trao
đổi có mang hơi thở của Phật giáo. Theo chị, đạo Phật
có ảnh hưởng tới nghệ thuật truyền thống như
thế nào?
Phần lớn những yếu
tố hình thành tư tưởng triết lý trong hầu hết các vở
diễn xuất phát từ tinh thần Bi, Trí, Dũng của đạo Phật.
Theo nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật sân khấu truyền thống
trong cũng như ngoài nước, ở Việt Nam thời Lý-Trần, ngôi
chùa là trung tâm văn hóa của cả cộng đồng, nơi biểu diễn
các loại hình sân khấu cổ truyền đậm tính chất dân gian,
thấm đượm hương vị Phật giáo. Sử chép rằng các vua Lý-Trần
đã nhiều lần xuống chiếu đại xá cho các tội phạm biết
ăn năn hối cải, miễn giảm thuế cho dân bị thiên tai địch
họa. Tinh thần Phật giáo luôn biểu hiện lòng nhân ái, lượng
bao dung, đức hiếu sinh (từ bi, hỉ xả), lấy hạnh phúc con
người và sự giải thoát làm mục đích, không phân biệt
già trẻ trai gái, cao thấp sang hèn. Tư tưởng Phật giáo thông
qua các tác phẩm sân khấu đã khuyến khích con người sống
hướng thiện, tự ý thức, hành động, tự hoàn thiện và
nhất là tự định đoạt lấy số phận mình. Như vậy, nghệ
thuật sân khấu truyền thống thời Lý-Trần chan hòa tinh thần
Phật giáo, nhân vật trung tâm xuất hiện trước khán giả
là để chuyển tải ý niệm nhân ái, bao dung và tư tưởng
cốt tủy của một tôn giáo được Việt hóa qua cuộc đời
vĩ đại của đức vua Trần Nhân Tông, người mở lối cho
Thiền tông Việt Nam hiện diện một cách tự hào trong ngôi
nhà Phật giáo thế giới. Sân khấu lúc bấy giờ hướng về
tinh thần bất khuất của các vị cao tăng đạo cao đức trọng,
có tư tưởng Phật học uyên thâm, yêu nghệ thuật, yêu dân
tộc…, mà từ nguồn cội này sân khấu truyền thống dân
tộc đã đi sâu thấm dần vào tâm thức của dân chúng, hình
thành sự rung cảm đồng điệu giữa người thưởng ngoạn
và người làm nghệ thuật chân chính của mọi thời đại.
Sự rung cảm đồng
điệu ấy được minh họa ra sao trong nghệ thuật cải
lương?
Sân khấu ca kịch cải
lương Việt Nam hình thành từ những năm đầu của thế kỷ
XX, trong đó, chủ đề Phật giáo được khai thác thiên về
tính giáo dục. Những vở diễn đã được công chúng cũng
như Phật tử đón nhận nồng nhiệt và phần nào thỏa mãn
được cách lý giải và trình bày giáo lý của Đức Phật
về thuyết “Nhân quả nghiệp báo”. Nhiều vở diễn mang
đề tài Phật giáo vẫn được dựng đi dựng lại trong một,
hai hoặc ba thập niên trở lại đây, tuy có sửa đổi tùy
theo thời đại nhưng vẫn chuyển tải được cái căn bản
của đạo Phật như Thiện sẽ có thiện báo, Ác sẽ có ác
báo, điều này không bao giờ sai, nếu như chưa thấy qủa
báo là vì nhân chưa đủ, duyên chưa chín, thời gian chưa đến.
Tôi muốn đề cập đến những vở như: “Tam Tạng thỉnh
kinh”, “Mục Liên Thanh đề”, “Quan Âm diệu thiện”,
“Quan Âm thị kính”… Tuy nhiên, có điều đáng tiếc là
từ thập niên 1960 trở lại đây, trong một số vở cải lương
có đề tài Phật giáo, người xem chưa đồng tình với cách
luận giải thiếu nghiêm túc, chưa chính xác của một số
tác giả không có điều kiện nghiên cứu giáo lý Phật giáo
một cách xuyên suốt, khiến cho cái nhìn về Phật giáo đôi
khi tiêu cực, nhân vật trung tâm thường rơi vào nghịch cảnh,
rời bỏ cuộc đời nương về cửa Phật. Do vậy, tính chất,
nhập thế, giải thoát vốn thuộc về cốt tủy của đạo
Phật đã ít nhiều bị hiểu sai lạc… Nhưng tựu trung, trong
tiến trình giao kết, vai trò của Phật giáo đã làm chất
men thúc đẩy lòng hướng thiện của con người thông qua các
tác phẩm trên sân khấu truyền thống và người nghệ sĩ
thể hiện trước công chúng. Tư tưởng Phật giáo rõ ràng
đã trở thành cái nền vững chắc hỗ trợ sân khấu truyền
thống, cũng như trong nghệ thuật cải lương, khẳng định
tính nhân bản trong dòng văn hóa dân tộc.
Nghe nói chị đã
chuyển thể bộ kinh Pháp Cú của Phật giáo thành Trường
ca Pháp Cú cải lương. Việc làm này xuất phát từ động
cơ nào?
Sau mấy chục năm theo
đạo Phật, ăn chay, ngồi thiền, tôi nghĩ giáo lý Phật giáo
rất bổ ích và thiết thực với cuộc sống. Đạo Phật giúp
tôi củng cố, nuôi dưỡng tấm lòng đối với dân tộc và
trách nhiệm của một người nghệ sĩ trong đời sống cộng
đồng. Đồng thời đạo Phật giúp tôi khẳng định ý chí,
nghị lực, tiếp sức cho tôi sống để làm tốt cho cuộc
sống, làm đẹp cho nghệ thuật cải lương.
Sau một thời gian
dài sắp xếp và chuẩn bị kỹ lưỡng, cách đây mấy năm
tôi có lên xin Hòa thượng Thích Thanh Từ (Thầy bổn sư của
tôi) để tôi thế phát xuất gia với một tinh thần hết sức
minh mẫn, an định, vui vẻ, coi như công việc đời đã xong,
và đứa con trai cũng đã trưởng thành. Thấy tôi quyết tâm
như vậy, Hòa thượng mới nói: “Con là người nghệ sĩ được
khán giả yêu thương. Cách tu tốt nhất không phải là con
trở thành một ni cô. Thầy tin con có thể làm tốt với vai
trò của một ni cô, nhưng con sẽ làm được tốt hơn nếu
như con vẫn là một nghệ sĩ, vẫn cống hiến cả cuộc đời
con cho sân khấu dân tộc và vẫn làm Phật sự như con đã
làm bao nhiêu năm nay. Như vậy, người ta càng thương người
nghệ sĩ, những Phật tử càng phấn khởi tu tập, những người
bình thường càng phấn khởi để làm nhiều việc thiện hơn.
Với đời, con sẽ làm được nhiều việc có ích. Với đạo,
con cố gắng bằng sự hiểu biết của con, dần dần đưa
giáo lý của Đức Phật vào trong những nhân vật cải lương
mà con đóng, làm thế nào để cho người ta thấy con người
càng ngày càng phải học hỏi, để sống và nâng những hiểu
biết, trí tuệ của mình lên. Mà khi con người có hiểu biết
và trí tuệ thì họ sẽ dần dần biết làm những việc thiện,
biết khuyến khích, tạo điều kiện cho những người chung
quanh mình làm việc thiện. Như thế chính con mới thấm nhuần
giáo lý của Đức Phật, và qua đó thầy tin rằng con sẽ
làm tốt”.
Tôi nghĩ Hòa thượng
đã nhận định rất đúng, bởi khi tôi quyết tâm vào chùa
là tôi mới chỉ nghĩ riêng đến mình thôi. Sau đó, tôi cảm
thấy kinh Pháp Cú rất gần với tinh thần giáo dục của Phương
Đông như trước khi thờ lạy Đức Phật thì phải thờ lạy
cha mẹ, trước khi thương Phật thì phải thương những người
nghèo khổ xung quanh mình, càng nghĩ tới Đức phật chừng
nào thì càng nên làm những việc thiện nhiều hơn nữa. Đó
là nguyên do mà tôi muốn chuyển thể kinh Pháp Cú thành một
trường ca cải lương; một là muốn giới thiệu những đề
tài truyền thống vốn rất đa dạng, phong phú của nghệ thuật
cải lương; hai là qua đó mà chuyển tải những lời dạy
của Đức Phật đến với đời sống. Cũng có một số người
ở nước ngoài khuyến khích tôi chuyển thể kinh Pháp Cú ra
cải lương để họ nghe trên đường đi làm vì không có thời
gian để đọc kinh.
Trong tương lai,
chị sẽ làm gì để Phật giáo thấm sâu vào nghệ thuật
cải lương?
Được sự cho phép của
Hòa thượng Thích Thanh Từ, tôi nỗ lực chuyễn thể và đã
hoàn tất hai tác phẩm lớn: Phật giáo với dân tộc và Hai
quãng đời của sơ tổ Trúc Lâm-Điều Ngự Giác Hoàng thành
trường ca cải lương. Sau khi Trường ca Pháp Cú-Lời Phật
dạy ra mắt người yêu cải lương trong và ngoài nước, tôi
đã nhận được sự động viên rất lớn, nên mới có thể
làm tiếp công việc ngoài sức của mình như thế. Trước
là để đền đáp công ơn Tổ quốc, cha mẹ, thầy tổ, kế
đến là dâng hiến tâm sức cả cuộc đời nghệ thuật của
tôi cho sân khấu cải lương Việt Nam. Tôi cũng có tâm nguyện
là sẽ dạy những bạn trẻ Phật tử hay không phải Phật
tử yêu thích và muốn học cải lương.
Chị đã theo đạo
Phật hơn bốn mươi năm, tập ngồi thiền hơn hai mươi năm,
và mười mấy năm trường chay…
Tất cả điều đó đối
với tôi vừa là một nghệ thuật sống, một phương pháp
để giữ thân thể khỏe khoắn, vừa là một nhân sinh quan,
thế giới quan triết học, tâm linh, một điểm tựa để tâm
hồn thanh khiết.
Mong chị sẽ thực
hiện tốt những điều tâm nguyện của mình…
Tuyết Minh thực hiện