VỀ
BẢN DỊCH
"LƯỢNG
TỬ VÀ HOA SEN"
NGUYỄN
VĂN NHẬT
Trịnh xuân Thuận, người
Việt Nam theo đạo Phật vì truyền thống gia đình, khát khao
kiến thức về vũ trụ, và ông đã trở thành một chuyên
gia trong lĩnh vực xác định sự hình thành của các thiên
hà. Mathieu Ricard , người Pháp, đã là nhà nghiên cứu
chuyên sâu trong ngành sinh học phân tử trước khi bị cuốn
hút bởi Phật học đến mức buông bỏ sự nghiệp khoa học
để đi tu. Cả hai vị đều đã được người đọc Việt
Nam quan tâm qua các tác phẩm chứa đựng tinh thần khai phóng
và các nhận định có tính minh triết của họ.
Gặp nhau tại một
cuộc hội thảo đại học vào mùa hè năm 1997, Trịnh Xuân
Thuận và Mathieu Ricard đã trao đổi về những mối tương
quan đáng chú ý giữa những phát hiện của khoa học đương
đại và quan điểm nhà Phật về sự hình thành vũ trụ. Cuộc
trao đổi của họ đã phát triển thành một quyển sách được
in bằng tiếng Anh, ra đời vào năm 2001 với tên gọi là “The
Quantum and the Lotus: A Journey to the Frontiers Where Science and Buddhism
Meet” (Lượng tử và Hoa sen: Cuộc Hành Trình Tiến Đến Những
Biên Giới Gặp Gỡ Giữa Khoa Học và Phật Giáo).
Đầu năm 2005, Nhà
Xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho ấn hành bản
tiếng Việt với tựa đề “Lượng Tử và Hoa Sen, Hành trình
tiến đến Giao lộ giữa Khoa học và Phật giáo” do Lưu Văn
Hy biên dịch. Quyển sách ra đời vào lúc có sự mong đợi
của khá nhiều người. Sách được in một cách trang trọng
trên giấy trắng tốt, khổ lớn, đóng bìa cứng, bìa trình
bày trang nhã và có thể nói là một phiên bản đắt giá của
bìa sách bản tiếng Anh. Rất tiếc, nội dung bản dịch đã
không đáp ứng được sự mong đợi của người đọc ở
nhiều phương diện mà điểm chính là nó đã cho người đọc
có cảm giác rằng cả kiến thức khoa học lẫn nhận thức
Phật giáo được trình bày trong sách đều lờ mờ khiến
người đọc phải tìm đến nguyên bản tiếng Anh để đối
chiếu.
Thật vậy, trước
hết là vấn đề thuật ngữ của bản dịch. Chưa nói đến
thuật ngữ Phật giáo có thể không quen đối với một người
không phải là Phật tử, ngay những thuật ngữ triết học
tổng quát cũng bị sử dụng sai, chẳng hạn, từ mind có chỗ
được dịch là trí tuệ (these ‘Mind and Life’ meetings = những
cuộc gặp gỡ Trí tuệ và Sự Sống này - trang 9,
dòng 8), nhưng có chỗ lại được dịch là hồn (A Mind-Body
Duality = tính đối ngẫu hồn-xác - tựa nhỏ, trang 215). Mind
có thể hiểu là tâm, là trí, và miễn cưỡng hiểu là thức
thì cũng được, nhưng mind không thể là trí tuệ và cũng
không thể là hồn. Từ tương đương trong tiếng Anh của trí
tuệ có lẽ phải là intellect hoặc miễn cưỡng thì là wisdom,
còn hồn thì từ tương đương phải là soul. Một thuật ngữ
khoa học đã được quen dùng là nguyên lý bất định do Werner
Heisenberg phát biểu về tính cách không thể xác định vị
trí của điện tử trong quỹ đạo của nó quanh nhân nguyên
tử thì bản dịch lại thích dùng nguyên lý không chắc chắn
(uncertainty principle), một thuật ngữ khác là bức xạ nền
của vũ trụ thì ta thấy trong bản dịch là bức xạ hậu
cảnh của vũ trụ (cosmic background radiation).
Tuy nhiên, việc
dùng thuật ngữ xa lạ chỉ làm cho người đọc ngờ ngợ
thôi. Chính sự diễn đạt bằng tiếng Việt những nội dung
khoa học và Phật giáo mới khiến cho bản dịch rất nhiều
chỗ trở nên tối nghĩa và sai lạc. Ta hãy đọc một đoạn:
Trang 38: “Từ quan sát này các nhà khoa học luận ra rằng
tất cả các thiên hà đều đã xuất phát ngay cùng một lúc
tới vị trí hiện nay của chúng. Giờ đây nếu chúng ta hình
dung một cuộn phim về các thiên hà đang chuyển động tách
rời trong vũ trụ và chúng ta trở lùi lại trong tâm trí của
chúng ta, chúng ta khám phá ra rằng khi mọi thiên hà đi lại
những con đường cũ của chúng, chúng đã gặp nhau ở cùng
một điểm trong không gian vào cùng một lúc. Trực quan này
dẫn tới ý tưởng về một vụ nổ lớn còn gọi là Big Bang
làm khởi phát sự mở rộng. Đối với nhiều người, Big
Bang đã thay thế ý niệm tạo dựng của tôn giáo”. Đoạn
văn tiếng Anh tương ứng ở trang 24 bản chính như sau: “Scientists
deduced from this observation that all of the galaxies had taken exactly
the same time to move from their starting point to their present position.
Now, if we imagine a film of the galaxies moving apart in the universe
and we run it backwards in our minds, we discover that as all the galaxies
retraced their paths, they’d meet up at the same point in space at the
same moment. This insight led to the idea of a big explosion, or Big Bang,
that kick off the expansion. For many, the Big Bang replaced the religious
idea of creation”. Ta thấy ý của bản tiếng Anh nói rằng “…mọi
thiên hà đều mất cùng một thời gian như nhau để di chuyển
từ điểm xuất phát tới vị trí hiện nay của chúng
và nếu chúng ta tưởng tượng một cuộn phim về việc các
thiên hà đang tách rời nhau ra trong vũ trụ rồi quay ngược
cuộn phim đó trong tâm trí ta, thì chúng ta sẽ phát hiện ra
rằng khi mọi thiên hà lần ngược lại hành trình của chúng,
chúng phải gặp nhau tại cùng một điểm trong không gian vào
cùng một thời điểm. Nhận thức trực giác sắc bén
này đã dẫn tới ý tưởng về một vụ nổ lớn, hay Big Bang,
khởi đầu cho sự bành trướng đó. Đối với nhiều người,
Big Bang đã thay thế ý niệm tôn giáo về việc tạo thiên
lập địa” Rõ ràng bản tiếng Việt của Lưu Văn Hy đã
diễn tả hoàn toàn sai lạc những điểm then chốt của nguyên
khi trình bày về vụ nổ Big Bang.
Ngay trong lời giới
thiệu của Mathieu Ricard, dịch giả đã diệt ý của tác giả
một cách trắng trợn. Những câu đầu tiên trong lời giới
thiệu: “How should I lead my life? How should I live in society? What
is knowable? …” đã được dịch là: “Tôi cần hướng dẫn
cuộc sống của tôi ra sao? Tôi nên sống thế nào trong xã
hội này? Có thể hiểu ra những gì?…” Ở đây lead
không hề có nghĩa là hướng dẫn mà là có một lối sống
riêng , tương tự, live cũng không chỉ là sống, mà cũng hàm
nghĩa sống theo một lối sống. Như vậy, ba câu này phải
hiểu là: “Tôi nên có một cuộc sống (cá nhân) như thế
nào? Tôi nên có một cuộc sống như thế nào trong đời sống
xã hội ? Những gì là điều có thể biết (và cần phải
biết)?”.
Ở đoạn tiếp theo,
ta đọc trong bản tiếng Anh, “Ideally, our lives should lead us
to a feeling of plenitude, so that we have no regrets at the moment when
we die. Life in society should inspire us with a sense of universal responsibility.
Knowledge should teach us about both the nature of the world around us
and about our own minds” và thấy đoạn này được dịch là
“Lý tưởng thì, cuộc sống phải dẫn dắt chúng ta tới
cảm nhận về sự đủ đầy. Cuộc sống trong xã hội phải
truyền cho chúng ta ý nghĩa về trách nhiệm phổ quát. Kiến
thức phải dạy cho chúng ta về cả bản chất của thế giới
chung quanh chúng ta và tâm trí của chính chúng ta”. Đoạn
văn này tác giả muốn nói: “Theo một cách lý tưởng, cuộc
đời cần mang lại cho chúng ta một cảm giác về sự phong
phú để chúng ta không còn tiếc nuối vào lúc chết. Cuộc
sống xã hội cần mang lại cho chúng ta một cảm nhận về
trách nhiệm phổ quát. Kiến thức nên giúp chúng ta nhìn nhận
về bản chất của thế giới quanh ta lẫn chính tâm trí ta
một cách mới mẻ”. Trong đoạn này, plenitude phải hiểu
là sự phong phú chứ không thể hiểu là đủ đầy một cách
đầy vật dục, inspire có nghĩa là gợi hứng, tạo cảm hứng
chứ không có nghĩa là truyền, còn teach hàm ý mang lại
một nhận thức mới về một điều gì đó, chứ không chỉ
là dạy.
Ở đoạn cuối lời
giới thiệu ta đọc: “Cứ vài năm, tôi trở lại đây vào
mùa hè để tận hưởng bầu không khí của tu viện ở
Darjeeling, trong khi vẫn theo đuổi việc nghiên cứu khoa học
của mình. Năm 1972, khi tôi hoàn tất luận án tiến sĩ, tôi
quyết định, tốt hơn nên tiếp tục cuộc sống khoa học,
tôi sẽ tới Hy mã lạp sơn”. Đoạn văn tương ứng trong
bản tiếng Anh là: “For several years I returned each summer to the
inspiring atmosphere of his hermitage / monastery in Darjeeling, while
pursuing my scientific research. In 1972, when I had completed my doctoral
dissertation, I decided that, rather than take up a life of science, I
would move to Himalayas”. Rõ ràng trong đoạn văn này tác giả
xác định: “Trong nhiều năm liền, mỗi mùa hè, tôi đều
trở về sống trong không khí đầy cảm hứng nơi tu viện
của ngài ở Darjeeling…”, và vào năm 1972 sau khi hoàn
tất luận văn tiến sĩ, ông đã quyết định “thay vì tiếp
tục một sự nghiệp khoa học,tôi nên chuyển tới Hi mã lạp
sơn”. Từ chỗ thay vì tiếp tục một sự nghiệp khoa học
lại hiểu rằng tốt hơn nên tiếp tục cuộc sống khoa học
thì quả là sai lạc một cách quá đáng.
Ngay ở tựa đề
của một chương, dịch giả cũng sính sử dụng ngôn ngữ
rắc rối: At the Crossroads được dịch giả diễn là Đến
Bước Ngoặt trong khi chúng ta có thể hiểu đó là lúc mà
con người đứng Trước Ngã Ba Đường; rõ ràng từ crossroads
không hề thể hiện một chút nào tính chất bước ngoặt
cả. Trong bản dịch còn rất nhiều chỗ sai đến mức ngớ
ngẩn, chẳng hạn, modern electronics (trang 26, dòng 4, bản tiếng
Anh) có nghĩa là khoa điện tử học hiện đại lại được
dịch là các điện tử hiện đại (trang 40, dòng 22, bản tiếng
Việt) thì quả thực không người đọc nào đủ sức hiểu
nổi.
Và về tiếng Việt,
hình như người dịch cũng không biết cách dùng chữ cho đúng.
Đơn cử, đọc ở trang 48, ta thấy Laplace trả lời Napoleon:
“Tâu Thánh thượng, khanh không cần giả thuyết ấy”. Khanh
là từ xưng hô được dùng bởi một vị vương chủ khi ông
ta muốn tôn xưng một người cận thần của mình. Khanh không
bao giờ là tiếng tự xưng của một vị quan khi nói chuyện
với nhà vua. Trong trường hợp này, ngôn ngữ tiếng Việt
dùng từ hạ thần.
Qua một vài dẫn
chứng, chúng ta có thể xác định được giá trị của bản
dịch Lượng tử và Hoa sen. Chúng ta lấy làm tiếc rằng một
tác phẩm hay và đáng đọc lại được dịch thuật một cách
thiếu cẩn trọng đến vậy. Xin các nhà xuất bản đừng
làm mất lòng tin của người đọc với những dịch phẩm
ở dưới mức trung bình, cũng đừng làm thẩm thức của công
chúng ngày càng thiếu tinh tế vì những câu chữ thiếu trau
chuốt cứ được bầy đầy trên kệ sách.