.
..SỐ 04 -THÁNG 5, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 04-THÁNG 5, 2005

 

 

VỀ BẢN DỊCH 
"LƯỢNG TỬ VÀ HOA SEN"
NGUYỄN VĂN NHẬT

Trịnh xuân Thuận, người Việt Nam theo đạo Phật vì truyền thống gia đình, khát khao kiến thức về vũ trụ, và ông đã trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực xác định sự hình thành của các thiên hà. Mathieu Ricard , người Pháp,  đã là nhà nghiên cứu chuyên sâu trong ngành sinh học phân tử trước khi bị cuốn hút bởi Phật học đến mức buông bỏ sự nghiệp khoa học để đi tu. Cả hai vị đều đã được người đọc Việt Nam quan tâm qua các tác phẩm chứa đựng tinh thần khai phóng và các nhận định có tính minh triết của họ.

 Gặp nhau tại một cuộc hội thảo đại học vào mùa hè năm 1997, Trịnh Xuân Thuận và Mathieu Ricard đã trao đổi về những mối tương quan đáng chú ý giữa những phát hiện của khoa học đương đại và quan điểm nhà Phật về sự hình thành vũ trụ. Cuộc trao đổi của họ đã phát triển thành một quyển sách được in bằng tiếng Anh, ra đời vào năm 2001 với tên gọi là “The Quantum and the Lotus: A Journey to the Frontiers Where Science and Buddhism Meet” (Lượng tử và Hoa sen: Cuộc Hành Trình Tiến Đến Những Biên Giới  Gặp Gỡ Giữa Khoa Học và Phật Giáo).

 Đầu năm 2005, Nhà Xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho ấn hành bản tiếng Việt với tựa đề “Lượng Tử và Hoa Sen, Hành trình tiến đến Giao lộ giữa Khoa học và Phật giáo” do Lưu Văn Hy biên dịch. Quyển sách ra đời vào lúc có sự mong đợi của khá nhiều người. Sách được in một cách trang trọng trên giấy trắng tốt, khổ lớn, đóng bìa cứng, bìa trình bày trang nhã và có thể nói là một phiên bản đắt giá của bìa sách bản tiếng Anh. Rất tiếc, nội dung bản dịch đã không đáp ứng được sự mong đợi của người đọc ở nhiều phương diện mà điểm chính là nó đã cho người đọc có cảm giác rằng cả kiến thức khoa học lẫn nhận thức Phật giáo được trình bày trong sách đều lờ mờ khiến người đọc phải tìm đến nguyên bản tiếng Anh để đối chiếu.

 Thật vậy, trước hết là vấn đề thuật ngữ của bản dịch. Chưa nói đến thuật ngữ Phật giáo có thể không quen đối với một người không phải là Phật tử, ngay những thuật ngữ triết học tổng quát cũng bị sử dụng sai, chẳng hạn, từ mind có chỗ được dịch là trí tuệ (these ‘Mind and Life’ meetings = những cuộc gặp gỡ Trí tuệ và Sự Sống này  -  trang 9, dòng 8), nhưng có chỗ lại được dịch là hồn  (A Mind-Body Duality = tính đối ngẫu hồn-xác - tựa nhỏ, trang 215). Mind có thể hiểu là tâm, là trí, và miễn cưỡng hiểu là thức thì cũng được, nhưng mind không thể là trí tuệ và cũng không thể là hồn. Từ tương đương trong tiếng Anh của trí tuệ có lẽ phải là intellect hoặc miễn cưỡng thì là wisdom,  còn hồn thì từ tương đương phải là soul. Một thuật ngữ khoa học đã được quen dùng là nguyên lý bất định do Werner Heisenberg phát biểu về tính cách không thể xác định vị trí của điện tử trong quỹ đạo của nó quanh nhân nguyên tử thì bản dịch lại thích dùng nguyên lý không chắc chắn (uncertainty principle), một thuật ngữ khác là bức xạ nền của vũ trụ thì ta thấy trong bản dịch là bức xạ hậu cảnh của vũ trụ (cosmic background radiation).

 Tuy nhiên, việc dùng thuật ngữ xa lạ chỉ làm cho người đọc ngờ ngợ thôi. Chính sự diễn đạt bằng tiếng Việt những nội dung khoa học và Phật giáo mới khiến cho bản dịch rất nhiều chỗ trở nên tối nghĩa và sai lạc. Ta hãy đọc một đoạn: Trang 38: “Từ quan sát này các nhà khoa học luận ra rằng tất cả các thiên hà đều đã xuất phát ngay cùng một lúc tới vị trí hiện nay của chúng. Giờ đây nếu chúng ta hình dung một cuộn phim về các thiên hà đang chuyển động tách rời trong vũ trụ và chúng ta trở lùi lại trong tâm trí của chúng ta, chúng ta khám phá ra rằng khi mọi thiên hà đi lại những con đường cũ của chúng, chúng đã gặp nhau ở cùng một điểm trong không gian vào cùng một lúc. Trực quan này dẫn tới ý tưởng về một vụ nổ lớn còn gọi là Big Bang làm khởi phát sự mở rộng. Đối với nhiều người, Big Bang đã thay thế ý niệm tạo dựng của tôn giáo”. Đoạn văn tiếng Anh tương ứng ở trang 24 bản chính như sau: “Scientists deduced from this observation that all of the galaxies had taken exactly the same time to move from their starting point to their present position. Now, if we imagine a film of the galaxies moving apart in the universe and we run it backwards in our minds, we discover that as all the galaxies retraced their paths, they’d meet up at the same point in space at the same moment. This insight led to the idea of a big explosion, or Big Bang, that kick off the expansion. For many, the Big Bang replaced the religious idea of creation”. Ta thấy ý của bản tiếng Anh nói rằng “…mọi thiên hà đều mất cùng một thời gian như nhau để di chuyển từ điểm xuất phát tới vị trí hiện nay của chúng  và nếu chúng ta tưởng tượng một cuộn phim về việc các thiên hà đang tách rời nhau ra trong vũ trụ rồi quay ngược cuộn phim đó trong tâm trí ta, thì chúng ta sẽ phát hiện ra rằng khi mọi thiên hà lần ngược lại hành trình của chúng, chúng phải gặp nhau tại cùng một điểm trong không gian vào cùng một thời điểm.  Nhận thức trực giác sắc bén này đã dẫn tới ý tưởng về một vụ nổ lớn, hay Big Bang, khởi đầu cho sự bành trướng đó. Đối với nhiều người, Big Bang đã thay thế ý niệm tôn giáo về việc tạo thiên lập địa” Rõ ràng bản tiếng Việt của Lưu Văn Hy đã diễn tả hoàn toàn sai lạc những điểm then chốt của nguyên khi trình bày về vụ nổ Big Bang.

 Ngay trong lời giới thiệu của Mathieu Ricard, dịch giả đã diệt ý của tác giả một cách trắng trợn. Những câu đầu tiên trong lời giới thiệu: “How should I lead my life? How should I live in society? What is knowable? …” đã được dịch là: “Tôi cần hướng dẫn cuộc sống của tôi ra sao? Tôi nên sống thế nào trong xã hội này? Có thể hiểu ra những gì?…” Ở đây  lead không hề có nghĩa là hướng dẫn mà là có một lối sống riêng , tương tự, live cũng không chỉ là sống, mà cũng hàm nghĩa sống theo một lối sống. Như vậy, ba câu này phải hiểu là: “Tôi nên có một cuộc sống (cá nhân) như thế nào? Tôi nên có một cuộc sống như thế nào trong đời sống xã hội ? Những gì là điều có thể biết (và cần phải biết)?”. 

Ở đoạn tiếp theo, ta đọc trong bản tiếng Anh, “Ideally, our lives should lead us to a feeling of plenitude, so that we have no regrets at the moment when we die. Life in society should inspire us with a sense of universal responsibility. Knowledge should teach us about both the nature of the world around us and about our own minds” và thấy đoạn này được dịch là “Lý tưởng thì, cuộc sống phải dẫn dắt chúng ta tới cảm nhận về sự đủ đầy. Cuộc sống trong xã hội phải truyền cho chúng ta ý nghĩa về trách nhiệm phổ quát. Kiến thức phải dạy cho chúng ta về cả bản chất của thế giới chung quanh chúng ta và tâm trí của chính chúng ta”. Đoạn văn này tác giả muốn nói: “Theo một cách lý tưởng, cuộc đời cần mang lại cho chúng ta một cảm giác về sự phong phú để chúng ta không còn tiếc nuối vào lúc chết. Cuộc sống xã hội cần mang lại cho chúng ta một cảm nhận về trách nhiệm phổ quát. Kiến thức nên giúp chúng ta nhìn nhận về bản chất của thế giới quanh ta lẫn chính tâm trí ta một cách mới mẻ”. Trong đoạn này, plenitude phải hiểu là sự phong phú chứ không thể hiểu là đủ đầy một cách đầy vật dục, inspire có nghĩa là gợi hứng, tạo cảm hứng chứ không có nghĩa là truyền,  còn teach hàm ý mang lại một nhận thức mới về một điều gì đó, chứ không chỉ là dạy.

Ở đoạn cuối lời giới thiệu ta đọc: “Cứ vài năm, tôi trở lại đây vào mùa hè để tận hưởng bầu không khí  của tu viện ở Darjeeling, trong khi vẫn theo đuổi việc nghiên cứu khoa học của mình. Năm 1972, khi tôi hoàn tất luận án tiến sĩ, tôi quyết định, tốt hơn nên tiếp tục cuộc sống khoa học, tôi sẽ tới Hy mã lạp sơn”. Đoạn văn tương ứng trong bản tiếng Anh là: “For several years I returned each summer to the inspiring atmosphere of his hermitage / monastery in Darjeeling, while pursuing my scientific research. In 1972, when I had completed my doctoral dissertation, I decided that, rather than take up a life of science, I would move to Himalayas”. Rõ ràng trong đoạn văn này tác giả xác định: “Trong nhiều năm liền, mỗi mùa hè, tôi đều trở về sống trong không khí đầy cảm hứng nơi tu viện của ngài ở Darjeeling…”,  và vào năm 1972 sau khi hoàn tất luận văn tiến sĩ, ông đã quyết định “thay vì tiếp tục một sự nghiệp khoa học,tôi nên chuyển tới Hi mã lạp sơn”. Từ chỗ thay vì tiếp tục một sự nghiệp khoa học lại hiểu rằng tốt hơn nên tiếp tục cuộc sống khoa học thì quả là sai lạc một cách quá đáng.

 Ngay ở tựa đề của một chương, dịch giả cũng sính sử dụng ngôn ngữ rắc rối: At the Crossroads được dịch giả diễn là Đến Bước Ngoặt trong khi chúng ta có thể hiểu đó là lúc mà con người đứng Trước Ngã Ba Đường; rõ ràng từ crossroads không hề thể hiện một chút nào tính chất bước ngoặt cả. Trong bản dịch còn rất nhiều chỗ sai đến mức ngớ ngẩn, chẳng hạn, modern electronics (trang 26, dòng 4, bản tiếng Anh)  có nghĩa là khoa điện tử học hiện đại lại được dịch là các điện tử hiện đại (trang 40, dòng 22, bản tiếng Việt) thì quả thực không người đọc nào đủ sức hiểu nổi.

 Và về tiếng Việt, hình như người dịch cũng không biết cách dùng chữ cho đúng. Đơn cử, đọc ở trang 48, ta thấy Laplace trả lời Napoleon: “Tâu Thánh thượng, khanh không cần giả thuyết ấy”. Khanh là từ xưng hô được dùng bởi một vị vương chủ khi ông ta muốn tôn xưng một người cận thần của mình. Khanh không bao giờ là tiếng tự xưng của một vị quan khi nói chuyện với nhà vua. Trong trường hợp này,  ngôn ngữ tiếng Việt dùng từ hạ thần.

 Qua một vài dẫn chứng, chúng ta có thể xác định được giá trị của bản dịch Lượng tử và Hoa sen. Chúng ta lấy làm tiếc rằng một tác phẩm hay và đáng đọc lại được dịch thuật một cách thiếu cẩn trọng đến vậy. Xin các nhà xuất bản đừng làm mất lòng tin của người đọc với những dịch phẩm ở dưới mức trung bình, cũng đừng làm thẩm thức của công chúng ngày càng thiếu tinh tế vì những câu chữ thiếu trau chuốt cứ được bầy đầy trên kệ sách. 
 
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 04 -THÁNG 5, 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)