TINH
THẦN VÔ TRƯỚC
TRONG
KINH PHẬT
NGUYÊN CẨN
Chắc hẳn khi viết ra
mẩu tin ngắn đăng trong tạp chí Newsweek, phóng viên Machail
Isikoff không ngờ rằng mình sắp gây nên một tai họa lớn
khi thống kê sơ bộ cho đến 20 tháng 5 đã có 17 người thiệt
mạng và hơn 100 người khác bị thương vì mẩu tin vắn ấy.
Ngọn lửa căm phẫn đã bùng lên kéo dài từ Afghanistan, Palestine
đến cả Indonesia, Somali mà chưa có dấu hiệu gì hạ nhiệt
mặc dù tờ Newsweek đã cải chính là chỉ dựa vào một nguồn
tin chưa được kiểm chứng, tiết lộ rằng một quan chức
thẩm vấn Mỹ đã quẳng Kinh Coran vào cầu tiêu và xả nước
trong khi đang làm nhiệm vụ tại Guantanama. Giờ đây dù có
đính chính, dù có thanh minh thì cũng đã trễ vì máu đã đổ,
oán thù đang dâng cao. Tại Teheran, Quốc hội Iran đã không
chấp nhận lời cải chính của tờ báo. Ngòi viết thiếu
cẩn trọng ấy đã trở thành ngòi nổ khi nó khơi dậy tất
cả những căm hờn dồn nén bấy lâu của thế giới Hồi
giáo đối với Mỹ. Thế nhưng, chúng ta thử hình dung một
kịch bản khác: nếu như phóng viên ấy đính chánh rằng không
phải quan chức Mỹ quẳng kinh Coran mà là một quyển kinh Phật
gì đó thì sao? Chắc hẳn sẽ có những lời phê phán đây
đó thậm chí có thể có biểu tình nhưng chắc chắn là không
ai đổ máu, không ai chết. Chúng ta hãy nhớ cách đây mấy
năm khi Taliban phá hủy tượng Phật, một trong những kỳ quan
trong lịch sử nhân loại, thế giới lên án kịch liệt, kêu
gọi khẩn thiết nhưng không ai phải đánh nhau với cảnh sát
hay xô xát với các tôn giáo khác. Vì sao? Vì chủ trương không
dùng bạo lực của Phật giáo hay vì nguyên nhân nào khác?
Thật ra, lý do nằm ngay
trong giáo lý nhà Phật: đó là tinh thần vô trước hay phá
chấp. Tinh thần không câu chấp, nô lệ vào các hình thức,
ngôn ngữ (điều mà hiện nay có lúc có nơi đang cần phải
nhắc nhở, huân tập lại). Đó là một tinh thần giải trừ
kiến chấp. Một cái học không có học thuyết, một giáo
lý không có những giáo điều bất di bất dịch.
Đức Phật là một vị
Giáo chủ duy nhất trên thế gian này khuyên tín đồ như đã
nói với bộ tộc Kalama ở Kesaputta như vầy:
“Này các Kalama, chớ
có tin vì nghe lời thuật lại, chớ có tin vì theo truyền thống,
chớ có tin vì nghe những lời đồn. Đừng để bị dẫn dắt
bởi uy quyền của kinh điển, bởi luận lý siêu hình, hay
bởi những sự xét đoán bề ngoài, đừng để bị lôi cuốn
về những gì có vẻ đáng tin, bởi thích thú trong những quan
điểm võ đoán, hay bởi ý nghĩ: “Đây là thầy ta…” (Tăng
Chi Bộ tập 1, Kinh Các vị ở Kesaputta).
Khi giảng thuyết Nhân
Duyên, khi nhận thấy các đệ tử đều đã hiểu, Phật liền
nói: “Này các Tỳ-khưu, nếu các người lại để cho mình
mắc vào thuyết ấy, nếu các người ưa thích nó, nếu các
người mê luyến nó, giữ gìn nó như một kho bảo vật, nghĩa
là các người bị buộc ràng vào nó, thì các người đâu
có hiểu rằng giáo lý của ta như chiếc bè để đưa qua dòng
sông chứ không buộc trói người vào đó.”
Trong kinh Viên Giác, Đức
Phật đã từng tuyên bố: “Các lời dạy của khế kinh chẳng
khác nào ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu ta thấy mặt trăng rồi,
có thể biết cái để chỉ mặt trăng không phải là mặt
trăng. Tất cả lời nói của Như lai khai thị Bồ tát cũng
đều như thế.” Nếu ta nhận lầm ngón tay chỉ mặt trăng
là mặt trăng thì chẳng những không nhận thức đúng chánh
pháp mà còn gặp chướng ngại trên đường tu tập của mình.
Thế nên, học Phật
là phải học cả cái tinh thần “vô trụ vô tướng”, giải
thoát khỏi mọi tà kiến, biên kiến, khai phóng tâm hồn khỏi
mọi sự nô lệ, định kiến do những ý thức hệ, những
tín ngưỡng, những chủ thuyết đạo đức hay kinh tế khác
nhau vốn dĩ đã và đang chia rẽ nhân loại, gây nên những
tranh chấp triền miên cả trong tư duy lẫn trong cuộc đời
thực.
Phật giáo trước hết
không phải và không thể là một tàng kinh viện, nơi mà người
học Phật chỉ biết trau giồi giáo lý mà phải là nơi thực
chứng, huân tập tâm hồn để hình thành một thái độ sống,
một triết lý sống tràn trề vô ngại, dung nạp mọi dị
biệt, vượt lên trên mọi si mê kiến chấp. Đó là tinh thần
Xả vô lượng tâm, buông bỏ, không ôm giữ tri kiến, không
vướng mắc vào thành bại, khen chê (trong tiếng Sankrist Upeksa
là bình đẳng, nghĩa là không chấp trước phân biệt, xem
mọi người mọi pháp, đều như nhau).
“Do có lòng xả mà
người học Phật sẽ từ bỏ “sở tri” của mình mà lắng
nghe kẻ khác và có thể tiếp nhận những kiến thức đúng
đắn mới, hầu có thể thẳng tiến trên đường giác ngộ”
(Lược giải những pháp số cơ bản - Hạnh Cơ).
Tựu trung, tinh thần
vô trước của giáo lý Phật giáo giúp ta vươn tới những
chân trời thênh thang vô tận và với lòng xả rộng lớn,
chúng ta sẽ có được hạnh phúc và an lạc ngay trong cõi đời
này, ngay trong chính tâm hồn mình trong từng phút giây tỉnh
thức.