THÁP HÒA PHONG
Trần
Đình Sơn
Những
ai có dịp viếng thăm thủ đô Hà Nội, dạo quanh hồ Gươm
ven đường Đinh Tiên Hoàng, đối diện với tòa nhà Bưu điện
sẽ gặp một ngôi tháp cổ 3 tầng xây bằng gạch. Tầng một
(trệt) có 4 mặt trổ 4 cửa vòm, trên mỗi ngạch cửa ghi:
Báo Ân Môn - Báo Nghĩa Môn - Báo Đức Môn - Báo Phúc Môn.
Tầng hai, 4 góc xây trụ vuông đặt tượng 4 con nghê, nối
liền nhau bằng đường viền hồi văn giao hóa. Tầng ba ghi
“Hòa Phong Tháp”, trên đỉnh nhô cao trang trí bầu hồ lô.
Ngôi tháp đặc biệt thể hiện tư tưởng “Cư Nho Mộ Thích”
may mắn còn “sống sót” đứng lặng lẽ chứng kiến bao
nỗi thăng trầm của non nước Thăng Long…
Thời
đại Lý Trần (1010 - 1400), nước Đại Việt được hưởng
cảnh thanh bình, thịnh trị lâu dài, nhờ đó xã hội phát
triển nhanh chóng về mọi mặt. Kinh đô Thăng Long trở thành
một trung tâm văn hóa tỏa sáng trong khu vực, được lân bang
nể phục.
Đáp
ứng nguyện vọng, nhu cầu của thời đại triều đình xây
dựng tại kinh đô nhiều chùa tháp to lớn như Báo Thiên, Diên
Hựu, Hộ Quốc... Về sau trải qua nạn ngoại xâm, nội chiến,
thiên tai một số công trình kiến trúc bị đổ nát dần.
Triều Lê - Nguyễn nối tiếp vẫn xem các thắng tích này là
nơi thiêng liêng, gắn liền với niềm tự hào dân tộc nên
hết sức bảo tồn. Thời Minh Mạng (1820 - 1840). Tổng đốc
Hà Nội - Ninh Bình Đặng Văn Hòa tự xuất của riêng, quyên
góp quan dân tôn tạo chùa Diên Hựu (1838). Tổng đốc Tôn
Thất Bật đốc suất trùng tu chùa Báo Thiên...
Triều
Thiệu Trị (1841 - 1847), Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai (1) tổ
chức xây dựng ngôi chùa Báo Aân (2) trên nền cũ lầu Ngũ
long thời Lê - Trịnh, thuộc thôn Cựu lâu, huyện Thọ Xương
cạnh hồ Hoàn Kiếm (hồ Gươm).
Căn
cứ bản vẽ xưa còn lưu lại, ta thấy kiểu thức chùa rất
độc đáo, tọa lạc trên vùng đất rộng lớn. Từ con đường
ven hồ phía Đông dẫn vào có tháp Hòa Phong, sau đó đến
cổng chùa, vượt qua chiếc cầu đúc lát gạch thì đến lầu
hộ pháp, hai bên có 4 ngọn tháp đối xứng cao 3 tầng. Tiếp
đến “Đại hùng bửu điện” tôn trí nhiều pho tượng
Phật, Bồ Tát tuyệt đẹp. Có hành lang tô đắp, chạm trổ
cảnh “Thập điện Diêm Vương”, mô tả sự khổ báo trong
mười địa ngục rất sinh động. Phía sau có điện thờ Thánh
mẫu, tăng xá, trai đường, tổng thể chùa có 36 mái, 150 gian.
Chung quanh vườn chùa xây dựng tường bát giác bao bọc, bên
ngoài đào hào trồng sen. Nhân gian thường gọi là chùa Liên
Trì hay chùa Quan Thượng (chức vụ Tổng đốc ngang hàng hàm
Thượng Thư). Từ đó Báo Ân trở thành danh lam thắng cảnh
nổi tiếng của đất Hà Thành văn vật:
“Phong
quang cảnh trí trăm đường,
Trong
xây chín giếng, ngoài tường lục lăng
Rõ
mười cửa động tưng bừng,
Đền
vàng tòa ngọc chất từng như nêm”.
Quân
Pháp đánh chiếm Hà Nội lần đầu năm 1873, đến năm 1876
Trương Vĩnh Ký theo lệnh của Đô đốc DuperreÙ ra Bắc Kỳ
tìm hiểu tình hình. Ông có đến viếng chùa Báo Ân và mô
tả:
“....
Cảnh
chùa ấy thật đã nên là tốt, vô cửa hai bên có tháp cao.
Vào trong có hồ đi quanh co vòng theo chùa, lại ăn lọt dưới
chùa nữa. Hai bên mép xây gạch, xây đá cả. Cầu bắt tứ
phía qua chùa, đền cũng xây đá gạch hết hẳn hoi. Xung quanh
bốn phía có nhà hành lang chạy dài ra phía sau giáp nhau. Trong
chùa đằng trước để tượng Phật đứng bàn cả đám hình
to lớn, quang thếp cả. Hai bên có làm động và thập điện,
đều bong hình nổi ra hết. Đằng sau có đền, có tạc hình
cốt ông Nguyễn Đăng Giai...” (3).
Ngày
20 tháng 4 năm 1882, Henri Rivière chỉ huy quân Pháp đánh chiếm
Hà Nội lần thứ hai, sau đó Bắc Kỳ hoàn toàn rơi vào tay
quân xâm lược. Kể từ 1-10-1888, Hà Nội biến thành nhượng
địa của Pháp. Trong quá trình “cải tạo” cái nôi văn
hóa truyền thống Việt Nam, họ bắt tay ngay vào việc triệt
phá các ngôi chùa danh tiếng, có ảnh hưởng sâu rộng trong
xã hội. Trước tiên Báo Thiên, ngôi chùa từ thời Lý tồn
tại gần 1000 năm, bị giám mục Puginier âm mưu với công sứ
Bonnal chiếm đoạt để cất nhà thờ lớn Hà Nội (từ năm
1883, khánh thành ngày 23-12-1887). Tiếp theo là chùa Báo Ân,
dấu ấn của triều Nguyễn tại cố đô Thăng Long, bị san
bằng để xây phủ Thống sứ Bắc Kỳ và tòa nhà Bưu điện
vào năm 1889. Các pho tượng Phật đẹp nhất bị Bonnal cướp
đoạt đem về Pháp.
Thế
là hai ngôi chùa tiêu biểu nằm hai bên bờ hồ Hoàn Kiếm
giữa trung tâm Hà Nội bị mất dấu từ đó, chỉ còn sót
lại ngôi tháp Hòa Phong.
André
Masson, một viên chức sở lưu trữ và thư viện Đông Dương,
người chứng kiến sự việc đương thời viết:
“...
Ở
phía Đông Nam hồ, chỗ ngày nay là Sở Bưu điện, sừng sững
ngôi chùa đặc biệt nhất trong các ngôi chùa ở Hà Nội.
Tòa nhà chính của chùa được bao bởi một hồ tròn đầy
sen, chính hồ sen này đã cho chùa cái tên Liên Trì (Fleurs de
Lotus)...
Người
Pháp đổi tên chùa thành chùa khổ hình (Pagode des Supplices)
vì người ta thấy khắc trên đá và gỗ ở chùa hàng loạt
khổ hình những kẻ có tội sẽ phải chịu ở thế giới
bên kia. Thật là một tác phẩm lố lăng và khó tả nhưng
tinh tế vượt xa những bức bích họa khiếp đảm nhất của
các họa sĩ chúng ta ở thời Trung cổ.
Trong
vô số tháp, tháp chuông, hàng hiên… lôi cuốn du khách từ
rất xa và các hình ảnh cũ, chỉ còn lại Hòa Phong tháp, tháp
của gió thuận. Công trình nhỏ bé này rất đơn giản nhưng
tỉ lệ duyên dáng ...” (4).
Ngày
nay, những ai có dịp viếng thăm thủ đô Hà Nội, dạo quanh
hồ Gươm ven đường Đinh Tiên Hoàng, đối diện với tòa
nhà Bưu điện còn gặp ngôi tháp cổ xây bằng gạch 3 tầng.
Tầng một (trệt) có 4 mặt trổ 4 cửa vòm, trên mỗi ngạch
cửa ghi. Báo Ân Môn - Báo Nghĩa Môn - Báo Đức Môn - Báo Phúc
Môn. Tầng hai, 4 góc xây trụ vuông đặt tượng 4 con nghê,
nối liền nhau bằng đường viền hồi văn giao hóa. Thân tháp
thu nhỏ ở giữa, hai ô vuông lõm vào tô hai chữ phạn Án
(mở đầu câu đại minh thần chú Án Ma Ni Bát Di Hồng) đối
xứng, hai ô còn lại đắp hình bát quái. Tầng ba ghi “Hòa
Phong Tháp”, trên đỉnh nhô cao trang trí bầu hồ lô. Đây
là ngôi tháp đặc biệt thể hiện tư tưởng “Cư Nho Mộ
Thích” dưới thời Nguyễn, may mắn còn “sống sót” đứng
lặng lẽ chứng kiến bao nỗi thăng trầm của non nước Thăng
Long!
Để
giải thích việc phá hoại các di tích văn hóa Việt Nam, có
người cho rằng đó là vì nhu cầu mở mang, phát triển đô
thị? Điều này có thỏa đáng không?
Theo
dõi bước chân xâm lăng của quân Pháp chúng ta thấy từ khi
chiếm Gia Định, đến Hà Nội và cuối cùng kinh đô Huế
(cùng các tỉnh thành khác) ở đâu họ cũng chiếm đoạt chùa
chiền danh tiếng để làm căn cứ quân sự, dần dần phá
hủy rồi xây nhà thờ Thiên Chúa giáo hoặc cơ quan thống
trị. Phải chăng tội ác đó nằm trong chiến lược hủy diệt
nền tảng văn hóa truyền thống - nguồn lực nuôi dưỡng
tinh thần yêu nước của nhân dân bản xứ. Giám mục PUGINIER
quả quyết với các tướng soái Pháp: “Tôi xác định
rằng khi mà Bắc Kỳ trở thành Gia tô giáo thì nó cũng trở
thành nước Pháp nhỏ của Viễn Đông, y hệt như quần đảo
Phi Luật tân đã là một Tây Ban Nha nhỏ” (5). Muốn ý
tưởng đó trở thành hiện thực, dĩ nhiên phải san bằng
chùa chiền, đền miếu bởi đó chính là chướng ngại vật
trên con đường đi khai hóa của thực dân Pháp.
Ghi
chú:
(1)
Nguyễn Đăng Giai: Tự Toản phu, con trai Thiếu sư Nguyễn Đăng
Tuân thầy dạy vua Thiệu Trị, ở Lệ Thủy, Quảng Bình, đậu
cử nhân năm 1820. Năm 1846 - 1847, giữ chức Tổng đốc Hà
- Ninh. Năm 1854 giữ chức kinh lược Bắc Kỳ, chết tại quân
thứ Hà Nội. Vua Tự Đức ban tên thụy Văn ý, cho thờ vào
đền Hiền Lương. Ông cùng với Nguyễn Tri Phương là hai đại
thần chủ chiến với Pháp đến cùng.
(2)
Báo Ân: Theo quan niệm của Phật giáo, làm người phải ghi
nhớ để báo đáp 4 ơn nặng là: Ơn cha mẹ - Ơn chúng sanh
- Ơn chính quyền (Quốc vương) - Ơn Tam bảo (Theo kinh Tâm địa
quán). Hoặc: Ơn cha mẹ - Ơn thầy tổ (Sư trưởng) - Ơn chính
quyền (Quốc vương) - Ơn thí chủ (Theo Thích thị yếu lãm).
Người đặt tên chùa có ý nhắc nhở tín đồ đạo Phật
phải làm tròn bổn phận của mình.
(3)
Trương Vĩnh Ký, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), Sài
Gòn, Guillaud et Martinon, 1881, tr. 5.
(4)
André Masson, Hà Nội giai đoạn 1873 - 1888 (Bản dịch của Lưu
Đình Tuấn, NXB Hải Phòng. 2002, tr. 124-125).
(5)
Cao Huy Thuần, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của
Pháp tại Việt Nam (1857 - 1914), NXB Tôn Giáo, 2003, tr. 437.