DẤU
ẤN PHẬT GIÁO
TRÊN NHỮNG
NẺO ĐƯỜNG TRUNG HOA
(Kỳ
2)
Trần
Đức Tuấn
Có
thể nói hang động Mạc Cao là hệ thống xương sống của
nền văn hóa Đôn Hoàng và là đối tượng nghiên cứu quan
trọng nhất của các nhà “Đôn Hoàng học”. Nằm trên con
đường tơ lụa cổ xưa, xuất phát từ Trường An sang phương
Tây nên Đôn Hoàng đã trở thành nơi tiếp thu nền văn hóa
Phật giáo để truyền vào Trung Quốc. Các nhà truyền giáo
sau khi vượt sa mạc Gô-Bi, trải qua hàng tháng trời mệt mỏi
trong gió cát đều dừng chân tại đây để nghỉ ngơi và
giao tiếp. Vì thế Đôn Hoàng và Mạc Cao đã trở thành điểm
hội tụ lớn nhất của nền văn hóa Phật giáo…
Thành
phố Đôn Hoàng quản lý 31.000 cây số vuông miền đất cực
Tây của tỉnh Cam Túc, xưa kia vốn là nơi biên ải xa xôi
của Trung Nguyên, địa bàn thông thương với Tây Vực. Vì
đất rộng nên nó ôm trong lòng mình một quần thể văn hóa
lịch sử gồm nhiều điểm cách nhau hàng trăm cây số. Trong
hàng chục di tích và cảnh quan được Nhà nước xếp vào
danh sách được bảo tồn nghiêm ngặt thì nổi tiếng nhất
là hang động Mạc Cao, núi Minh Sa, hồ Nguyệt Nha, cửa ải
Dương Quan và Ngọc Môn Quan. Riêng hang Mạc Cao, núi Minh Sa
và hồ Nguyệt Nha, năm 1992 được xếp vào những thắng cảnh
đẹp nhất Trung Quốc.
HANG
ĐỘNG MẠC CAO
Hang
Mạc Cao lâu nay đã nổi tiếng toàn thế giới về giá trị
văn hóa Phật giáo siêu đẳng nên đây là một trong những
điểm ưu tiên trong lộ trình của chúng tôi.
Đường
từ Đôn Hoàng đến Mạc Cao chạy ven sa mạc dài khoảng 30
cây số, hai bên là cây côi của miền lục châu tươi tốt
được tưới bằng nước tuyết Đẳng Hà. Mạc Cao là quần
thể hàng ngàn hang động do con người đục, khoét vào sườn
núi Minh Sa trong suốt hàng ngàn năm để thờ Phật Tổ và
các vị Bồ tát. Năm 1987, hang Mạc Cao được UNESCO công nhận
là di sản văn hóa của nhân loại. Hầu hết hang động có
từ thời Ngụy-Tấn tới nay đã bị vùi lấp hoặc hủy hoại,
chỉ còn lại số ít ỏi là 492 hang, trong đó hang thời Ngụy-Tấn
có 42, Tùy có 112, Đường có 247, Ngũ Đại có 36, Tống có
4 và Nguyên có 8. Theo sử sách thì riêng đời Đường thì
đã có tới trên 1000 hang Phật, nay còn lại chưa tới ¼.
Có
thể nói hang động Mạc Cao là hệ thống xương sống của
nền văn hóa Đôn Hoàng và là đối tượng nghiên cứu quan
trọng nhất của các nhà “Đôn Hoàng học”. Nằm trên con
đường tơ lụa cổ xưa, xuất phát từ Trường An sang phương
Tây nên Đôn Hoàng đã trở thành nơi tiếp thu nền văn hóa
Phật giáo để truyền vào Trung Quốc. Các nhà truyền giáo
sau khi vượt sa mạc Gô-Bi, trải qua hàng tháng trời mệt mỏi
trong gió cát đều dừng chân tại đây để nghỉ ngơi và
giao tiếp. Vì thế Đôn Hoàng và Mạc Cao đã trở thành điểm
hội tụ lớn nhất của nền văn hóa Phật giáo. Truyền thuyết
về hang đá đầu tiên thì có nhiều chỉ xin nêu một ví dụ:
Năm 366, thời phế đế nhà Đông Tấn, Hòa thượng Lạc Tăng
tới chân núi Minh Sa lúc mặt trời đang lặn, nhìn thấy ba
đỉnh núi rực ánh kim quang, như có hàng ngàn vị Phật hiện.
Hòa thượng cho đây là miền đất Thánh nên quyết định
treo mình trên vách đá, mở một động để vào tu trong đó.
Hang động thứ hai do Hòa thượng Pháp Lương khai mở. Từ
đó về sau, số hang cứ tăng dần, rồi trở thành quần thể
chùa hang lớn nhất Trung Quốc, gắn chặt với nền văn hóa
Đôn Hoàng. Nó càng trở nên thịnh vượng bởi thương khách
trước khi ra khỏi Dương Quan, Ngọc Môn Quan đi về phương
Tây hoặc vượt qua Dương Quan, Ngọc Môn Quan đề vào Trung
Nguyên đều tới Mạc Cao dâng hương lễ Phật, cúng dường
để cầu xin bình an vô sự. Họ đã hiến nhiều tài vật
để khai đục hang động nên số hang tăng nên nhanh chóng.
Từ
thế kỷ IV đến thế kỷ XIV đã có hàng ngàn hang động được
hình thành nên nó còn được mệnh danh là “Thiên Phật động”,
trong đó Tùy-Đường là thời kỳ thịnh vượng nhất của
Mạc Cao. Quá trình phát triển của hệ thống hang động Mạc
Cao gắn liền với sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc.
Đạo Phật vào Trung Hoa từ thời Lưỡng Hán, lúc đầu chưa
mạnh, tới thời Ngụy-Tấn thì được truyền bá rộng hơn
một chút. Thời Lưỡng Tấn, chùa nhiều, Tăng Ni cũng tăng
lên đáng kể (Tây Tấn có 180 ngôi chùa, với 3.700 Tăng Ni;
Đông Tấn có 1.768 chùa, với 24.000 Tăng Ni; có 250 bộ kinh
Phật gồm 1.300 quyển, và bắt đầu có Tăng nhân người Hán
đi về phía Tây cầu pháp. Tới thời Nam-Bắc triều, số chùa
đã là 2.846 ngôi, số Tăng Ni là 82.700 người. Thời Tùy những
con số đó 5.000 và 200.000, thời Đường là 40.000 và 458.000.
Thời Nguyên có 42.300 ngôi chùa. Cuối thời Thanh có 800.000
Tăng Ni). Đó là bức tranh Phật giáo kéo dài suốt 15 thế
kỷ của đất nước Trung Hoa.
Chúng
tôi thực sự ngạc nhiên trước sức mạnh của nghệ thuật
tôn giáo, trước ý tưởng sáng tạo kỳ lạ của người Trung
Hoa và trước tầm cỡ khổng lồ của các công trình văn hóa
Phật giáo cổ đại. Nội dung nghệ thuật chủ yếu trong các
hang động đá là bích họa và nghệ thuật đắp nổi các
hình tượng Phật, Bồ tát và những nhân vật liên quan tới
nền Phật giáo Trung Hoa. Tất cả các loại hình như tranh vẽ,
đắp nổi, điêu khắc đều là những tác phẩm nghệ thuật
đích thực, nhiều bức tranh có từ thời Đường mà đến
nay mầu sắc vẫn còn tươi nguyên như mới.
MINH
SA-NGUYỆT NHA
Minh
Sa là một dãy núi ở rìa sa mạc, dài 40 cây số, rộng 20
cây số, còn có các tên khác là Thần Sa Sơn và Sa Giác Sơn.
Minh Sa có hai khu vực: khu vực đá bao gồm cả hệ thống hang
động Mạc Cao và khu núi cát, trong đó có điểm du lịch sa
mạc và hồ Nguyệt Nha. Minh Sa-Nguyệt Nha đựơc đề cập
ở đây chính là điểm du lịch núi cát đó.
Minh
Sa có nghĩa là cát kêu, sở dĩ gọi như vậy vì vào những
ngày đẹp trời, gió cát vang lên một loại âm thanh nghe như
tiếng khèn, rất lạ tai. Còn vào ban đêm, trời gió, cát bay
cọ vào nhau tạo thành những đốm hoa lửa rất đẹp. Cát
ở đây rất sạch, màu vàng có hình hạt gạo nhưng nhỏ hơn
nhiều. Tiếng khèn và hoa lửa tạo ra từ cát là những hiện
tượng kỳ lạ không ở đâu có. Minh sa là một dãy núi cao
ngất, toàn cát, không giống như cát ở Phan Thiết của Việt
Nam chỉ toàn những “đụn cát” nhỏ bé. Vào lúc trời không
nóng lắm, hàng ngàn người tới đây chơi trò trượt cát
từ trên đỉnh núi cao chót vót xuống chân núi và lập thành
từng đoàn hàng trăm người cưỡi lạc đà đi trên sa mạc,
giả làm những lái buôn thời cổ trên con đường tơ lụa.
Cảnh tượng trông thật hùng vĩ và thơ mộng, chưa từng thấy
ở nơi nào khác trên thế giới.
Dước
chân núi cát có một hồ nước trong vắt hình bán nguyệt,
trông gần giống cái vành tai nên có tên thật là Nguyệt Nha
Hồ. Trên bờ hồ có một lâu đài cổ nguy nga tráng lệ, gọi
là Nguyệt Nha Các. Có một điều đặc biệt khó hiểu là
hàng ngàn năm trôi qua, hình thù núi cát không hề thay đổi,
mặc dù thỉnh thoảng vẫn xảy ra những trận gió cát mịt
mù nhưng hồ Nguyệt Nha cũng không hề bị cát vùi. Trong Nguyệt
Nha Các, các đồ thờ, tượng Phật và nền nhà cũng không
hề gợn chút bụi cát. Lý do được giải thích như sau: Đó
là vì Minh Sa Sơn nằm ở dưới chân dãy Đại Tuyết Kỳ Liên
sơn hùng vĩ, lại ở một thế tương ứng thế nào đó nên
đã tạo ra các luồng gió xoáy tuần hoàn; cát theo gió bay
đi lượn lờ, lên xuống, nhưng cuối cùng vẫn rơi về đúng
vị trí cũ. Hiện tượng Minh sa kỳ lạ đến mức không thể
hình dung nổi nhưng lại là việc có thật. Các hiện tượng
hoa lửa, cát kêu và gió quẩn là hoàn toàn huyền bí, cùng
với hang động Mạc Cao kỳ vĩ đã làm cho cư dân cổ đại
tin rằng Đôn Hoàng chính là một miền đất Phật và con đường
tơ lụa cũng chính là một con đường Phật giáo.
DƯƠNG
QUAN-NGỌC MÔN QUAN VÀ NHỮNG ÁNG THƠ ĐƯỜNG
Đây
là hai địa danh lững lẫy trên con đường lơ lụa, hai cửa
ải biên thùy xa xôi hẻo lánh có tầm chiến lược quan trọng
đối với đế quốc Trung Hoa cổ đại, nằm giữa vùng sa
mạc hoang vu miền cực Tây Cam Túc. Cả hai càng trở nên nổi
tiếng bởi sau này chúng gắn liền với tên tuổi của nhiều
nhà thơ lớn đời Đường, đặc biệt là Vương Duy và Vương
Chí Hoán. “Biên tái” tức “Quan ải biên thùy” là một
trường phái đặc sắc của Đường thi. Đó là những vần
thơ buồn man mác, thậm chí tê tái, rất dễ đi vào lòng người,
rồi tạo nên những ấn tượng không phai mờ, và trở thành
những áng thơ bất hủ, những tác phẩm để đời. Nói lên
điều này để thấy rằng, cùng với Hoàng Hạc lâu, bến
Tần Hoài, chùa Hàn Sơn…, Dương Quan và Ngọc Môn Quan đã
trở thành niềm háo hức của chúng tôi từ trước khi rời
Việt Nam lên đường.
Buổi
tối, đi một vòng chợ đêm ở Đôn Hoàng, đã thấy người
ta bày bán la liệt đồ mỹ nghệ lưu niệm, khắc vào gỗ,
đá hoặc viết lên vải, tranh hai bài thơ “Tống Nguyên nhị
sứ An Tây” của Vương Duy và “Lương Châu từ” của Vương
Chí Hoán. Đây quả là một cách kinh doanh và quảng cáo du
lịch văn hóa rất khôn ngoan.
Dương
Quan cách Đôn Hoàng 70 cây số về phía Tây Nam, là một sa
mạc khô cằn, toàn cát, sỏi và đá. Cửa ải sau hơn 2.000
năm hiện chẳng còn gì ngoài mấy bức tường đất trơ trọi
trên một quả đồi lớn. Người ta đã dựng lên những tấm
bia đá hoa cương lớn, ghi lại lịch sử của di tích và một
dải hành lang hình cánh cung có mái rất sang trọng để trưng
bày hiện vật cùng với một nhà triển lãm nhỏ. Các dịch
vụ du lịch gồm: một cửa hàng bán đồ lưu niệm có in bài
thơ của Vương Duy, cho du khách thuê ngựa cưỡi để chụp
ảnh. Tương truyền, khi tiễn bạn đi An Tây, Vương Duy đã
làm một bài thơ, trong đó có hai câu cuối: “Khuyến quân
cánh tận nhất bôi tửu, Tây xuất Dương Quan vô cố nhân”
(Khuyên anh hãy cạn chén mời, Dương Quan ra khỏi ai người
cố tri). Ý nhà thơ muốn nói Dương Quan là nơi tận cùng của
trời đất, bên ngoài nó, chẳng còn ai nữa mà cùng nhau vui
vẻ.
Ngọc
Môn Quan cách Đôn Hoàng 120 cây số về phía Tây, nơi đây
còn hoang vắng hơn cả Dương Quan. Chúng tôi đi xe hơi tới
cổng di tích, mua vé vào cửa, rồi lên xe đi tiếp. Nhìn sa
mạc mênh mông, đoán chừng còn phải đi tiếp năm bảy cây
số nữa mới tới nơi, không ngờ từ cổng vào tới chỗ
tham quan cách xa nhau tới 55 cây số, một trường hợp chưa
từng gặp!
Giữa
sa mạc mênh mông, nhiệt độ trong bóng râm lên tới 45oC, một
tìa thành bằng đất trơ trọi, hình vuông, có bốn cửa ra
vào, tồn tại từ thời Tây Hán mà không bị thời gian tiêu
hủy, quả là một kỳ quan. Nguyên nhân: Ở đây không hề
có mưa. Trong cái chốn cùng trời cuối đất, hoang vắng và
câm lặng ấy chỉ có một người đàn ông nằm võng trong
túp lều nhỏ bé để trông coi và một tấm bia đá đơn độc
khắc chìm ba chữ “Ngọc Môn Quan”. Thì ra lúc này nó cũng
hẻo lánh và hoang vắng không kém so với cách đây 13 thế
kỷ mà Vương Chí Hoán đã miêu tả trong bài Lương Châu Từ:
Hoàng
Hà viễn thướng bạch vân gian
Nhất
phiến cô thành vạn nhận san
Khương
địch hà tu oán dương liễu
Xuân
phong bất độ Ngọc Môn Quan.
Dịch
thơ:
Hoàng
Hà mây trắng liền nhau
Thành
côi một mảnh núi cao tiếp trời
Thổi
chi “Chiết liễu” sáo ơi!
Gió
xuân đâu lọt ra ngoài Ngọc Môn.
Nội
dung bài thơ: Người lính thú ở chốn biên ải xa xôi vì nhớ
nhà nên mược cây sáo của người Khương thổi khúc “Chiết
liễu” để nhắn gởi tình cảm về quê hương. Tác giả
bèn khuyên đừng làm chuyện vô ích vì vào mùa xuân, gió Đông
thổi mạnh như vậy mà cũng không ra tới Ngọc Môn Quan, làm
tiếng sáo có thể đi xa được thế.
Sách
Hậu
Hán thư-Tây Vực chí có ghi: “Từ Đôn Hoàng muốn đi
Tây Vực thì ra khỏi Ngọc Môn Quan, đi về hướng Bắc hơn
1.000 dặm tới Y Ngô, tiếp 2.000 dặm nữa thì đến Cao Xương”.
Nhà thám hiểm Trung Hoa, Xa Mộ Kỳ sau khi trích dẫn đoạn
nói trên đã viết tiếp: “Chính Đường Huyền Trang khi đi
Tây Vực đã theo con đường này…”.
Kỳ
sau: Tô Lô Phan - Hỏa Diệm Sơn - Thành cổ Cao Xương - Suối
Bồ Đào