TÌM
HIỂU CÁC TRUNG TÂM PHẬT GIÁO
Ở
ĐÔNG NAM Á TRONG LỊCH SỬ:
TRUNG TÂM PHẬT
GIÁO PHÙ NAM,
SRI VIJAYA VÀ
KALINGA
Văn
Thoàn
Đông
Nam Á có một vị trí địa lý đặc biệt, nằm giữa hai nền
văn hóa lớn là Ấn Độ và Trung Hoa. Ngay từ trước Tây lịch,
trong mục tiêu thương mại, người Ấn đã qua lại vùng này
và đem các yếu tố văn hóa Ấn đến đây. Chứng cứ là
trong sử thi Ramayana (hoàn thành vào thế kỷ thứ II trước
Tây lịch) đã có những ghi chép về đảo Kim Ngân (Java) và
Kim Địa (Suvarnadvipa). Trong bộ Đại Sử của Sri Lanka có ghi
lại chi tiết về đoàn truyền giáo do vua Asoka phái đi, nhắc
đến hai vị trưởng lão là Sona và Uttara, những người đã
đặt chân đến Kim Địa để truyền bá lời Phật dạy và
đã thành công.
Về
phương diện truyền bá văn hóa, so với văn hóa Trung Hoa, thì
văn hóa Ấn Độ đến với Đông Nam Á hoàn toàn bằng con
đường hòa bình thông qua buôn bán, trao đổi thương mại,
và cư dân Đông Nam Á tiếp nhận văn hóa Ấn Độ một cách
tự nguyện. Do đó, cùng với tôn giáo, nhiều lĩnh khác như
ngôn ngữ, chữ viết, nghệ thuật, kiến trúc v.v… dễ dàng
được du nhập, không những không làm ảnh hưởng gì đến
văn hóa bản địa mà còn làm cho yếu tố văn hóa bản địa
thêm phong phú và đa dạng hơn. Có thể nói, văn hóa du nhập
được văn hóa bản địa nuôi dưỡng đồng thời văn hóa
bản địa cũng được văn hóa du nhập làm cho phong phú và
đa dạng. Và tuy sự tiếp nhận Phật giáo tùy theo từng nền
văn hóa phát triển, nhưng nhìn chung nó vẫn tạo cho Phật
giáo một mạch sống mãnh liệt trên thửa ruộng màu mỡ Đông
Nam Á và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chính
trị - văn hóa - xã hội tại Đông Nam Á.
Sức
sống đó chúng ta có thể tìm hiểu qua một số trung tâm Phật
giáo vang bóng một thời từ cổ đến trung đại ở Đông
Nam Á.
1.
Trung
tâm Phật giáo Phù Nam
Phù
Nam là một vương quốc cổ ở Đông Nam Á, theo sử sách Trung
Quốc và các tài liệu khảo cổ của Campuchia thì quốc gia
này lập quốc muộn nhất cũng không thể sau thế kỷ I Tây
lịch. Đến thế kỷ III, Phù Nam mới có quan hệ ngoại giao
với Trung Quốc. Sau khi dựng nước, từ thế kỷ III đến
thế kỷ VI (từ cuối đời Đông Hán đến hết đời Bắc
Triều), Phù Nam là một vương quốc lớn mạnh bá chủ cả
vùng. Theo Tấn thư q. 49, cho biết nước Phù Nam cách Lâm
Ấp (tức Cham Pa) hơn 3000 dặm về phía Tây, nằm trong vùng
biển lớn (tức chỉ vịnh Thái Lan), lãnh thổ của nước
này rộng 3000 dặm, có thành ấp.
Tình
hình Phật giáo ở Phù Nam lúc bấy giờ, Tục Cao Tăng truyện
của Huệ Hạo, vào cuối triều Huệ Đế nhà Tần (290-306)
cho biết có một nhà sư Ấn Độ tên Ma Ha Kỳ Vực chu du Đông
độ đã có đến Phù Nam, nhưng không ghi rõ là sư lưu lại
đây bao lâu, đã làm gì và sinh hoạt Phật giáo ở Phù Nam
như thế nào. Rất may trong bi ký Võ Cạnh ở Nha Trang Việt
Nam có nói đến một người tên là Sri Mara mà các học giả
người Pháp là Barth và Bergaigne cho là Phạm Sư Man, một vị
vua Phù Nam thời xưa đồng thời là một Phật tử sùng tín,
bảo vệ Phật pháp. Bi ký được xác định niên đại
vào khoảng thế kỷ II sau Tây lịch. Qua tư liệu bi ký, có
thể đoán vào thế kỷ II Tây lịch, đạo Phật ở Phù Nam
đã vượt qua giai đoạn truyền bá.
Từ
năm 287 đến 357, sử sách Trung Quốc không thấy ghi chép gì
về tình hình nước Phù Nam và cũng không thấy chép gì về
Phật giáo, có thể thời gian này trong nước Phù Nam gặp rối
ren. Đến năm 484 triều Vĩnh Minh thứ 2, vua Phù Nam tên Jayavarman
đã sai một đạo nhân người nước Thiên Trúc tên là Thích
Na Già Tiên dâng biểu văn, xin Hoàng đế Trung Quốc xem xét
phong tục văn hóa mà giúp cho Phật pháp hưng thịnh vì rằng
hiện tăng chúng tu tập ngày càng đông, pháp sự ngày càng
được mở rộng… Và vua Jayavarman hiến dâng cho Hoàng đế
Trung Quốc một pho tượng long vương bằng vàng, một pho tượng
Phật bằng bạch đàn. Trong Tục Cao Tăng truyện, q. 1 cho biết
thời bấy giờ nước Phù Nam có tín ngưỡng Phật giáo. Trong
thời gian vua Jayavarman (484-515) ở ngôi, có 2 nhà sư người
Phù Nam đến Trung Quốc dịch kinh, đó là Sànghapàla (Tăng
Già Bà La) và Mandr (Mạn Đà La). Hai nhà sư Phù Nam này không
chỉ dịch được nhiều bộ kinh mà còn mang nhiều kinh tiếng
Phạn từ Phù Nam đến Trung Quốc. Những sự thực này chứng
minh rõ ràng lúc bấy giờ ở Phù Nam Phật giáo rất thịnh
hành.
Theo
Lương thư, q. 54, Phù Nam truyện, ghi chép đến năm 519 Rudravarman
- con trai thứ của Jayavarman sai sứ giả dâng cho Trung Quốc
tượng Phật gỗ chiên đàn của Thiên Trúc. Rudravarman là một
vị vua Phật tử, tuân phụng Phật pháp, tín thành Tam Bảo.
Năm 539, sứ giả cuối cùng của Phù Nam đến Trung Quốc, nói
rằng ở nước Phù Nam có tóc Phật, dài một trượng hai thước.
Nghe vậy, Lương Vũ đế xuống chiếu sai Thích Vân Bảo theo
sứ Phù Nam về nước để rước tóc Phật. Theo Tục Cao Tăng
truyện, q. 1 thì khoảng năm Đại Đồng (535-545) có sắc chiếu
bảo Trương Phạm đến nước Phù Nam xin thỉnh các bộ kinh
luận của các bậc danh tăng… Nước Phù Nam nghe tin liền
cho Chân Đế (Gumrata) tuyển chọn những bộ kinh luận bổ
ích để đưa sang Trung Quốc. Đoàn người đến kinh đô Trung
Quốc bấy giờ vào tháng 8 nhuận năm Thái Thanh 2 (548).
Theo
Lịch Đại Tam Bảo Kỷ, q. 11 và Tục Cao Tăng Truyện, q. 1
đều ghi chép số kinh luận mà Chân Đế đưa đến Trung Quốc,
toàn bộ sách kinh phiên dịch gồm hơn 2 vạn quyển, phần
lớn là kinh sách chưa truyền đến Trung Quốc. Điều đó chứng
minh rằng lúc bấy giờ Phù Nam là một cường quốc về văn
hóa ở vùng Đông Nam Á. Và cũng là một trung tâm Phật giáo
ở phương Đông, ngay cả Trung Quốc phải sang đây để thỉnh
kinh và các bậc danh tăng về hoằng pháp.
Tài
liệu của Tịnh Hải pháp sư cho biết, nước Phù Nam lập
quốc từ khoảng thế kỷ I sau Tây lịch, đến thế kỷ V,
VI, giai đoạn đất nước đạt đến mức cực thịnh. Trong
khoảng trên, Phù Nam là một vương quốc giàu mạnh ở vùng
Đông Nam Á, và cũng là một nhà nước Ấn Độ hóa đầu
tiên và quan trọng nhất ở vùng này. Về mặt tôn giáo, đầu
tiên nước Phù Nam theo đạo Bà la môn về sau theo đạo Phật.
Thế kỷ V, VI là giai đoạn thịnh đạt của đạo Phật, Phù
Nam bấy giờ giữ vai trò trung tâm chuyển dịch lớn của Phật
giáo về phía Đông. Kể từ vua Rudravarman về sau, sử sách
Trung Quốc không thấy ghi chép một vị vua Phù Nam nào khác.
Vào khoảng năm 540 trở về sau, thủ đô Phù Nam bị Chân Lạp
công phá và trở thành thuộc quốc. Đến năm 627 mới hoàn
toàn bị Chân Lạp tiêu diệt.
2.
Trung
tâm Phật giáo Sri Vijaya và Kalinga
Vương
quốc Sri Vijaya và vương quốc Kalinga là hai quốc gia sơ kỳ
của quần đảo Sumatra và Java. Sau khi vương quốc Phù Nam suy
sụp, đường thương mại quốc tế trên biển chuyển qua eo
biển Sunda. Sri Vijaya là một quốc gia mới xuất hiện ở khu
vực này vào cuối thế kỷ VII. Chính nhờ nằm trên địa
bàn trù phú và chiến lược thương mại nên đã mau chóng
làm chủ được eo biển quan trọng này. Đây là điều kiện
thuận lợi để Sri Vijaya phát triển nhanh chóng và trở thành
một quốc gia hùng mạnh, một trung tâm kinh tế, văn hóa đồng
thời là một trung tâm Phật giáo quan trọng khu vực Đông
Nam Á lúc bấy giờ. Sau sự sụp đổ của vương quốc Phù
Nam, trung tâm Phật giáo của khu vực cũng đã chuyển ra hải
đảo. Theo Nghĩa Tĩnh pháp sư - người đã học được chữ
Phạn và lưu lại đây mấy năm để dịch kinh Phật kể lại,
kinh đô Sri Vijaya có hàng nghìn nhà sư hành đạo và pháp sư
đã khuyên mọi người rằng, nếu như có một nhà sư Trung
Quốc nào muốn sang Ấn Độ thì trước hết hãy lưu lại
đây vài năm để học hỏi những điều cần thiết rồi hãy
đi (1).
Tình
hình trên đảo Java cũng tương tự, một số quốc gia sơ kỳ
đã hình thành. Nổi bật nhất là vương quốc Kalinga. Thời
kỳ hưng thịnh nhất của Kalinga là thời kỳ trị vì của
vương triều Sailendra (khoảng năm 750-860). Sailendra là một
tộc người Mã Lai di cư từ đất liền ra đảo vào khoảng
giữa thế kỷ VII. Họ là những người có kinh nghiệm trồng
lúa, buôn bán trên biển gặp, gặp được điều kiện thuận
lợi lúc bấy giờ nên họ mau chóng đưa Kalinga trở thành
một quốc gia hùng mạnh và ưu thế hơn cả Sri Vijaya về quân
sự (thế kỷ VII-VIII)(2). Thời kỳ này, những con thuyền của
họ tung hoành ngang dọc phía Nam biển Đông, chuyên chở những
khát vọng chính trị lẫn giao lưu văn hóa của người Java.
Vương
triều Sailendra cũng là vương triều rất sùng đạo Phật.
Vào thế kỷ VII-VIII, Kalinga đã trở thành một trung tâm Phật
giáo quan trọng. Điều có thể chứng minh sự phát triển của
Phật giáo và cũng là việc làm lớn nhất mà vương triều
này đóng góp cho Phật giáo đó là công trình Borobudua. Nơi
giữa đồng bằng Kêdu trù phú, Borobudua thách đố với thời
gian để khắc ghi một thời kỳ huy hoàng của Phật giáo ở
xứ đảo quốc Kalinga.
Thật
đáng tiếc, không giống như những quốc gia lục địa, cũng
từng là trung tâm Phật giáo khu vực một thời, những tư
liệu về tình hình Phật giáo ở hai đảo quốc sơ kỳ này
cho đến nay cũng chỉ là thánh tích Borobudua và một chút ghi
chép rời rạc của một số nhà nghiên cứu. Không hiểu có
phải vì sự thay thế bằng vai trò của Hồi giáo hay không
mà những gì đạo Phật đã tạo nên cũng bị chôn vùi theo
“cái chết tự nhiên” của nó.
(1,
2) Lương Ninh - Hà Bích Liên 1998: Lịch sử các nước Đông
Nam Á . Đại học Mở-Bán công Tp. Hồ Chí Minh Xuất bản,
tr 186 – 188.