NIỀM
TIN
Nguyễn
Thế Đăng
Gần
đây, báo chí phản ánh nhiều về các điểm ăn chơi thác
loạn, việc xâm phạm đời sống riêng tư, những ổ mại
dâm mà người can dự không thuộc dạng khó khăn về
kinh tế, những động ma túy, thuốc lắc mà thanh thiếu niên
là đối tượng chủ yếu; rồi nạn tham nhũng, môi trường
bị ô nhiễm trầm trọng, bạo động liên miên… , đó là
những biểu hiện của một đời sống thiếu niềm tin.
Niềm
tin là động cơ cho hành động tích cực và kết qủa tích
cực. Chẳng hạn gia đình (và rộng hơn là xã hội) đang xảy
ra lộn xộn, khủng hoảng (gia đình và xã hội khi đang tiến
về phía trước thì luôn luôn gặp trở ngại, khủng hoảng,
thách thức). Là một thành viên trong gia đình, nếu ta có thái
độ tiêu cực, không có niềm tin (tôi chẳng làm được gì
đâu, và chẳng có ai có thể thay đổi tốt hơn đâu) thì
tình thế chắc chắn sẽ xấu hơn. Khi không có niềm tin, chúng
ta dễ dàng đổ thừa, dễ dàng để mặc, buông xuôi, dễ
dàng sống chung với cái tiêu cực, cái xấu và như vậy là
sẵn sàng tiếp tay cho cái tiêu cực, cái xấu.
Niềm
tin là cần thiết cho mỗi người và cho xã hội, cho cả thế
giới. Nhưng niềm tin là gì, là tin vào cái gì? Làm sao để
có niềm tin?
Trước
hết chúng ta tìm hiểu con người lý tưởng từ một số đoạn
trong kinh Duy Ma Cật. Một con người lý tưởng (Bồ tát) có
những tính cách sau: “Không lìa bỏ tình thương và lòng bi,
chỉ dạy cho người khác không hề mệt chán, tâm rộng rãi
(bố thí), lời nói dịu dàng (ái ngữ), hàng động vị tha
(lợi hành), cùng làm việc với người khác (đồng sự), trồng
các căn lành không hề nhàm mỏi, cầu chân lý không lười
biếng, diễn bày chân lý không tiếc giữ, với vinh nhục không
mừng hay lo, không khinh thường người mới học, kính trọng
người đang tự hoàn thiện, không ham cái vui của mình, vui
theo cái vui của người, thấy người không đạo đức khởi
tưởng cứu độ, luôn luôn trang nghiêm cho thế giới để
thành một cõi sạch đẹp, thoát khỏi các ràng buộc mà gánh
vác chúng sinh, điều phục thân khẩu ý do đó tiến bộ thường
trực, dùng nhẫn nhục để nhiếp độ sân hận, không sợ
hãi trước khó khăn của thế giới sinh tử, dùng các thiện
căn để cứu vớt những người ít phước đức…
Qua
chỉ một số tính cách này, chúng ta thấy con người lý tưởng
tỏa sáng niềm tin và những điều tích cực. Niềm tin này,
cư sĩ Duy Ma Cật đã nói ra, trước khi giảng về tính cách
của Bồ tát: “Vì chúng sinh bệnh cho nên tôi bệnh”. Niềm
tin ấy là thế gới này có thể chữa được. Sự có mặt
của một người theo con đường lợi tha của Bồ tát nơi
thế giới này là sự khẳng định niềm tin “thế giới này
có thể cứu chữa được”.
Đời
sống con người có ba phạm trù căn bản, ba mối tương quan
căn bản: với chính mình, với người khác và với thế giới.
Chúng ta hãy xem xét niềm tin là gì trong ba phạm trù ấy.
Với
chính mình: Niềm tin đối với chính mình là tin vào khả năng
mình có thể tiến bộ hơn, tốt hơn. Đó là niềm tin vào
khả năng tự hoàn thiện, và do đó, đời sống là nơi để
hoàn thiện chính mình. Khả năng tự hòan thiện đến mức
độ Chân Thiện Mỹ, nói theo thuật ngữ Phật giáo Đại thừa
thì khả năng ấy là Phật tánh, khả năng thành một con người
toàn thiện, thành Phật, và khả năng đó luôn luôn hiện hữu
một cách tiềm thể nơi mỗi con người như một hạt giống
của Chân Thiện Mỹ. Với niềm tin vào chính mình này, cuộc
đời con người có ý nghĩa: mỗi ngày mỗi hoàn thiện, mỗi
ngày mỗi đổi mới, mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn, như câu
nói của Khổng giáo, “Nhật tân, nhật nhật tân” (Đại
học). Từ đó, người ta không chỉ có niềm tin đối với
chính mình, mà còn cả yêu: tin yêu mình. Đây là nguồn gốc
cho mọi sự tích cực tốt đẹp của con người đối với
cuộc đời mình.
Với
người khác: Niềm tin cũng như thương yêu, người ta không
thể thương yêu người khác nếu không thể thương yêu chính
mình, cũng thế, người ta không thể tin vào người khác nếu
chưa tin vào chính mình. Và càng tin vào chính mình chúng ta
càng tin vào người khác, ngược lại, càng nghi ngờ mình thì
càng nghi kỵ người khác. Khi cuộc đời chúng ta bắt đầu
dựa trên khả năng tự hoàn thiện mình và cảm thấy nơi
mình có sự hiện diện của hạt giống tự hoàn thiện ấy,
và khi chúng ta bắt đầu có sự tin yêu đối với chính mình
và cuộc sống của mình, tất nhiên chúng ta thấy mọi người
khác đều có khả năng ấy. Tất cả mọi con người đều
xứng đáng sống để khai thác khả năng tự hoàn thiện, đều
đáng được tin yêu như Phật giáo quan niệm: “Tất cả chúng
sinh đều có Phật tính”.
Tin
rằng mọi người đều có khả năng tự chuyển hóa, tự cải
thiện, tự hoàn thiện là một điều rất quan trọng. Sở
dĩ tôi khoan dung , nhẫn nhục, kiên nhẫn với anh mặc dù anh
rất sai trái, rất xấu xa, rất tệ hại, rất tàn ác là vì
tôi không cắt đứt hoàn toàn với anh, và bởi vì tôi vẫn
tin rằng nơi anh cũng có hạt giống của sự tự chuyển
hóa, tự hoàn thiện mà đến một lúc hội đủ những duyên
lành khác sẽ nứt mầm và lớn lên. Lịch sử nhân loại cũng
có lúc đi vào ngõ cụt tưởng không có lối ra, như Đại
chiến thế giới thứ hai với 6 triệu người chết trong các
trại tập và phòng hơi ngạt, và với hàng chục triệu người
chết vì giết nhau, nhưng rồi sau đó, nhân loại vẫn tiến
tới…
Niềm
tin vào con người (dù tệ hại, tàn ác) này được diễn tả
trong kinh Pháp Hoa, với Bồ tát Thường Bất Khinh khi đối
xử với những kẻ theo chế nhạo, đánh đập mình. Ngài chỉ
nói: “Tôi không dám khinh thường các người vì các người
sẽ thành Phật”. Thái độ của Đức Thích Ca đối với
người suốt đời làm hại mình là Đề Bà Đạt Đa cũng
vậy, Ngài nói: “Tất cả công đức của ta đều là nhờ
Thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa cả, qua vô lượng kiếp về
sau, ông Đề Bà Đạt Đa sẽ thành Phật, hiệu là Thiên Vương
Như Lai…”. Tất cả mọi giới hạnh Phật giáo đều căn
cứ vào niềm tin yêu con người như vậy, và đó là niềm
lạc quan vô bờ bến đối với người khác, đối với toàn
bộ cuộc đời. Chính niềm tin yêu con người bất chấp trở
ngại, bất chấp thời gian đã làm nên cốt lõi đời sống
lạc quan của con người.
Cũng
xin nói thêm, niềm tin yêu mỗi người là một hoa sen, dù trong
bùn dưới nước, chưa nở hay đã nở cũng là một điểm
quan trọng trong truyền thống Phật giáo Việt Nam. Thiền sư
Chân Nguyên (1647-1726) trong Thiền tông bản hạnh viết:
Trần
trần sát sát Như lai
Chúng
sinh mỗi người mỗi có hoa sen
Hoa
là bản tính tự nhiên
Bao
hàm thiên địa phương viên cùng bằng
Ai
ai đạt giả đồng đồ
Mỗi
người mỗi có minh châu trong nhà
Mùa
xuân vạn thụ khai hoa
Cành
cao cành thấp vậy hòa chứng nên.
Tin
vào chính mình và vào người khác là tin vào sự chiến thắng
tối hậu, sự vinh quang tối hậu, sự tốt đẹp tối hậu
của mỗi con người, và những khuyết điểm, xấu ác đều
có thể chữa lành vì chúng và nguyên nhân sinh ra chúng là
vô minh, vô thường. Từ niềm tin này, chúng ta mới có thể
phát khởi được tâm từ bi với mỗi con người. Có thể
nói thêm, theo những nhà tâm lý học liệu pháp, mọi sự chữa
lành những phức cảm (complexes) đều dựa vào tình thương,
không có tình thương sẽ không có sự chữa lành tâm thần
nào (có thể xem: The Road Less Traveled của bác sĩ M. Scott Peck,
cuốn sách bán chạy nhất trong gần 600 năm liên tiếp ở Mỹ).
Với
thế giới: thế giới không chỉ cho chúng ta chỗ ở, thực
phẩm, và y phục (điều kiện căn bản nuôi dưỡng sự sống
của chúng ta) mà nó còn dạy cho chúng ta những bí mật của
sự sống: sự hài hòa của thế giới, sự tiến hóa của
sự sống. Thế giới ẩn giấu cái bí mật của con người
và vật chất, nên bản chất tối sơ và tối hậu của sự
vật và con người là gì là mục đích nghiên cứu của mọi
khao học, mọi tôn giáo.
Với
một thế giới đã giữ gìn và cưu mang cho sinh mạng và sự
phát triển tinh thần của chúng ta như vậy, chúng ta không
những không nên tiêu phí quá đáng cho nhu cầu vật chất để
làm cho nó hư hoại, còm cõi đi, mà chúng ta còn phải nuôi
dưỡng nó, làm cho nó tốt đẹp như chính sự sống của chúng
ta. Nói theo Phật giáo, phải trang nghiêm cho nó để biến nó
thành một cõi tốt đẹp, một Tịnh độ. Thế giới
như chúng ta hiện có là một thiên nhiên thứ hai, vì nó đã
qua sự chuyển hóa, sáng tạo một lần nữa của con người.
Thế giới đó là tác phẩm của chúng ta, thế giới của chúng
ta như thế nào thì tâm hồn của chúng ta cũng sẽ như vậy.
Nó không chỉ là anh em sinh đôi của chúng ta mà còn chính
là chúng ta, nên tin yêu thế giới cũng chính là tin yêu con
người.
Chúng
ta có những niềm tin: tin vào chính mình, vào người khác,
vào thế giới và vào cứu cánh rốt ráo của ba cái đó. Chúng
ta cũng được dạy rằng cứu cánh rốt ráo của ba cái đó
nằm ngay tại đây và bây giờ, không chờ một lịch sử xa
xôi nào hay một đấng tạo hóa nào se ban phát cho chúng ta.
Ba niềm tin trên tương tác với nhau, hòa trộn với nhau, cái
này nâng cấp cái kia, để thành một niềm tin duy nhất: tin
yêu toàn bộ đời sống, tin yêu toàn bộ hiện hữu. Niềm
tin ấy là một cuộc cách mạng cho mỗi một đời người.
Vì chính từ đây người ta mới bắt đầu trả lời cho câu
hỏi tối hậu của mỗi người: Sống để làm gì? Đâu là
ý nghĩa của đời người? Và cũng chính từ đây mà con người
có hòa bình thực sự, không còn thù hận, chiến tranh, giành
phần thắng về cho mình, không còn vì điều lợi cho mình
còn người khác thì sao cũng mặc. Chính từ đây mà chúng
ta mới thực sự biết hai chữ đơn giản “tin yêu” là gì,
vì hiện giờ, đời sống của chúng ta vẫnnằm trong vòng
vây của nghi kỵ, sợ hãi, tham tàn, hiếu chiến và ích kỷ.
Toàn
bộ đời sống, toàn bộ hiện hữu là cái còn lâu xa chúng
ta mới biết được trọn vẹn, vì nói theo kinh Pháp Hoa, đó
là cái mà chỉ những người tiến hóa đến tột đỉnh mới
có thể biết: “chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu
tột”. Nhưng trên con đường đi đến sự thấu biết tất
cả và thương yêu tất cả - biết và thương là điều mà
hiện giờ, ngay cả những người hàng đầu của xã hội con
người cũng còn lờ mơ ø- thì chỉ sự tin yêu và mong muốn
học hỏi, khám phá thôi cũng đã đủ ý nghĩa cho một kiếp
người.