SỰ
MẤT CĂN BẢN TRONG CUỘC SỐNG
Đặng
Đức Trọng
Những
người có được một số hiểu biết và kỹ năng vượt trội
hơn người khác, được gọi là có đẳng cấp “pro”, làm
thần tượng cho giới trẻ, những người đam mê trong một
nghề nghiệp như ca sĩ, diễn viên điện ảnh, người mẫu,
huấn luyện viên, cầu thủ bóng đá … được ca ngợi trên
báo, đài, phim ảnh, tiểu thuyết… vô tình làm cho nhiều
bạn trẻ dễ hiểu lầm đó là điều trọng yếu. Khi bàn
luận, các giá trị phụ này làm cho những thanh niên không
có những hiểu biết đó cảm thấy mình phải được hiểu
biết như những người khác, có như vậy, họ mới tự
tin. Đó là nguyên nhân gần làm cho giới trẻ mất định hướng,
và muốn tự tin họ đã chứng tỏ bằng nhiều cách khac nhau
như hút thuốc lá, thuốc lắc, bài bạc, nhậu nhẹt…
Cuộc
sống ngày nay được đề cập qua rất nhiều “giá trị”,
như: danh tiếng, tiền bạc, tri thức, sự sung túc, quần áo
đẹp, xe đời mới, điện thoại di dộng đời mới… Trong
hàng loạt “giá trị” đó thì cái nào là chính, cái nào
là phụ, cái gì có thể bỏ qua và cái gì không thể bỏ qua?
Đấy thực sự là những câu hỏi căn bản và có tính cách
định hướng cho cuộc đời con người. Điều này đã được
trả lời trong kinh Phật hơn 2.500 năm về trước. Chúng ta
hãy xem đoạn đối thoại bổ ích của Bà la môn Sonadanda và
Đức Phật trong Trường Bộ Kinh.
Khi
thấy có nhiều người Campà đến tại hồ nước Gaggara, nơi
Đức Phật tạm nghỉ, để yết kiến Ngài, Bà la môn Sonadanda
nửa muốn yết kiến Đức Phật, nửa không muốn. Ông ở
vào vị trí quan trọng về tinh thần tại vùng đó, nên khi
những người Campà đến Gaggara, ông không thể xem mình là
người không biết gì về sự kiện đó. Vị trí cao trong xã
hội có thể dẫn ông tới việc phải miễn cưỡng làm các
điều không mong muốn. Nhưng khi được hội chúng khuyên không
nên đi, ông lại cố ra sức chứng tỏ rằng việc đến yết
kiến Đức Phật là cần thiết. Hiện tượng không muốn gặp
gỡ một người đầy đủ về đạo đức và trí tuệ, người
mà khi tiếp xúc họ có thể dễ dàng thấy được các nhược
điểm của mình, trong kinh Phật gọi là tâm lý không muốn
yết kiến người có trí. Và đây cũng là một tâm lý phổ
biến trong xã hội chúng ta hôm nay.
Thế
là ông Sonadanda đi yết kiến Đức Phật cùng với những người
khác. Ta hãy theo dòng suy nghĩ của ông: “Nếu Sa môn
Gotama hỏi ta một câu, câu trả lời của ta có thể không
làm cho tâm trí Ngài được thoả mãn; và nếu Sa môn Gotama
nói với ta như sau: Này Bà la môn, câu hỏi ấy nên trả lời
như thế này, thời như vậy, hội chúng này sẽ khinh miệt
ta: Bà la môn Sonadanda là ngu si bất tài không thể làm cho tâm
trí Sa môn Gotama thoả mãn với câu trả lời câu hỏi ấy”.
Ông tiếp tục lo lắng. Sự việc càng trở nên nghiêm trọng
hơn khi tất cả các tiếng tăm mà ông có, được xem là nguyên
nhân trực tiếp để ông có được thu nhập dồi dào. Câu
chuyện xảy ra cách đây 2.500 năm xem ra không khác gì câu chuyện
thời hiện đại. Ông Sonadanda đã lo lắng đến độ muốn
quay về. Nhưng vì sợ mang tiếng, sợ giảm thu nhập, ông lại
tiếp tục đi theo đoàn người.
Khi
đến nơi, ông chào hỏi Đức Phật và ngồi xuống, nhưng
những nỗi lo sợ của ông lại tiếp tục nổi lên. Đức
Phật biết như vậy nên đã tìm cách gỡ rối cho ông Sonadanda.
Ngài hỏi một câu thuộc về phần kinh điển của giai cấp
tăng lữ: “Này Bà la môn, những vị Bà la môn phải đầy
đủ bao nhiêu đức tính mới được gọi là Bà la môn, và
để có thể khi nói: tôi là Bà la môn, lời nói ấy là chân
chánh, không phải lời nói dối”. Quả thật đây là một
câu hỏi “chuyên môn” mà ông Sonadanda có thể trả lời
được. Đức Phật đang hỏi về tiêu chuẩn của một Bà
la môn chân chánh, cũng tựa như ngày nay chúng ta hỏi về tiêu
chuẩn để một con người công dân tốt có thể nói về mình
mà không thấy ngượng. Bạn có cần phải là người sành
điệu hay không, bạn có cần phải là người có tri thức
cao cho phù hợp với thời đại phát triển vũ bão của công
nghệ không, bạn có cần phải ăn nói có duyên, dẫn dắt
các câu chuyện thiện nghệ không, có cần ăn mặc theo mốt
không?...
Ông
nêu ra năm tiêu chuẩn:
1.
Có truyền thống gia đình, không bị một gièm pha nào về
cả phụ hệ và mẫu hệ cho đến bảy đời về trước,
2.
Có các hiểu biết về mật chú, về kinh Vệ đà, về khoa
học tự nhiên và nhân tướng học,
3.
Đẹp trai, khả ái, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng,
4.
Có đức hạnh, đầy đủ giới hạnh cao dày,
5.
Học rộng, sáng suốt.
Mặc
dù có đầy đủ tất cả các tiêu chuẩn trên, ông vẫn không
tự tin. Đây chính là điều mà chúng ta cần phải chú ý tới,
bởi vì các vấn đề của con người hiện đại ngày nay cũng
vẫn tương tự như xưa, và người ta cứ nghĩ rằng phải
có thêm gì đó thì mới tự tin… Để hướng dẫn ông Sonadanda,
Đức Phật hỏi tiếp: “Này Bà la môn, trong năm đức tính
này, có thể bỏ qua một đức tính nào, chỉ có bốn đức
tiùnh thôi, mà vẫn có thể gọi là Bà la môn, và để có
thể khi nói: tôi là Bà la môn, lời nói ấy là chân chánh,
không phải lời nói dối”. Đây là một kỹ thuật đặc
trưng của Phật giáo dựa trên đặc tính không xác thực của
tất cả các quan điểm về cái tôi. Tên của nó là kỹ thuật
từ bỏ, buông bỏ hay đoạn giảm. Nó sử dụng để làm rõ
những điều cốt yếu, định hướng và điều chỉnh hành
động. Cách đây nhiều năm, tôi đã đọc cuốn sách nổi
tiếng của Dale Carnegie Quẳng gánh lo đi và vui sống. Thật
đáng ngạc nhiên, kỹ thuật từ bỏ rất hữu ích này lại
không được nhắc tới, ngoại trừ một đoạn rất mờ nhạt
nói tới ý của Emerson: “Trừ ta ra, không cái gì làm cho ta
bình tĩnh được hết”.
Ông
Sonadanda trả lời như sau: “Tôn giả Gotama, có thể được.
Tôn giả Gotama, trong năm đức tính này, chúng tôi có thể
bỏ dung sắc”. Như vậy, ông đã bỏ tiêu chuẩn thứ ba.
Đây là một điều cực kỳ cơ bản mà giới trẻ cần được
giáo dục cẩn thận. Cùng với dáng vẻ bên ngoài, các thứ
phụ tùng như nước hoa C, dầu gội đầu R, điện thoại di
dộng N, sự xăm mình… đang tạo thành sự “sành điệu”
và “niềm tự hào” của không ít người. Gần đây, tôi
có đọc một bài báo viết về một cô gái bị hỏng hôn
nhân vì chú rể nhìn thấy các hình ảnh xăm trên ngực cô
gái. Hẳn là khi cô xăm hình ảnh cô không nghĩ đến được
cái hậu quả “kỳ lạ” như thế.
Đức
Phật hỏi tiếp: “Này Bà la môn, trong bốn đức tiùnh này,
có thể bỏ qua một đức tính nào, chỉ có ba đức tính thôi,
mà vẫn có thể gọi là Bà la môn, và để có thể khi nói:
tôi là Bà la môn, lời nói ấy là chân chánh, không phải lời
nói dối”. Bây giờ đã thấy định hướng của vấn đề,
ông trả lời: “Tôn giả Gotama, có thể được. Tôn giả
Gotama, trong bốn đức tính này, chúng tôi có thể bỏ mật
chú”. Ta cần nên biết sự thực hành mật chú có thể dẫn
đến sự phát triển những năng lực thần thông. Hiện nay,
qua các phương tiện thông tin đại chúng, ta thường thấy
nói đến những người có khả năng đặc biệt như nhìn thấy
những thông tin về những người đã chết từ lâu hay những
ảnh tượng mà người bình thường như chúng ta không thấy
được.
Thể
hiện thông thường của tiêu chuẩn này nằm ở lòng tự hào
do có được một số hiểu biết và kỹ năng ở một lĩnh
vực nào đó vượt trội hơn những người khác, đó là những
người có tính cách chuyên nghiệp được gọi là có đẳng
cấp “pro”…, làm thần tượng cho giới trẻ. Những người
đam mê trong một nghề nghiệp như ca sĩ, diễn viên điện
ảnh, người mẫu, huấn luyện viên, cầu thủ bóng bá …
được ca ngợi trên báo, đài, phim ảnh, tiểu thuyết… vô
tình làm cho nhiều bạn trẻ dễ hiểu lầm đó là điều trọng
yếu. Các chương trình truyền hình tôn vinh những người nắm
được nhiều thông tin về các đội bóng ở tận bên kia trời
Tây, những người nghe được nhiều bài hát, biết được
chuyện của các ca sĩ thời danh… Khi bàn luận, các giá trị
phụ này làm cho những thanh niên không có những hiểu biết
đó cảm thấy mình vô giá trị và mình phải được hiểu
biết như những người khác, có như vậy, họ mới cảm thấy
tự tin. Đó là nguyên nhân gần làm cho giới trẻ mất định
hướng, và muốn tự tin họ đã chứng tỏ bằng nhiều cách
khác nhau như hút thuốc lá, thuốc lắc, bài bạc, nhậu…
Qua đó ta thấy ngay cả sự giỏi về học vấn, về nghề
nghiệp chuyên môn… nhưng được dùng để chê bai người
khác cũng là loại kiến thức vô ích. Cũng cần phải nói
thêm, các tiêu chuẩn hiểu biết về xã hội như ông Sonadanda
đề cập là các vấn đề về ngôn ngữ, lịch sử, lễ nghi,
xem tướng… vốn là những kiến thức mà có nhiều người
trong chúng ta vẫn còn mong ước được biết.
Câu
chuyện được tiếp tục, Đức Phật lại hỏi: “Này Bà
la môn, trong ba đức tính này, có thể bỏ qua một đức tính
nào, chỉ có hai đức tính thôi, mà vẫn có thể gọi là Bà
la môn, và để có thể khi nói: tôi là Bà la môn, lời nói
ấy là chân chánh, không phải lời nói dối”. Ông trả lời
tự tin: “Tôn giả Gotama, có thể được. Tôn giả Gotama,
trong ba đức tính này, chúng tôi có thể bỏ thọ sinh”. Ông
đã bỏ luôn tiêu chuẩn thứ nhất. Khi đề cập đến thân
thế, ta thấy đây quả thực là vấn đề khó bỏ qua. Lúc
đó, mọi người đi theo ông Sonadanda nhao nhao lên phản đối.
Chúng ta phải biết, thân thế trong sạch mà mọi người đang
đề cập ở đây là sự trong sạch của gia tộc trong bảy
đời liên tiếp chứ không giống như sự tự hào đơn giản
của những người ngày nay có nguồn gốc gia đình giàu sang
hay có truyền thống hơn những người khác chỉ trong hiện
tại. Ông Sonadanda đã chỉ vào Ankara, người cháu của mình,
vốn đầy đủ các tiêu chuẩn mà ông đã nêu: “ Này các
hiền giả nếu thanh niên Ankara giết hại các loại hữu tình,
lấy của không cho, đi tư thông với vợ người, nói láo,
uống rượu, như vậy này các hiền giả, nay dung sắc làm
được cái gì, thọ sinh làm được cái gì?”.
Đến
đây vấn đề đã được giản lược rất nhiều. Tuy nhiên,
Đức Phật vẫn hỏi tiếp: “Này Bà la môn, trong hai đức
tính này, có thể bỏ qua một đức tính nào, chỉ có hai đức
tính thôi, mà vẫn có thể gọi là Bà la môn, và để có thể
khi nói: tôi là Bà la môn, lời nói ấy là chân chánh, không
phải lời nói dối”. Đức Phật đã cố ý gợi mở cho ông
Sonadanda để ông có thể đi đến sự buông bỏ toàn diện.
Khi đọc tới đoạn này, tôi lại nhớ đến đoạn kinh Đức
Phật ví dụ các hiểu biết như là chiếc bè, khi dùng nó
qua sông rồi thì nên để lại bờ sông, để mà “Hành đáo
thủy cùng xứ, Tọa khán vân khởi thời”. Thi sĩ Bùi Giáng
đã bình luận như sau
Thưa
rằng hỏi nữa là sai,
Mùa
xuân đang đợi bước ai đi vào.
Tuy
không hiểu hết dị ý của câu hỏi, ông cũng có câu trả
lời như sau: “Tôn giả Gotama, không thể được. Tôn giả
Gotama, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới
hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới
hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy
có giới hạnh; người có giới hạnh nhất định có trí tuệ,
người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh
và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời”.
Sự khác biệt giữa các kiến thức học tập được (tiêu
chuẩn 2) và trí tuệ (tiêu chuẩn 5)ø là điều mà nhiều người
ngày nay vẫn chưa rõ. Thực ra trí tuệ là loại hiểu biết
đặc biệt nhằm nhận ra việc thiện, việc bất thiện và
nhân quả của hành động, tức là về các vấn đề căn bản
của cuộc sống. Nếu không nắm được các vấn đề này,
Đức Phật nói rằng con người ta sẽ “như một vật mất
gốc, tự làm mình bị thương tích, tự làm mất nhiều phước
đức”. Chúng ta suy nghĩ gì về đối thoại trên, trong khi
giáo dục của chúng ta hiện nay, trình độ văn hoá thường
được hiểu nhầm là mức độ về trí tuệ.
Câu
trả lời của ông Sonadanda cho thấy đây là vấn đề căn
bản của cuộc sống, và là phương cách tạo ra sự tự tin
mạnh mẽ. Emerson và cả Carnegie cũng không phân tích sâu xa
được vấn đề như vậy. Đức Phật có đặt ra thêm một
câu hỏi nữa: “Nhưng này, Bà la môn, thế nào là giới hạnh
và thế nào là trí tuệ” và được trả lời như sau: “Tôn
giả Gotama, chúng tôi chỉ biết có như vậy là tột bực của
vấn đề”… Chúng ta tạm dừng lại ở đây, chỉ có một
lời kèm thêm nho nhỏ, như đã nói ở trên, các giá trị phụ,
bên ngoài, khác với đạo đức và trí tuệ thì có thể bỏ
qua. Nhưng câu hỏi đặt ra là tất cả các giá trị phụ có
thể sử dụng được không, nó hoàn toàn vô ích hay là
có ích lợi gì? Tôi cũng xin dẫn đoạn đối thoại trong Kinh
bộ Tăng chi:
- Này
Ananda, mọi giới cấm (nguyên tắc, điều luật, lễ nghi),
sinh sống (làm việc, thụ hưởng, vui chơi), phạm hạnh (đạo
đức), sự hầu hạ căn bản (sự phục vụ cho cá nhân và
xã hội) đều có quả (có ích lợi) phải không?
- Ở
đây, bạch Thế tôn, không thể trả lời một chiều được!
- Vậy,
này Ananda, hãy phân tích thêm!
- Bạch
Thế tôn, mọi giới cấm, sinh sống, phạm hạnh, sự hầu
hạ căn bản nào được áp dụng, khiến điều không thiện
phát triển, điều thiện bị đứt mất, thời giới cấm,
sinh sống, phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản như vậy không
có kết quả. Và bạch Thế tôn, mọi giới cấm, sinh sống,
phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản nào được áp dụng, khiến
điều thiện phát triển, điều không thiện bị đứt mất,
thời giới cấm, sinh sống, phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản
như vậy có kết quả.