PHẬT
HỌC KHOA HỌC
và
đời sống
NGUYỄN
ĐĂNG TRUNG
Phật
học là những điều mà ngài Gotama Siddhattha thuyết giảng
sau khi đã tự rèn luyện đạt đến cái biết tuyệt đối.
Khi đó ngài được mọi người gọi là Đức Phật. Ngài Gotama
Siddhattha sinh vào khoảng năm 623 trước Tây lịch tại Kapilavatthu
(thuộc Nepal ngày nay), là thái tử con vua Suddhodana và hoàng
hậu Maha Maya thuộc dòng tộc Sakya.
Khoa
học là lĩnh vực hoạt động nghiên cứu của nhân loại,
nhằm mục đích tạo ra những tri thức mới về tự nhiên,
xã hội và tư duy, và tất cả những điều kiện, những yếu
tố dành cho hoạt động ấy. Những điều kiện và yếu tố
dành cho hoạt động nghiên cứu gồm: các nhà khoa học với
tri thức, năng lực, trình độ và kinh nghiệm của họ; các
cơ quan nghiên cứu khoa học; các thiết bị tính toán, thí
nghiệm và thực nghiệm; các phương pháp của công tác nghiên
cứu; hệ thống các khái niệm và phạm trù; hệ thống thông
tin khoa học; và toàn bộ những tri thức hiện có của loài
người với tư cách hoặc là nền tảng, hoặc là tiền đề,
hoặc là phương tiện phục vụ cho công tác nghiên cứu. Những
kết quả nghiên cứu của khoa học trên phương diện nhận
thức - nhận thức khoa học - trở thành một hình thái ý thức
xã hội của loài người. Theo cách nhìn nhận chính thức hiện
nay ở Việt Nam, khoa học được hiểu là hệ thống tri thức
của nhân loại tích lũy trong quá trình lịch sử và được
thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan
của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần
của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế
giới hiện thực.
Trong
bài viết này, khoa học được đề cập chủ yếu là khoa
học tự nhiên, và vì thế, nếu nhìn khoa học bằng cái nhìn
văn học, nếu đưa toàn bộ xã hội loài người lên sân khấu,
thì khoa học ngày nay sẽ trở thành nhân vật chính trong một
vở kịch lớn. Nhân vật đó rất bí hiểm vì chỉ các nhà
khoa học mới biết diện mạo chi tiết của anh ta. Nhân vật
đó can thiệp vào mọi chuyện và các nhân vật khác tự hào
khi dựa vào anh ta để tranh luận. Nhân vật đó bảo trợ
cho tất cả mọi người vì những sản phẩm kỳ diệu của
anh ta có khắp mọi nơi và mọi người đều sử dụng chúng.
Nhân vật đó làm người ta lo ngại bởi vì trong anh ta hàm
chứa những quyền lực phản tự nhiên và dường như là không
có giới hạn. Nhân vật đó có những đứa con là các quái
vật hai đầu: một đầu cứu người và một đầu giết người.
Ở
điểm xuất phát, Gotama Siddhattha (tác giả của Phật học)
và các tác giả của khoa học đều là những con người có
các giác quan để tiếp nhận các tác động của thế giới
bên ngoài, và có ý thức để xử lý các tác động do các
giác quan đem lại. Họ đều muốn tìm tòi để hiểu biết
về bản thân mình và thế giới xung quanh mình. Mục đích
tìm hiểu của Gotama Siddhattha đơn thuần chỉ để tìm cách
đưa con người ra khỏi sự đau khổ. Các tác giả của khoa
học còn có nhiều mục đích khác. Việc tìm tòi để hiểu
biết của Gotama Siddhattha và các tác giả của khoa học còn
giống nhau ở chỗ đều bắt đầu bằng việc quan sát. Chỉ
khác nhau một chút xíu trong cách quan sát.
Ngài
Gotama Siddhattha quan sát đối tượng bằng cách ngồi yên. Cố
gắng giữ cho gốc quan sát thật yên tĩnh, thật ổn định.
Ổn định bền vững (samadhi - định) đến mức không còn
bất kỳ một sự vận động nội tại nào. Việc rèn luyện
phi vận động hóa như thế, danh từ Phật học gọi là thiền
(jhana). Các nhà khoa học không ai quan sát thế giới theo cách
đó. Họ quan sát thế giới trong những sự vận động nghiêm
túc và tích cực của thân thể và tư duy. Họ đi theo lộ
trình nhận thức: “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng và trở thành lý luận”.
Ngài
Gotama Siddhattha ngồi yên, còn các tác giả của khoa học thì
vận động. Do đó, những điều mà hai bên nhìn thấy được
đều hoàn toàn khác nhau. Ngài Gotama Siddhattha (giống như người
ngồi yên theo dõi được toàn bộ nội dung bộ phim và nhìn
thấy cả cảnh trí xung quanh cái tivi) - thấy cả bản chất
của đời sống lẫn mọi diễn biến của nó. Các nhà khoa
học (giống như người đang nhảy thấy được khung cảnh
quay cuồng xung quanh cái ti vi) chỉ thấy được các diễn biến
của đời sống.
Các
diễn biến của đời sống là do bản chất của đời sống
quyết định, do đó trong các diễn biến của đời sống đương
nhiên có sự phản ánh bản chất của đời sống. Thế nhưng
diễn biến của đời sống lại là tổ hợp vô cùng lớn
của các vận động phát sinh từ trong bản chất của nó,
cho nên cái mà nó thể hiện, cái mà nó phản ánh là một
phức hợp của vô số yếu tố, và vì thế đó là chỉ một
tập mờ. Do vậy, từ các diễn biến của đời sống, người
ta không bao giờ có thể xác định được đúng bản chất
của đời sống mà chỉ có thể đúc kết được các đặc
điểm, tính chất, nguyên lý, quy luật của các diễn biến
của đời sống mà thôi. Ngược lại, khi đã biết bản
chất của đời sống thì hoàn toàn có thể hiểu được mọi
thứ đã, đang, sẽ hoặc có thể diễn ra.
Một
trong các khía cạnh quan trọng của đời sống mà các nhà
khoa học ngày nay đã nhìn thấy khi đang vận động một cách
nghiêm túc và tích cực, chính là đặc tính truyền đạt không
trung thực của các giác quan. Giác quan là nơi mà con người
cảm nhận thế giới bên ngoài. Sự cảm nhận ở các giác
quan luôn đi kèm với các cảm giác sướng, khổ hoặc không
sướng không khổ. Thấy hình ảnh đẹp, nghe âm thanh hay, ngửi
mùi thơm, nếm vị ngon, chạm xúc với đối tượng dễ chịu,
thì sướng. Ngược lại thấy hình ảnh xấu, nghe âm thanh
khó chịu, ngửi mùi hôi thối, nếm vị dở, chạm xúc với
đối tượng gây đau đớn, thì khổ. Các cảm giác gắn với
sự cảm nhận ở các giác quan chi phối sự sướng khổ của
con người trong cuộc đời.
Cách
đây hơn hai ngàn năm trăm nay, Đức Phật đã thuyết giảng
về sự truyền đạt không trung thực của các hình thái vật
chất ở các giác quan : Hình thái vật chất ở tổ hợp mắt
(cakkhayatanarupa - nhãn xứ sắc), hình thái vật chất ở tổ
hợp tai (sotayatanarupa - nhĩ xứ sắc), hình thái vật chất
ở tổ hợp mũi (ghanayatanarupa - tỷ xứ sắc), hình thái vật
chất ở tổ hợp lưỡi (jivhayatanarupa - thiệt xứ sắc), hình
thái vật chất ở tổ hợp thân (kayayatanarupa - thân xứ sắc),
hình thái vật chất ở tổ hợp âm thanh (saddayatanarupa - thanh
xứ sắc), hình thái vật chất ở tổ hợp mùi (gandhayatanarupa
- hương xứ sắc), hình thái vật chất ở tổ hợp vị (rasayatanarupa
- vị xứ sắc), hình thái vật chất ở tổ hợp các tiểu
thể xúc giác (photthabbayatanarupa - xúc xứ sắc) đều không
truyền đạt trung thực (anidassana - vô kiến) mà chỉ truyền
đạt bằng cách đối chiếu theo (sappatigha - hữu đối chiếu).
Chỉ riêng tổ hợp hình thái vật chất hình ảnh (rupayatanarupa
- sắc xứ sắc) thì vừa có khả năng truyền đạt trung thực,
vừa có khả năng truyền đạt bằng cách đối chiếu theo
(sanidassanasappatigha - hữu kiến hữu đối chiếu).
Ngày
nay khoa học đã biết rõ về sự truyền đạt không trung thực
của năm giác quan. Khoa học không quan tâm nhiều lắm đến
sự truyền đạt không trung thực của âm thanh, mùi, vị và
các tiểu thể xúc giác, nhưng biết rằng ánh sáng - photon
(tức là vật chất hình ảnh) - có vận tốc tuyệt đối,
mà điều này thì liên quan đến sự truyền đạt trung
thực mà Phật học đã đề cập.
Trong
nghiên cứu về khả năng truyền đạt các tác động ở mắt,
các nhà khoa học quan niệm mắt là một cơ quan cảm giác của
con người đóng vai trò là chủ thể, còn các kích thích tác
động lên mắt là tác động của môi trường, đóng vai trò
là khách thể. Khi nghiên cứu như thế, khoa học đương nhiên
quan niệm rằng mình đang nhằm vào một thực tế, phân biệt
với sự mơ mộng và trí tưởng tượng, trong khi khái niệm
“thực tế” là một triết học mà các nhà triết học khôn
ngoan đều hiểu rằng sẽ vô ích và sai lầm nếu tìm cách
định nghĩa nó.
Kích
thích lên mắt trong thí nghiệm khoa học là điện áp có dạng
dao động điều hòa (dạng sinusoid). Người ta nhận thấy rằng
khi chưa có kích thích, các điện tích tập trung trên thành
axon thần kinh tạo ra sự phân cực có điện thế không đổi,
xấp xỉ -70mV. Khi có kích thích, chỉ có phần điện
áp lớn hơn - 70mV mới gây ra sự đảo cực, làm thành một
biến động lan truyền trong axon thần kinh, tạo ra sự hưng
phấn tương ứng với cái biết ở mắt. Tín hiệu kích thích
không chỉ bị cắt bỏ phần thấp hơn - 70 mV mà phần cao
hơn - 70mV được truyền đi còn bị làm méo dạng; và chỉ
một dải tần số giới hạn trong dải tần số của điện
áp kích thích mới được truyền đạt theo kiểu như thế
(dải thị tần). Kết luận khoa học trong thí nghiệm này là:
cái mà người ta nhìn thấy được thì hoàn toàn khác với
cái kích thích từ bên ngoài.
Như
vậy, nhà khoa học quan sát thấy rằng : nếu A là một “thực
tế bên ngoài”, mắt người sẽ thấy thành ra là A’ vì
sự truyền đạt không trung thực của mắt. A’ do đó “không
thật” vì A’ khác A. Mọi thứ mà con người thấy là các
đối tượng cụ thể chỉ là các A’ không thật; vậy A đích
thực là cái gì? Khoa học không trả lời được câu hỏi
này nhưng thường suy luận rằng chắc chắn phải tồn tại
một A đích thực nào đó thuộc khách thể mà các giác quan
của con người không thể cảm nhận được. Cái A đích thực
đó được coi là cái tuyệt đối. Cái A’ mà người ta nhìn
thấy được gọi là cái tương đối.
Nhà
khoa học quan sát thấy như thế và nghĩ như thế. Quan sát
thấy như thế, có nghĩa là mắt của nhà khoa học đang tiếp
nhận các kích thích. Và do mắt của nhà khoa học đang tiếp
nhận kích thích, nên nó cũng phải tuân theo kết luận đã
phát biểu ở phần trên, tức là cả mắt, cả các dụng cụ
và thiết bị thí nghiệm, cả các điện áp kích thích lên
mắt, cả các kết quả đo đạc mà các dụng cụ và thiết
bị hiển thị v.v… trong thí nghiệm kể trên, đều là những
cái mà nhà khoa học nhìn thấy được, là A’ của nhà khoa
học, do đó cũng là cái không thật. Như vậy, đâu phải nhà
khoa học đang “nhằm vào một thực tế”. Mọi nhà khoa học
xưa nay chẳng qua đều “nhằm vào cái không đích thực”
của mình, mặc dù đó không phải là sự mơ mộng hay trí
tưởng tượng.
Và
do đó - điều này cực kỳ quan trọng - mọi thứ mà từng
nhà khoa học phát biểu, kết luận, đúc kết, tổng kết…
sau các nghiên cứu, chẳng qua chỉ là những sự mô tả diễn
biến của cái biết của riêng mình mà thôi. Chúng không trình
bày được (dù chỉ một phần rất nhỏ) các vấn đề thuộc
về bản chất của đời sống. Mọi kết quả nghiên cứu
khoa học do đó không chỉ không hề làm thay đổi bản chất
của đời sống, mà cũng không hề làm thay đổi được diễn
biến của đời sống, bởi vì chúng chính là một phần trong
các diễn biến của đời sống. Khoa học vì thế cũng chỉ
giống và ngang hàng với văn học mà thôi.
Ngay
cả trong cách nói “khoa học nhằm vào một thực tế” để
tách khoa học ra khỏi sự mơ mộng và trí tưởng tượng,
thì trí tưởng tượng vẫn luôn đóng một vai trò cốt yếu
trong khoa học, trong việc sản sinh ra các khái niệm; mặc dù
đó là cái mà vẫn luôn được lý trí khoa học hướng đến
việc miêu tả hoặc tổ chức các dữ liệu nhằm chống lại
các ý tưởng ngông cuồng phát sinh từ sự ngu dốt vốn có
trong con người. Khoa học vì thế là một biểu tượng trừu
tượng hình thành từ một động cơ chính đáng.
Với
nhiệm vụ tìm tòi để hiểu biết về bản thân mình và thế
giới xung quanh mình, đến khi phát hiện ra tình trạng truyền
đạt không trung thực của các giác quan thì khoa học hoàn
toàn bế tắc, và trong một số lĩnh vực mũi nhọn khác, khoa
học ngày nay bắt đầu nhận ra rằng mình đang tiến sát đến
các biên giới không thể vượt qua nổi.
Có
nhiều nội dung quan trọng trong bản chất của đời sống
mà khi còn có sự vận động thì con người không bao giờ
có thể biết được (và nếu Đức Phật không thuyết giảng
thì tất nhiên chúng ta sẽ không bao giờ có thể hiểu được).
Hai trong số đó là sự tồn tại của thành phần tưởng thật
(sannacetasika - tưởng tâm sở) trong cái biết và tình trạng
không sáng tỏ (avijja - vô minh) của cái biết. Chúng chính
là các yếu tố ngăn chặn khả năng vươn xa của khoa học,
và tạo thành các biên giới không thể vượt qua được đối
với khoa học.
1 -
Theo Phật học, thành phần tưởng thật là một trong năm mươi
hai thành phần đóng vai trò là các thành phần cơ sở cấu
thành cái biết. Thành phần tưởng thật làm cho cái biết
vừa tưởng rằng các hình thái đối tượng cụ thể hóa
(tương ứng với trạng thái hưng phấn do sự đảo cực trong
các axon thần kinh) sinh ra từ sự tiếp xúc là thật, là khách
thể; vừa có sự liên tưởng đến các đối tượng đã từng
tiếp nhận trong quá khứ để giúp cho hoạt động của thành
phần thẩm định (cetanacetasika - tư tâm sở). Thành phần tưởng
thật cũng phát sinh từ trong sự tiếp xúc thuộc khu vực hoạt
động của ý thức.
Thành
phần tưởng thật thể hiện trong sự nhận ra, nhận biết;
có nội dung là sự sai lầm; có chức năng chi phối toàn bộ
mọi cái biết trong các hệ thống tương đối. Đối với
hình thái vật chất, thành phần tưởng thật có trường vật
chất riêng, gọi là trường vật chất của sự tưởng thật
(sannarammanarupa - sắc cảnh của tưởng), tồn tại trong từng
dải tần dao động (dhatu - giới) của từng giác quan và trong
dải tần dao động của của ý nghĩ.
Thành
phần tưởng thật hoạt động khi có sự phân biệt. Trong
các hệ thống tương đối, cái biết hoạt động bằng cách
phân biệt, và thành phần tưởng thật thực hiện chức năng
nhận biết phân biệt các khía cạnh đặc thù của từng đối
tượng. Nó xác định các hình thái đối tượng cụ thể
hóa bằng khái niệm và bằng ngôn ngữ. Nếu không có hoạt
động phối hợp của thành phần tưởng thật thì các giác
quan chỉ có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc thuần túy
mà không phân biệt được ra là thứ gì hết.
Các
đối tượng cụ thể, mà con người tưởng rằng có thật,
đều không phải các tồn tại đích thực. Chúng chỉ là các
hình thái đối tượng cụ thể hóa trong cái biết và bị
thành phần tưởng thật chi phối. Do đó trước cùng một
đối tượng, các cá thể có cái biết đều có các nội dung
nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Có
hai loại tưởng thật: tưởng thật đúng tốt và tưởng thật
sai xấu, cũng tức là phân biệt đúng và phân biệt sai. Sự
tưởng thật sai xấu hay sự phân biệt sai lầm đều là nguyên
nhân của mọi toan tính lo toan dẫn đến các vận hành lầm
lạc. Việc cái biết bị lôi cuốn theo đối tượng (ví dụ,
một người trở nên tham lam là do có cảm giác dễ chịu trước
đối tượng, hay trở nên thù hận là do có cảm giác khó
chịu trước đối tượng) đều không phải do nơi đối tượng,
vì các đối tượng vốn không thật, mà là do thành phần
tưởng thật làm cho cái biết tưởng rằng các đối tượng
là thật.
Sự
tưởng thật cùng với các phân biệt sai lầm đều có các
nguyên nhân đã tích lũy từ trong quá khứ. Chúng được duy
trì theo thói quen, theo quan niệm, và bị chi phối bởi các
lý luận sai lầm hình thành trong các hệ thống tương đối.
Trong mỗi cá thể có cái biết đều có sẵn những mầm mống
phân biệt sai lầm. Những mầm mống đó phát triển theo sự
tích lũy dữ liệu, theo sự hình thành các kiến thức và các
quan niệm không có cơ sở chân lý. Chúng cũng nhờ sự ngụy
biện của các quan niệm sai mà tồn tại và phát triển.
Thành
phần tưởng thật trong hoạt động phân biệt có hai
khả năng: phân biệt rõ rệt chính xác và phân biệt mơ hồ
méo mó. Khả năng phân biệt rõ rệt chính xác tạo ra sự
phân biệt đúng tốt, giúp hoàn thiện nhận thức, tránh được
sự phân biệt sai lầm dẫn đến các quan niệm sai xấu. Sự
phân biệt mơ hồ méo mó có tác dụng ngược lại.
Khi
rèn luyện phi vận động hóa, ngài Gotama Siddhatha đã trừ
bỏ các cảm xúc bằng cách tập trung cái biết hướng vào
một đối tượng duy nhất (đề mục thiền), trụ vững trong
một trạng thái sáng suốt tinh tế cho đến khi đạt được
sự ổn định bền vững không còn sự tưởng thật (vô tưởng
định). Đây là một trong các điều kiện để đưa cái biết
tương đối tiến đến đến cái biết phát triển (ariyacitta
- thánh tâm) trước khi đạt đến cái biết tuyệt đối (buddhi
- sự sáng suốt tuyệt đối).
2 -
Tình trạng không sáng tỏ là tình trạng tự nhiên của cái
biết khi vận động trong các hệ thống tương đối. Để
dễ hiểu về tình trạng này, nên so sánh với ngọn đèn dầu
chỉ sáng tỏ khi đứng yên và không thể sáng tỏ khi lay động
theo gió.
Tình
trạng không sáng tỏ mang nội dung của sự tối tăm, mê muội,
không hiểu biết, không sáng suốt v.v… do nó là tình trạng
lẫn lộn giữa cái biết và cái không. Người ta có thể nhận
thấy tình trạng không sáng tỏ trong khi liên hệ với thực
tế là, đối với mọi người, trong một đối tượng đã
biết luôn hàm chứa vô số điều chưa biết, và ngược lại
trong một đối tượng chưa biết luôn chứa đựng khá nhiều
nội dung đã biết.
Vì
chỉ là nhận thức của con người bình thường trong một
hệ thống tương đối, bị tình trạng không sáng tỏ che khuất,
nên khoa học không thể nhìn ra các vấn đề sau đây:
Thứ
nhất, khoa học không nhìn thấy và do đó không công nhận
về sự tồn tại - thật sự có thật - của một hệ thống
tuyệt đối mà danh từ Phật học gọi là Nibbana (Niết bàn).
Sở dĩ khoa học không công nhận, vì khi quan sát phần được
biết, khoa học nhận thấy toàn bộ cái thế giới được
thấy như là khách quan - mà con người tồn tại trong đó -
luôn luôn vận động, và dường như không có sức mạnh nào
trong cái thế giới khách quan ấy có thể làm đình chỉ sự
vận động ấy. Mặc dù về lý thuyết, theo một suy luận
logic, khoa học hiểu rằng một sự đứng yên tuyệt đối
của gốc quan sát sẽ cho một kết quả đo đạc tuyệt đối;
nhưng vì không biết nguồn gốc của các vận động ấy là
cái gì, chúng bị chi phối bởi những động lực nào, nên
khoa học không biết cách nào để có được một gốc quan
sát đứng yên tuyệt đối. Vì không hiểu nên không biết
cách, vì không biết cách nên không thể nghiệm, vì không thể
nghiệm nên không công nhận.
Về
phương diện vận động, cái mà người ta nhìn thấy được
là quan hệ tương tác giữa chủ thể với khách thể, trong
đó sự biến động của các đối tượng thuộc môi trường
khách thể kích thích tác động lên chủ thể, và chủ thể
vận hành phản ứng tác động trở lại. Trong khi đó cái
mà con người bình thường không nhìn thấy được chính là
các thông tin về vận hành phản ứng được đưa vào lưu
trữ ở thể alaya và động lực nội sinh từ chúng là động
lực gây ra các biến động của phần khách thể trong tương
lai. Như vậy, việc chuyền từ hệ thống tương đối, vận
động (sankhatam - hữu vi) sang một hệ thống tuyệt đối,
không vận động (asankhatam – vô vi) chỉ có thể có được
khi các động lực nội sinh (kamma - nghiệp) không còn được
tạo ra nữa. Các động lực nội sinh sẽ không được tạo
ra khi phần phần biết đình chỉ các vận hành phản ứng
có sự phân biệt về phẩm chất trước các kích thích. (Vận
hành thuần khiết - kiriya, duy tác - của các vị Arahant cũng
không tạo ra động lực nội sinh).
CHỦ THỂ
Kích thích
KHÁCH THỂ
CHỦ THỂ
Kích thích
KHÁCH THỂ
(Phần biết)
Phản ứng
(Phần được biết)
(Phần biết)
Phản ứng
(Phần được biết)
Lưu trữ
Hành trình chuyển biến nội hàm
Động lực nội sinh (kamma – nghiệp)
Hiện tại Tương lai
Đối
với khoa học, sự vận động trong hệ thống của một gốc
quan sát tạo ra tính tương đối, còn sự vận động nội
tại tạo ra các sai số trong kết quả quan sát. Việc loay hoay
giải quyết “sai số buồng đo” trong các nghiên cứu cơ
bản thuộc lĩnh vực vật lý học làm cho khoa học ngày nay
mang bộ mặt hết sức khôi hài: người ta tìm cách khắc phục
các kết quả đo đạc có sai số cực nhỏ của các thiết
bị đo đạc hết sức tinh vi, rồi tiếp nhận và để mặc
cho chúng bị làm méo dạng và sai lạc hoàn toàn ở khâu truyền
đạt của các giác quan, trước khi xử lý chúng bằng tư duy
khoa học! Cái lộ trình nhận thức nổi tiếng đã nói ở
trên vì thế nếu được diễn đạt lại cho đầy đủ sẽ
gồm các khâu như sau: từ thực tế khách quan - qua sự đo
đạc cực kỳ chính xác của các thiết bị khoa học - được
làm sai lạc hoàn toàn bởi các giác quan - [để rồi] được
xử lý bằng tư duy trừu tượng - và trở thành lý luận.
Lý luận ở đây là nhận thức khoa học, là sản phẩm cuối
cùng của lộ trình khôi hài ấy.
Thứ
hai, cũng do tình trạng không sáng tỏ mà khoa học không thể
biết về sự tồn tại của thành phần tưởng thật. Vì không
biết có nó và bị nó chi phối, nên khoa học vẫn tưởng
các hình thái đối tượng cụ thể hóa được tạo ra do kết
quả của sự truyền đạt không trung thực ở các giác quan
là các đối tượng có thật, bám riết theo chúng, và lấy
chúng làm đối tượng nghiên cứu. Khoa học không thể biết
cái gì đã tạo ra thế giới trong khi chính từng cá thể có
cái biết đều là đấng sáng tạo khi tạo ra thế giới cho
riêng mình (vì mọi thế giới đều chỉ tồn tại trong sự
hưng phấn trong các axon thần kinh của từng cá thể có cái
biết). Khoa học không hề biết rằng trong cái thế giới được
tạo dựng một cách giả lập do sự biến đổi của các hình
thái đối tượng cụ thể hóa tương ứng với hiện tượng
khử cực trong các axon thần kinh như thế, thì bản thân khoa
học cũng chỉ là sự giả lập và sự phát triển của khoa
học cũng chỉ là diễn biến của các hình thái giả lập
ấy mà thôi.
Thứ
ba, do tình trạng không sáng tỏ nên khoa học không thể biết
về các chu trình sống. Do vậy, mặc dù phát hiện được
các định luật bảo toàn, khoa học vẫn không thể biết vì
sao con người sinh ra, sinh ra từ đâu và sau khi chết sẽ đi
về đâu. Khoa học ngày nay vì thế vẫn nhường câu trả lời
cho vấn đề trọng đại này cho các giáo chủ hoặc các thiên
tài (có giáo chủ tuyên bố rằng con người do thượng đế
tạo ra và sau khi chết sẽ được ngài trừng phạt hoặc khen
thưởng ; có thiên tài cho rằng con người tự nhiên sinh ra
và chết là hết v.v…). Khoa học không đủ dữ liệu để
nâng định luật bảo toàn của hình thái vật chất lên thành
định luật bảo toàn của đời sống (ví dụ: “con người
không tự nhiên sinh ra và chết là hết, mà chỉ chuyển từ
chu trình đời sống này sang chu trình đời sống khác”).
Thứ
tư, do tình trạng không sáng tỏ nên khoa học không thể tự
hiểu được nguyên lý nhân quả và hiện tượng nội sinh
(kamma - nghiệp) trong đời sống, và do đó không thể hiểu
được bản chất của đời sống trong các hệ thống tương
đối là gì.
Khoa
học ngày nay không có một công cụ nào để nghiên cứu về
hình thái phi vật chất. Khoa học ngày nay đã có thể sáng
tạo ra các thiết bị khoa học có các tính năng rất đa dạng
và độ tin cậy rất cao để quan sát và tính toán, nhưng chỉ
có thể quan sát các đối tượng vật chất và tính toán các
số liệu đã vật chất hóa. Đối tượng của khoa học vốn
là và chỉ là các hình thái vật chất.
Hình
thái vật chất là một trong hai hình thái thể hiện của cái
biết, do đó nó có các hình thức vận động chung với các
hình thức vận động của cái biết, và chịu sự chi phối
của các nguyên lý chi phối cái biết trong các hệ thống tương
đối. Khi nghiên cứu sự vận động của các đối tượng
vật chất trong hệ thống vi mô, khoa học phát hiện ra nguyên
lý nhân quả đối với hình thái vật chất (một hệ vật
chất vi mô khi đưa ra một điện tích thì có khuynh hướng
thu về một điện tích cùng dấu), và cũng chỉ nhìn nhận
được đến đó. Ở một khía cạnh khác, khoa học tự nhiên
đã biết về hiện tượng lưu trữ thông tin trong một cấu
trúc vật chất đặc biệt gọi là gene. Có thể trong tương
lai, kết hợp hai sự hiểu biết này và nhờ vào các hiểu
biết về lưỡng tính sóng hạt của hệ thống vi mô (thế
giới lượng tử), khoa học có thể sẽ tiến đến nghiên
cứu về sự phát khởi các thông tin được lưu trữ ở gene
trong khía cạnh tạo ra trường hoàn cảnh, nhưng cũng chỉ
là các hiểu biết đối với hình thái vật chất mà thôi.
Khoa
học tự nhiên cho đến ngày nay vẫn hoàn toàn không biết
gì về hình thái phi vật chất của cái biết, nhường nó
cho khoa học xã hội nghiên cứu trong khi không hề cung cấp
cho khoa học xã hội bất kỳ một thiết bị nào, dù là đơn
sơ nhất, để trợ lực cho sự nghiên cứu về hình thái ấy.
Tất nhiên, không cần đến các thiết bị kỹ thuật người
ta cũng có thể biết được rằng có hay không có nguyên lý
nhân quả trong đời sống nếu như không bị tình trạng không
sáng tỏ che khuất tầm nhìn về các chu trình sống quá khứ
hay các chu trình sống tương lai và che khuất khả năng dõi
theo hành trình chuyển biến nội hàm khi các thông tin về vận
hành (suy nghĩ, nói và hành động) của cá thể có cái biết
đang ở trong trạng thái lưu trữ. Tình trạng không sáng tỏ
không cho phép con người bình thường không thấy được các
hiện tượng như thế và khoa học cũng không bao giờ có thể
biết được điều đó.
Thứ
năm, do không biết được nguyên lý nhân quả trong đời sống,
không biết được hiện tượng nội sinh, không nhìn thấy
các chu trình đời sống, nên khoa học không thể biết để
có thể tuyên bố rằng bản chất đời sống trong các hệ
thống tương đối là đau khổ; và vì thế không đăït vấn
đề và không tìm cách thoát ra khỏi sự đau khổ.
Trong
Phật học, việc tuyên bố rằng bản chất đời sống trong
các hệ thống tương đối là đau khổ, việc xác định nguyên
nhân của đau khổ, kết quả của sự diệt trừ đau khổ
và các biện pháp diệt trừ đau khổ chính là sự trình bày
về bốn nội dung nền tảng mang tính nguyên lý (sacca - đế)
của đời sống trong các hệ thống tương đối. Nội dung
của tuyên bố “bản chất đời sống trong các hệ thống
tương đối là đau khổ” thường gây dị ứng trong tâm lý
của rất nhiều người, luôn bị phản ứng từ các ý thức
hệ tư tưởng phi Phật học; và cũng vì tuyên bố ấy mà
đạo Phật thường bị đánh giá là yếm thế. Tất nhiên,
khi đã tuyên bố nội dung ấy, Phật học có nhiều giải
thích và biện luận rất xác đáng. Trong bày viết này, tác
giả chỉ trình bày vắn tắt và phân tích một trong số các
luận cứ đó.
Với
tư cách là một con người, người ta chỉ có thể biết (một
cách tương đối) về cuộc đời làm người của mình trong
chu trình sống hiện tại và cuộc đời của những người
khác, của các động vật khác theo các diễn biến ở phần
được biết, khi đang ở trong chu trình sống đó. Do tình trạng
không sáng tỏ, từng người đều không thể nhìn thấy vô
số chu trình sống quá khứ của mình, không thể thấy các
chu trình sống tương lai của mình nếu mình tiếp tục chuyển
đổi các chu trình đời sống (luân hồi) trong các hệ thống
tương đối, không thể biết tương lai ngay cả trong chu trình
sống hiện tại.
Trong
đời sống, người ta sống bằng các cảm giác sướng, khổ,
vui, buồn gắn với các hình thái giả lập ở các giác quan
và thực hiện các vận hành phản ứng lại các hình thái
giả lập ấy. Trong số các hình thái giả lập mà con người
nhìn thấy, có cả hình thái tạo thành hình tượng “cái
tôi” mà ý niệm về “cái tôi” gắn vào đó. Các vận
hành phản ứng của “cái tôi” có thể là đúng tốt, sai
xấu hoặc trung tính; do luôn bị các thành phần của cái biết,
trong đó có ba thành phần sai xấu căn bản (tham lam, nóng giận
và ngu muội), chi phối. Vào thời điểm cận tử ở cuối
mỗi chu trình đời sống, các động lực nội sinh (kamma -
nghiệp) thúc đẩy việc lập trình chi tiết các hoàn cảnh
sẽ diễn ra cho chu trình sống kế tiếp, trong đó cả hình
thái “cái tôi” và các hình thái là đối tượng của “cái
tôi” đều bị hiện tượng nội sinh làm thay đổi. Vì thế,
bất cứ ai trong chu trình này cũng đều có thể là vua, là
tổng thống, hay bất cứ một địa vị xã hội nào, nhưng
trong chu trình đời sống khác cũng đều có thể trở thành
là người hoặc súc sinh…; trong chu trình này có thể ăn thịt,
cắn xé, dẫm đạp…, nhưng trong chu trình đời sống khác
có thể bị ăn thịt, bị cắn xé, bị dẫm đạp… ; vân
vân và vân vân. Nếu chỉ đề cập đến một chu trình đời
sống, thì thấy rằng cuộc đời từng người có thể sung
sướng, có thể đau khổ, có thể sướng khổ lẫn lộn ;
nhưng nếu nhìn suốt các chu trình nối tiếp nhau như thế,
thì chuỗi đời sống quần lộn như thế là đau khổ hay không
là đau khổ?
Mặt
khác, khi đã không bác bỏ được tính giả lập của thế
giới đối tượng mà không coi sự bám chặt vào các đối
tượng giả lập là đau khổ, thì đừng trách những người
đang sống trong ảo giác của các chất ma túy. Họ đang thấy
hạnh phúc trong ảo giác chẳng khác nào người bình thường
đang thấy hạnh phúc trước các đối tượng giả lập trong
đời thường. Các vị đã đạt đến cái biết tuyệt đối
nhìn thấy bản chất của đời sống trong các hệ thống tương
đối là đau khổ, cũng giống như người bình thường nhìn
thấy trạng thái hưng phấn của các con nghiện là đau khổ.
Đây chỉ là một ví dụ so sánh cho dễ hiểu.
Cái
khác biệt giữa khoa học và Phật học chính là những điều
(hay ít ra là những điều) mà khoa học không thể hiểu biết
được, như đã phân tích và trình bày ở trên. Khoa học (nếu
chỉ nhìn ở khía cạnh tích cực) là yếu tố làm cho lịch
sử xã hội loài người trở thành một tiến trình phát triển
mà trong đó điều kiện sống về vật chất và tinh thần
không ngừng được cải thiện. Nhưng cái xã hội mà vài tỷ
người đang sống chỉ là diễn biến của phần được biết
trong một chu trình đời sống - chu trình đời sống hiện
tại - của từng cá thể trong số vài tỷ cá thể ấy. Sau
chưa đầy 100 năm tạm trú ở “trái đất này là của chúng
mình”, khi chuyển sang chu trình đời sống mới, chắc gì
mấy ai đã trở lại đây với tư cách là một con người
để tiếp tục hưởng thụ sự cải thiện không ngừng do
khoa học đem lại. Trở lại mà làm nhà khoa học thì “tiến
trình phát triển mà trong đó điều kiện sống về vật chất
và tinh thần không ngừng được cải thiện” ấy thật là
tốt đẹp. Trở lại mà làm con vật cho nhà khoa học mổ xẻ
ra thí nghiệm hoặc để ông ta nhai nuốt, thì “tiến trình
phát triển mà trong đó điều kiện sống về vật chất và
tinh thần không ngừng được cải thiện” ấy thật là kinh
hoàng. Mấu chốt của mọi vấn đề là ở chỗ đó.