.
..SỐ 05 -THÁNG 6, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 05-THÁNG 6, 2005

 

 

VIỆT NAM BÁCH GIA THI 
Như Nguyệt

Ý tưởng về một tuyển tập trăm nhà thơ Việt Nam là ý định từ rất lâu của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh. Tuy nhiên, đến đầu năm Ất Dậu – 2005, ông Thanh mới có dịp bắt tay vào thực hiện. Được sự đầu tư của NXB Văn Hóa Sài Gòn, tập sách “Việt Nam bách gia thi” được trình bày nguyên văn chữ Hán (thư pháp do nhà giáo ưt tú Nguyễn Đình Thảng thực hiện) và phần phiên âm, dịch thơ. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có tập thơ “trăm nhà”.

Ông Cao Tự Thanh vốn là người rất có cá tính, cho nên được tự ý chọn một trăm nhà thơ “xứng đáng nhất” để làm thành một tập thì ông khoan khoái lắm. Điều quan trọng là suốt dọc hành tình nghiên cứu của ông, ông vẫn chọn những bài thơ hay chữ Hán của các tác giả Việt Nam để dịch. Trong máy tính của ông vốn có một thư mục mang tên “danh thi”. Cho nên, việc chọn thơ thì mãi đến năm nay mới bắt đầu, nhưng sự tâm huyết về thơ vốn có từ lâu lắm rồi.

“Chọn một trăm nhà thơ Việt Nam để đưa vào một tập thì không khó, nhưng chọn ai bỏ ai, và xây dựng tiêu chí như thế nào cho khoa học là vấn đề tốn nhiều suy nghĩ”, ông Cao Tự Thanh bày tỏ. Cuối cùng thì ông tự chấp nhận với tiêu chí do… chính ông đề ra là: thứ nhất, một trăm tác giả trong tập thơ này phải là những danh nhân có công trạng với đất nước; thứ hai, các tác giả phải có thi tài, tức có thơ chữ Hán, mà phải là thơ hay.

Thực ra thì ông thỏa thuận với NXB Văn hóa Sài Gòn tuyển chọn thơ chữ Hán từ Lý Thường Kiệt (với bài Nam Quốc Sơn Hà) tới Hồ Chí Minh. Thơ chữ Hán trong giai đoạn này ở Việt Nam có nhiều. Tuy nhiên ông Cao Tự Thanh lại chủ trương “để ý nhiều đến những nhà thơ Đàng Trong. Lâu nay nói đến thơ, hay tập trung đến các nhà thơ phía Bắc, tôi cho rằng trong phía Nam cũng có nhiều thi tài lắm”. Bởi thế, tập “Bách gia thi” của Việt Nam trước hết là cái nhìn toàn diện về thơ hay chữ Hán ở cả hai miền Nam, Bắc.

Với tiêu chí như vậy, cộng với chủ trương như vậy, ông Cao Tự Thanh khẳng định: bách gia thi Việt Nam gồm toàn thơ hay. Nhưng vấn đề như thế nào là thơ hay? Ông Thanh căn cứ vào hai ý: “Trước hết, thơ hay khi tôi thấy nó hay. Và  thơ hay trong tập sách này phải là thơ có bản dịch hay. Bởi vì với chữ Hán, nếu thơ hay mà không có bản dịch hay thì truyền đạt đến người đọc bây giờ không được. Vấn đề bản dịch là quan trọng, vì thơ cổ đến nay nhiều người không hiểu”. Và việc chọn bản dịch hay càng quan trọng hơn khi mỗi nhà thơ chỉ được chọn một bài trong tập này. Một trăm bài thơ của một trăm nhà thơ, tác phẩm tinh tuyển chọn từ những tác giả được tinh tuyển. Sự thú vị hứa hẹn trong cách làm của người thực hiện.

Đọc “Bách gia thi” của Việt Nam, thấy được tâm sự thấm đẫm tinh thần dân tộc được thể hiện bằng ngôn ngữ thơ chữ Hán, lại thêm một lần thú vị khi đọc qua bản dịch thơ. Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh có ý chọn những bản dịch hay là vì thế, người xem sẽ được thưởng thức hai lần. Và điều thú vị nữa là ông Cao Tự Thanh cố ý làm sao để đạt dược bản dịch hay nhất, bằng cách nếu có một bản dịch nào ưng ý nhất nhưng có một câu, hoặc một chữ mà ông thấy còn “non” thì chính ông sẽ sửa bản dịch ấy và cẩn thận ghi chú “theo bản dịch của….” chứ không để tên mình. Ngoài  ra, chính ông Cao Tự Thanh cũng phải dịch nhiều bài thơ với lý di là “tôi tìm khắp, không có bản dịch nào ưng ý cả, nên tôi đành tự dịch thôi”. Quả là một người tuyển chọn có bản lĩnh. Tổng cộng ông Cao Tự Thanh dịch 40 bài thơ trong quyển này. Còn lại, là ông tuyển những bản dịch tốt nhất. ông Thanh quan niệm: “Muốn dịch thơ hay, phải có mấy yếu tố: người dịch thơ phải giỏi chữ Hán, giỏi tiếng Việt, và phải có tâm hồn thi sĩ. Như vậy việc dịch được thơ hay chỉ rơi vào một số người thôi. Nhà thơ thì có nhưng dịch thơ hay chỉ một số người. Họ phải giỏi mới chơi chữ được. Có nhiều dịch giả dịch rất giỏi, rất đúng, nhưng không hay, vì họ không có sự tinh tế của nhà thơ. Cuối cùng thì các yếu tố dịch giả, nhà nghiên cứu, nhà thơ gom vào thành ra bản dịch hay là bản dịch của những người nổi tiếng. 

Muốn dịch thơ của một tác giả cho thật hay, không chỉ căn cứ vào văn bản, anh phải biết bài ấy làm vào thời điểm nào, anh phải so với niên biểu của tác giả khi làm bài thơ ấy. Lúc bấy giờ nhà thơ bao nhiêu tuổi, làm bài thơ trong hoàn cảnh nào. Như bài “Đáp bắc nhân” của Hồ Quý Ly rất hay. Có thể so Hồ Quý Ly trong hoàn cảnh ấy như thế nào? Trong những tuyển tập người ta không nói đến chuyện này, trừ khi làm một tuyển tập riêng về Hồ Quý Ly, người ta mới nói. Trong khi bài thơ đó có tinh thần tự hào dân tộc rất cao.

Việc đưa bản dịch của mình vào tập thơ quan trọng này, ông Cao Tự Thanh có nói mấy lý do: “thứ nhất là có những bài thơ rất hay, nhưng xưa nay chưa ai dịch, chưa ai công nhận, nên lần này muốn đưa vào giới thiệu, tự tôi phải dịch”. Điều này thể hiện rõ nhất trong bài thơ của quan phụ chính đại thần Nguyễn Trọng Hợp viết về tập thơ “Minh bột di ngư” của Mạc Thiên Tích. “Minh Bột Di Ngư là tuyên ngôn Việt hóa của nhóm người hoa gốc Minh Hương di cư, tôi cho như thế. Nguyễn Trọng Hợp đề vịnh tập thơ này là tâm sự của người mất nước chạy qua Việt Nam với tâm sự của người mất nước đang ở đây và làm phụ chính đại thần”. Ông Cao Tự Thanh cho rằng mình hiểu tâm sự của người xưa như vậy và dịch theo tinh thần đó. Lý do thứ hai khiến cho ông Cao Tự Thanh phải tự dịch thơ, là vì có những bản dịch trước đó bị sai văn bản, cho nên lần này ông phải dịch lại để sửa sai. Điều này rất quan trọng, và phải là một nhà nghiên cứu có thâm hậu về văn bản học mới có khả năng làm được điều này. Minh chứng trong tập thơ này là bài thơ của Nguyễn Đình Chiểu điếu Phan Thanh Giản: bị nhầm hai chữ “thần” trong hai câu thơ. “Một chữ “thần” nghĩa là “bề tôi”, một chữ “thần” nghĩa là “thần hồn”. Lần đầu tiên Thái Hữu Võ công bố năm 1927 bị nhầm hai chữ ấy, Thượng Tân Thị dịch sai theo, và về sau người ta nhầm đến tận bây giờ. Tôi phải dịch lại”.

Điều may mắn cho độc giả Việt Nam là ông cao Tự Thanh vốn là người hội đủ ba tố chất cần có của một người dịch thơ hay. Cho nên, những bản dịch của ông cũng có một số bản xuất thần.

Có thể bạn đọc sẽ không hài lòng ở cách chọn của người thực hiện, bởi tập thơ này không chọn Ngô Thì Nhậm mà chọn Hồ Xuân Hương, không có thơ của Thiệu Trị, Minh Mạng mặc dù hai ông vua này vốn có thi tài, Hồ Chí Minh có nhiều thơ về cách mạng, nhưng ông chọn bài “Nghe bạn tù thổi sáo”. Biết sao được, Cao Tự Thanh có cách lý giải của mình, và việc làm của ông mang cá tính của ông, cũng là một nét riêng của một tập thơ vậy.

“Nếu phải tuyển chọn một nghìn bài thơ, thì có thơ của Thiệu Trị, Minh Mạng, nhưng đây chỉ có một trăm bài, nên họ chưa đạt, thế thôi”, dịch giả họ Cao thẳng thắn nói như thế.

Vậy mà, tâm sự cuối cùng của ông Cao Tự Thanh là hy vọng bạn đọc ngày nay và mai sau đọc tập thơ này hiểu được dụng ý của người tuyển chọn, “Nếu chưa hiểu thì rồi người ta cũng hiểu ra thôi. Tôi muốn nói với thế hệ sau này rằng hãy xem việc nghiên cứu như một cuộc chạy tiếp sức, nên bắt đầu từ chỗ tôi đã đạt được và chạy tiếp, chứ không nên chạy lại chỗ tôi đã bắt đầu”.

Một tập thơ dài, đủ để những độc giả yêu thơ cổ và có tậm với đất nước nghiền ngẫm nhiều điều.

Điếu Phan Công thanh Giản 
Lịch sĩ tam triều độc khiết thân
Vi công thùy bảo nhất phương dân
Long Hồ ninh phụ thư sinh lão
Phượng các không quy học sĩ thần
Bỉnh tiết tằng lao sinh phú bật
Tận trung hà hận tử Trương Tuần
Hữu thiên lục tỉnh tồn vong sự
An đắc thung dung tựu nghĩa thần
(Nguyễn Đình Chiểu)

Dịch: 

Điếu ông Phan Thanh Giản
Ba Triều rõ mặt bậc tôi lành
Che chở cho dân buổi lửa binh
Phượng các khôn về hồn học sĩ
Long Hồ thà chịu tiếng thư sinh
Sống từng nhọc bấy thân đi sứ
Chết lại hờn chi phận giữ thành
Sáu tỉnh mất còn trời đã định
Nhưng tìm đâu được kẻ trung trinh.

2. Đề minh bột di ngư tập hậu
Cựu quốc hoang lương sự dĩ thù
Ky nhân hải ngoại độc thừa phù
Tự phi kinh cức quy chân chủ
Cánh hướng yên ba học điếu đồ
Thiên lý vãn triều quy túc lộ
Bán khê xuân lục trưởng tân bồ
Anh phong quang dữ tư nhiên tận
Liêu quách giang thiên phiến nguyệt cô
(Nguyễn Trọng Hợp)

Dịch:

Đề sau tập Minh bột di ngư
Nước cũ tan tành việc đã lâu
Bè côi vượt bể ngạo ba đào
Mở đường gai góc theo vua thánh
Hướng nẻo sông hồ học bạn câu
Ngàn dặm sóng chiều cò nghỉ cánh
Nửa khe xuân biếc cỏ khoe màu
Phong tư người trước nay đâu vắng
Quạnh quẽ trời sông mảnh nguyệt đau.
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 05 -THÁNG 6, 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)