VIỆT
NAM BÁCH GIA THI
Như
Nguyệt
Ý
tưởng về một tuyển tập trăm nhà thơ Việt Nam là ý định
từ rất lâu của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh. Tuy nhiên, đến
đầu năm Ất Dậu – 2005, ông Thanh mới có dịp bắt tay vào
thực hiện. Được sự đầu tư của NXB Văn Hóa Sài Gòn,
tập sách “Việt Nam bách gia thi” được trình bày nguyên
văn chữ Hán (thư pháp do nhà giáo ưt tú Nguyễn Đình Thảng
thực hiện) và phần phiên âm, dịch thơ. Đây là lần đầu
tiên Việt Nam có tập thơ “trăm nhà”.
Ông
Cao Tự Thanh vốn là người rất có cá tính, cho nên được
tự ý chọn một trăm nhà thơ “xứng đáng nhất” để làm
thành một tập thì ông khoan khoái lắm. Điều quan trọng là
suốt dọc hành tình nghiên cứu của ông, ông vẫn chọn những
bài thơ hay chữ Hán của các tác giả Việt Nam để dịch.
Trong máy tính của ông vốn có một thư mục mang tên “danh
thi”. Cho nên, việc chọn thơ thì mãi đến năm nay mới bắt
đầu, nhưng sự tâm huyết về thơ vốn có từ lâu lắm rồi.
“Chọn
một trăm nhà thơ Việt Nam để đưa vào một tập thì không
khó, nhưng chọn ai bỏ ai, và xây dựng tiêu chí như thế nào
cho khoa học là vấn đề tốn nhiều suy nghĩ”, ông Cao Tự
Thanh bày tỏ. Cuối cùng thì ông tự chấp nhận với tiêu
chí do… chính ông đề ra là: thứ nhất, một trăm tác giả
trong tập thơ này phải là những danh nhân có công trạng với
đất nước; thứ hai, các tác giả phải có thi tài, tức có
thơ chữ Hán, mà phải là thơ hay.
Thực
ra thì ông thỏa thuận với NXB Văn hóa Sài Gòn tuyển chọn
thơ chữ Hán từ Lý Thường Kiệt (với bài Nam Quốc Sơn Hà)
tới Hồ Chí Minh. Thơ chữ Hán trong giai đoạn này ở Việt
Nam có nhiều. Tuy nhiên ông Cao Tự Thanh lại chủ trương “để
ý nhiều đến những nhà thơ Đàng Trong. Lâu nay nói đến
thơ, hay tập trung đến các nhà thơ phía Bắc, tôi cho rằng
trong phía Nam cũng có nhiều thi tài lắm”. Bởi thế, tập
“Bách gia thi” của Việt Nam trước hết là cái nhìn toàn
diện về thơ hay chữ Hán ở cả hai miền Nam, Bắc.
Với
tiêu chí như vậy, cộng với chủ trương như vậy, ông Cao
Tự Thanh khẳng định: bách gia thi Việt Nam gồm toàn thơ hay.
Nhưng vấn đề như thế nào là thơ hay? Ông Thanh căn cứ vào
hai ý: “Trước hết, thơ hay khi tôi thấy nó hay. Và
thơ hay trong tập sách này phải là thơ có bản dịch hay. Bởi
vì với chữ Hán, nếu thơ hay mà không có bản dịch hay thì
truyền đạt đến người đọc bây giờ không được. Vấn
đề bản dịch là quan trọng, vì thơ cổ đến nay nhiều người
không hiểu”. Và việc chọn bản dịch hay càng quan trọng
hơn khi mỗi nhà thơ chỉ được chọn một bài trong tập này.
Một trăm bài thơ của một trăm nhà thơ, tác phẩm tinh tuyển
chọn từ những tác giả được tinh tuyển. Sự thú vị hứa
hẹn trong cách làm của người thực hiện.
Đọc
“Bách gia thi” của Việt Nam, thấy được tâm sự thấm
đẫm tinh thần dân tộc được thể hiện bằng ngôn ngữ
thơ chữ Hán, lại thêm một lần thú vị khi đọc qua bản
dịch thơ. Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh có ý chọn những bản
dịch hay là vì thế, người xem sẽ được thưởng thức hai
lần. Và điều thú vị nữa là ông Cao Tự Thanh cố ý làm
sao để đạt dược bản dịch hay nhất, bằng cách nếu có
một bản dịch nào ưng ý nhất nhưng có một câu, hoặc một
chữ mà ông thấy còn “non” thì chính ông sẽ sửa bản
dịch ấy và cẩn thận ghi chú “theo bản dịch của….”
chứ không để tên mình. Ngoài ra, chính ông Cao Tự Thanh
cũng phải dịch nhiều bài thơ với lý di là “tôi tìm khắp,
không có bản dịch nào ưng ý cả, nên tôi đành tự dịch
thôi”. Quả là một người tuyển chọn có bản lĩnh. Tổng
cộng ông Cao Tự Thanh dịch 40 bài thơ trong quyển này. Còn
lại, là ông tuyển những bản dịch tốt nhất. ông Thanh quan
niệm: “Muốn dịch thơ hay, phải có mấy yếu tố: người
dịch thơ phải giỏi chữ Hán, giỏi tiếng Việt, và phải
có tâm hồn thi sĩ. Như vậy việc dịch được thơ hay chỉ
rơi vào một số người thôi. Nhà thơ thì có nhưng dịch thơ
hay chỉ một số người. Họ phải giỏi mới chơi chữ được.
Có nhiều dịch giả dịch rất giỏi, rất đúng, nhưng không
hay, vì họ không có sự tinh tế của nhà thơ. Cuối cùng thì
các yếu tố dịch giả, nhà nghiên cứu, nhà thơ gom vào thành
ra bản dịch hay là bản dịch của những người nổi tiếng.
Muốn
dịch thơ của một tác giả cho thật hay, không chỉ căn cứ
vào văn bản, anh phải biết bài ấy làm vào thời điểm nào,
anh phải so với niên biểu của tác giả khi làm bài thơ ấy.
Lúc bấy giờ nhà thơ bao nhiêu tuổi, làm bài thơ trong hoàn
cảnh nào. Như bài “Đáp bắc nhân” của Hồ Quý Ly rất
hay. Có thể so Hồ Quý Ly trong hoàn cảnh ấy như thế nào?
Trong những tuyển tập người ta không nói đến chuyện này,
trừ khi làm một tuyển tập riêng về Hồ Quý Ly, người ta
mới nói. Trong khi bài thơ đó có tinh thần tự hào dân tộc
rất cao.
Việc
đưa bản dịch của mình vào tập thơ quan trọng này, ông
Cao Tự Thanh có nói mấy lý do: “thứ nhất là có những bài
thơ rất hay, nhưng xưa nay chưa ai dịch, chưa ai công nhận,
nên lần này muốn đưa vào giới thiệu, tự tôi phải dịch”.
Điều này thể hiện rõ nhất trong bài thơ của quan phụ chính
đại thần Nguyễn Trọng Hợp viết về tập thơ “Minh bột
di ngư” của Mạc Thiên Tích. “Minh Bột Di Ngư là tuyên ngôn
Việt hóa của nhóm người hoa gốc Minh Hương di cư, tôi cho
như thế. Nguyễn Trọng Hợp đề vịnh tập thơ này là tâm
sự của người mất nước chạy qua Việt Nam với tâm sự
của người mất nước đang ở đây và làm phụ chính đại
thần”. Ông Cao Tự Thanh cho rằng mình hiểu tâm sự của
người xưa như vậy và dịch theo tinh thần đó. Lý do thứ
hai khiến cho ông Cao Tự Thanh phải tự dịch thơ, là vì có
những bản dịch trước đó bị sai văn bản, cho nên lần
này ông phải dịch lại để sửa sai. Điều này rất quan
trọng, và phải là một nhà nghiên cứu có thâm hậu về văn
bản học mới có khả năng làm được điều này. Minh chứng
trong tập thơ này là bài thơ của Nguyễn Đình Chiểu điếu
Phan Thanh Giản: bị nhầm hai chữ “thần” trong hai câu thơ.
“Một chữ “thần” nghĩa là “bề tôi”, một chữ “thần”
nghĩa là “thần hồn”. Lần đầu tiên Thái Hữu Võ công
bố năm 1927 bị nhầm hai chữ ấy, Thượng Tân Thị dịch
sai theo, và về sau người ta nhầm đến tận bây giờ. Tôi
phải dịch lại”.
Điều
may mắn cho độc giả Việt Nam là ông cao Tự Thanh vốn là
người hội đủ ba tố chất cần có của một người dịch
thơ hay. Cho nên, những bản dịch của ông cũng có một số
bản xuất thần.
Có
thể bạn đọc sẽ không hài lòng ở cách chọn của người
thực hiện, bởi tập thơ này không chọn Ngô Thì Nhậm mà
chọn Hồ Xuân Hương, không có thơ của Thiệu Trị, Minh Mạng
mặc dù hai ông vua này vốn có thi tài, Hồ Chí Minh có nhiều
thơ về cách mạng, nhưng ông chọn bài “Nghe bạn tù thổi
sáo”. Biết sao được, Cao Tự Thanh có cách lý giải của
mình, và việc làm của ông mang cá tính của ông, cũng là
một nét riêng của một tập thơ vậy.
“Nếu
phải tuyển chọn một nghìn bài thơ, thì có thơ của Thiệu
Trị, Minh Mạng, nhưng đây chỉ có một trăm bài, nên họ
chưa đạt, thế thôi”, dịch giả họ Cao thẳng thắn nói
như thế.
Vậy
mà, tâm sự cuối cùng của ông Cao Tự Thanh là hy vọng bạn
đọc ngày nay và mai sau đọc tập thơ này hiểu được dụng
ý của người tuyển chọn, “Nếu chưa hiểu thì rồi người
ta cũng hiểu ra thôi. Tôi muốn nói với thế hệ sau này rằng
hãy xem việc nghiên cứu như một cuộc chạy tiếp sức, nên
bắt đầu từ chỗ tôi đã đạt được và chạy tiếp, chứ
không nên chạy lại chỗ tôi đã bắt đầu”.
Một
tập thơ dài, đủ để những độc giả yêu thơ cổ và có
tậm với đất nước nghiền ngẫm nhiều điều.
Điếu
Phan Công thanh Giản
Lịch
sĩ tam triều độc khiết thân
Vi
công thùy bảo nhất phương dân
Long
Hồ ninh phụ thư sinh lão
Phượng
các không quy học sĩ thần
Bỉnh
tiết tằng lao sinh phú bật
Tận
trung hà hận tử Trương Tuần
Hữu
thiên lục tỉnh tồn vong sự
An
đắc thung dung tựu nghĩa thần
(Nguyễn
Đình Chiểu)
Dịch:
Điếu
ông Phan Thanh Giản
Ba
Triều rõ mặt bậc tôi lành
Che
chở cho dân buổi lửa binh
Phượng
các khôn về hồn học sĩ
Long
Hồ thà chịu tiếng thư sinh
Sống
từng nhọc bấy thân đi sứ
Chết
lại hờn chi phận giữ thành
Sáu
tỉnh mất còn trời đã định
Nhưng
tìm đâu được kẻ trung trinh.
2.
Đề
minh bột di ngư tập hậu
Cựu
quốc hoang lương sự dĩ thù
Ky
nhân hải ngoại độc thừa phù
Tự
phi kinh cức quy chân chủ
Cánh
hướng yên ba học điếu đồ
Thiên
lý vãn triều quy túc lộ
Bán
khê xuân lục trưởng tân bồ
Anh
phong quang dữ tư nhiên tận
Liêu
quách giang thiên phiến nguyệt cô
(Nguyễn
Trọng Hợp)
Dịch:
Đề
sau tập Minh bột di ngư
Nước
cũ tan tành việc đã lâu
Bè
côi vượt bể ngạo ba đào
Mở
đường gai góc theo vua thánh
Hướng
nẻo sông hồ học bạn câu
Ngàn
dặm sóng chiều cò nghỉ cánh
Nửa
khe xuân biếc cỏ khoe màu
Phong
tư người trước nay đâu vắng
Quạnh
quẽ trời sông mảnh nguyệt đau.