TRÀ
SỚM
Lòng
giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng [1]
Thái
Kim Lan
Viết
ngẫu hứng tặng những người yêu hoa
Một
lần buổi sáng trời trong, không để người nhâm nhi tách
cà phê xa hoa, tôi mời bạn “hiền“ mới quen một chung trà
mộc.
Hãy
bước qua cổng tre ngõ sau của vườn nhà, đi dạo xem hoa nở.
Như
một cô gái nhỏ, „hiền“ núp sau lưng, níu áo líu ríu đi
theo. Không quay lui nhìn mà biết mắt „hiền“ đang lấp lánh,
đuôi mắt dài hình lá phượng, rất nhiều lần nheo lại rồi
tròn xoe. „hiền“ bé tí tẹo, nếu ai nhìn từ hướng đối
diện, thì sẽ không thấy người, chỉ thấy lá phượng phất
phơ trên tay áo hay hai hạt sương đang chập chờn bên vai tôi…
Con
đường nhỏ nhỏ, cỏ xanh non mượt, buổi sáng còn ướt
sương long lanh, lấm tấm những búp violette, màu tím nhu mì,
đượm duyên thầm; hương violette không nồng, như một thoáng
tình cờ trong gió sớm, quyện với mùi sương trong lành, làm
cho ánh nắng ban mai thêm dịu dàng, phơ phất vài sợi tơ huyển
ảo của khí trời, đưa bước chân hóa nhẹ như mây…
Vườn
chưa cười hẳn trong nắng, bóng cây còn ngủ trên bãi cỏ,
nhưng hoa đã thức dậy từ khuya, từ tháng ba năm ngoái hay
năm ngoái nữa, hay những khuya nào…? Tiếng reo bất ngờ
đầu tiên luôn luôn là khóm hoa tuyết hình trái chuông, một
sáng mai còn tê lạnh hơi băng, trỗi lên đột ngột từ đám
lá khô, hoa reo hay người reo? Hình như cả hai cùng một lượt,
năm nào cũng như năm nào, từ cửa sổ nhà, khánh hoa „diễm
lệ“ rung chuông báo tuyết vừa tan, mùa xuân sẽ đến.
Thế
rồi trời xuân dần sáng hơn khi khóm hoa vàng giông giống
mai Huế óng ả, rực rỡ bên dậu tre, hoa mơ bôi trắng cả
góc vườn phía bắc đến chóa mắt, hoa mận trắng xanh giữa
bãi cỏ, hoa táo trắng hồng in lên nền trời xanh, hoa tu líp
năm màu và nhiều thứ hoa vừa dại vừa ngoan, lần lượt
nở rộn ràng.
Tôi
dẫn „hiền“ đi qua khóm hoa dại ra vườn sau, vừa đi vừa
kể chuyện người láng giềng khó tính hay dòm ngó khu vườn
hoang ít được vun xới của tôi. Vườn ông ngăn nắp đâu
ra đấy, cỏ được uốn nắn trong từng ô vuông, không được
tràn lan ra lối đi, hoa hồng theo hoa hồng, hướng dương theo
hướng đương, thược dược đứng thẳng tắp, hoa bìm bìm
leo hoang cũng được nắn nót theo đường dây uốn quanh, các
cây ăn quả sao mà khỏe mạnh, tươm tất không mang một cành
khô nào quá lứa. Cẩn thận một cách truyền thống, khu vườn
kiểu mẫu có luôn cả mấy ông già lùn râu bạc giữ vườn
bằng đất nung, mặc áo đỏ, quần trắng, đi hia màu xanh
hay đen, ngày đêm cười hớn hở cầm cuốc hay xuổng, đứng
bên bồn cỏ, canh con sâu cái kiến. Ngăn nắp thật!
Thế
nên mỗi lần nhìn sang khu vườn hàng xóm, rất nhiều khi ông
nổi cơn dị ứng, mặt mày nhăn nhó với đám hoa dại mọc
hỗn bên kia hàng rào và bãi đất hoang sau vườn. Người láng
giềng mê trồng hoa cũng bằng mê ngậm ống pipe phì phèo,
bao mùa quanh quẩn, không nhịn được cơn ghiền, ông mon men
đến mảnh đất bỏ không, nhổ cỏ, phạt cây, đổ đất,
bón phân, chia luống…Có trời biết! Tự dưng tôi được
cái may làm cô hàng xóm Á châu có đất bỏ hoang, còn ông
có dịp làm ông Tây Ðức hàng xóm siêng năng, „được“
ươm cây, trồng tỉa, xới đất, bắt sâu mà không bị ai
cự nự đi chiếm đất thuộc địa của người.
Ðứng
trong nhà nhìn ra, thường chỉ thấy cái mũ nồi của ông nhấp
nhô, là biết ông đang chăm chỉ sau vườn nhà, phía sau vườn
thôi, còn cái vườn riêng của người khác thì ông kính nhi
viễn chi không bao giờ bước vào, dù cỏ cao hơn thước cũng
mặc…Này nhé, tháng mười tháng mười một, đào luống cho
củ hành thủy tiên, tu líp, cắt hết các nhánh cây úa lá
cho hoa huệ, hoa hồng, hoa cúc, hoa tường vi. Qua mùa tuyết,
tháng ba tháng tư dọn cỏ dại, nhặt hết sỏi đá, cào lá
khô, thêm đất, sửa sang bồn cỏ đón tiết xuân.
Chẳng
biết ai chờ ai, hoa hay người ươm hoa? Không biết ông có
nôn nóng, bồn chồn đón hoa? Chỉ có mỗi khi tháng tư hoa
bắt đầu sơ khai, cái mũ nồi kia không thấy nhấp nhô nữa,
ông thường vắng mặt những giờ hoa nở. Chắc ông không
chờ, người láng giềng Ðức của tôi trồng hoa theo nỗi
thôi thúc của mầm hoa, của rễ, lá, thân cây, đang tìm sự
sống. Nắm trong tay những thứ cây cỏ, sỏi đá, đất xốp,
cảm giác sáng tạo gần gủi quen thuộc làm ấm tay, rạo rực
cả lòng. Chỉ chừng ấy thôi.
Hình
như ông trồng hoa theo kiểu „mệnh lệnh phạm trù“ của
ông triết gia Kant người Ðức đấy, có nghĩa là tự do hành
động theo tiếng gọi trong tâm, không vướng bận một mục
đích vọng ngoại nào, ví dụ trồng để bán hoa hay hưởng
một điều lợi gì, trồng hoa vì trồng hoa, chỉ là như thế,
như một lẽ „đạo với hoa“…
Con
mắt lá phượng sau lưng đang cười tôi triết lý kỳ quặc
về chuyện ông hàng xóm trồng hoa. (Mà cũng nên nhớ một
điều, để đừng lý tưởng hóa, ông hàng xóm ni khó chịu
lắm, không dễ thương chút nào ngoài chuyện trồng hoa, nhưng
cũng chẳng sao, ông nên không dễ chịu ở nơi mô khác, cũng
được, mà nên ngoại lệ hoài với những bông hoa trong vườn,
cũng đủ!)
Còn
tôi thì sao? thì đã hẳn tôi chẳng bao giờ chờ, vì
đã không một lần nhúng tay vào đất…lòng hờ đã sẵn,
ai đi bận tâm chờ đợi?
Chẳng
có ai chờ đâu, mà rồi những ngày đầu xuân vẫn luôn là
nỗi ngạc nhiên về chiếc đũa thần ảo thuật thiên nhiên
nơi bồn hoa ấy. Nỗi bất ngờ sửng sốt như khi „gặp tiên“:
vừa hé cánh cổng tre, phơi phới tràn vào mắt những hoa thủy
tiên như vừa mới được tắm gội bằng thứ nước sương
thuần khiết nhất của sáng đầu xuân, súng sính trong chiếc
áo màu „trắng nhìn không ra“ hoặc „màu vàng mơ thôi“
chưa hề có mặt trong một mùa nào trên nhân gian. Thế là
lòng nghe tở mở, con tim đập nhanh, niềm vui lanh chanh như
chân con chim khuyên không ngừng chuyền nhanh qua lá cành, giữa
vùng phương thảo muôn màu cẩm tú thanh thanh…
Từ
buổi ấy, mỗi bước ra vườn một sáng xuân là mỗi lần
hoa bắt môi nhoẽn cười, con mắt sáng lên, bước đi hết
gấp, đầu óc hết nghĩ, lo âu chùng lại, quá khứ không sau,
tương lai không trước, và hiện tại đang là… Là hoa, là
lá, là màu xanh, là bông trắng, là ngọc thạch, là tím ngát,
là hồng hương, là đỏ duyền quyên, là vàng mơ ảo…
Tôi
nói với „hiền“, ai ở đây rồi cũng thành bà hoàng không
ngai, cả hoa lẫn người. Nhưng bà hoàng ở đây khác với
mấy bà hoàng có ngai từ cổ đến kim chỉ ở một điều:
bà không trị vì hoa mà hoa ngự trị bà, bà không ra lệnh
hoa phải nở mà hoa ra lệnh bà „phải“ ngắm khi hoa nở.
Không ngắm không được đâu nào, hoa lá phơi phới thế kia,
không ngắm bơ hoài! Khu vườn mùa xuân trước mắt là vườn
thượng uyển trời trao cho đấy!
Chẳng
nói ngoa đâu! Hãy xem! Sáng sáng - hoặc trưa hay chiều giờ
nào tùy lòng - đủng đỉnh ra vườn, ngắm hoa, thăm cây, đoán
nụ. Hoa bày ra trước mắt mà chẳng cần phải sở hữu nó,
chẳng cần khư khư giữ của, không cần tranh cải, dành phần,
ai muốn ngắm muốn nhìn thì hoa đó của chung, mặc tình thưởng
thức, mặc tình đưa mũi lên không hít thở hương hoa. Yên
lặng nhìn hoa hay huyên náo thưởng hoa, tha hồ… Từ khi hoa
bán khai cho đến mãn khai, tùy duyên như gió! Người ngắm
được vui, người trồng được thỏa…Ở nơi khu vườn ấy
thường không thiếu điều lạ, của hiếm, khó có trên trần
gian…
Năm
nay không hiểu từ đâu, bên cạnh cổng tre, dưới chân cây
tử đinh hương đang sơ khai, có một loài hoa tím đến thăm
đất vườn, nở sáng cả một vùng. Buổi sáng mới mở cánh
cửa tre chưa kịp bước hẳn ra ngõ, màu tím làm ngợp đến
nỗi phải dụi mắt nhìn cho rõ hơn, lại càng thấy lạ, bởi
từ khi dọn về vườn này, chưa bao giờ thấy một loài hoa
như thế.
Dáng
cây khỏng khảnh cao gầy, lá xanh đuỗn dài tựa lá gai, hoa
đơm từng chùm với những đóa bốn cánh tựa như hoa cải,
chỉ khác thay vì màu vàng, hoa hửng lên ánh tím long lanh, thoáng
chút trang đài tựa màu sen cánh giáng. Nhưng có lẽ hoa chẳng
phải là loài hoa thuộc họ hàng cao sang vì vẻ đơn sơ, hầu
như hoang dã và lối mọc um tùm của nó; chắc chắn nó không
nằm trong kế hoạch hàng năm của người láng giềng đầy
kỷ cương trồng tỉa của tôi, thường cho cây hoa mọc theo
thứ tự lớp lang. Chỉ là một tình cờ, không định trước
mà hoa đến đây, mọc dại, mọc tràn, lại nở rộn nở ràng
làm cho người láng giềng không kịp nghiêm khắc khai trừ.
Có
thể do một cơn gió lộng nào, từ phương trời xa thật xa,
tận tít phương đông, hạt hoa bị tung cuốn đi hàng vạn
dặm, đang bay lơ lững trên không, ngang qua trời Munich, bỗng
thấy cái cổng tre, tưởng đã đến vườn cũ quen thuộc nên
sà xuống nằm ngủ suốt mùa đông như thế. Có thể trước
kia hoa đã là hoa cải màu vàng rủ bướm về trong nắng xuân
trên biền Lương Quán, bướm đem bụi cải về ngàn, gió ngàn
mang cánh bướm theo mây, mây theo mây bay mãi, đến tận mút
trời bên tê, bên tê trời chuyển lạnh, hóa thành mưa, đem
hương phấn về với đất. Mùa xuân đến, hoa cải vàng suốt
mùa đông nằm nhớ cố viên, nỗi nhớ thiết tha, đến nỗi
hoá tím tự bao giờ, nên khi trỗi dậy, hoa mang một màu tím
lạ lùng, vừa ngây ngất nhớ vừa đắm đuối thương… đến
gấp mười cái thương của xứ Huế…
Hôm
trời vừa ấm, mở ngõ ra vườn, cảm giác gặp hoa thật lạ
lùng. Trong bóng lá xanh cây tử đinh hương, màu tím như gợi
nhớ một vùng đất hoang vu nào đó trong quá khứ, thoảng
đến như một điệu hát buồn, thân thuộc, thân như hơi áo
tím ấm nồng của bà nội, như hương tím xưa thoảng từ
tóc dài của mẹ, như ước mơ tím hiền trong mắt của cô
gái mười sáu, như nhung nhớ tím ngát thời gian bên bến cũ
Văn Lâu…
Cảm
giác đẩy ta giật lùi vào quá khứ, xui chân bước lui, bước
lui mãi về đến tận nơi Hà Khê nước chảy đường mê,
những tưởng sẽ buồn triền miên vì nhớ, những tưởng
sẽ buốt lòng như „nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê“
[2]…
Nhưng
không, màu hoa gợi nhớ mà không gây sầu, vì màu hoa tươi
mát hồn nhiên như ngày và đêm, như nắng và mưa, như trăng
và sao, như giòng suối nhỏ hiền hòa làm lành vết gai sướt
chân giang hồ, như tiếng „quỳnh“ khúc khích sau lưng [3]
khiến lòng chợt mừng, không chờ mà gặp được cố
nhân...
Từ
xưa đến nay, có vườn thượng uyển nào được một loài
hoa mọc dại mà không bị biếm đi đất Thục như đi vào
thùng bi –ô để làm nước tưới cho những loài hoa quí khác?
Và có bà hoàng nào hạnh phúc hơn tôi, không có lầu vàng
gác tía nguy nga, thiên nga thị nữ, nhưng một sáng tinh mơ,
vừa bước chân ra ngõ, đã gặp quê hương, bên dậu tre ngát
màu hoa tím?
Cái
cảm giác hạnh phúc bãng lãng đến từ đôi chân loắng thoắng
trong màu tím ngỡ như đang chạm trên đất quê hương tôi
muốn chia cho bạn „hiền“ một nửa…chắc không khác chi„một
chút quê hương“ nơi những khóm sả, những vườn rau, bụi
chuối mà người tha hương nhớ quê đem theo trồng lại trên
khắp địa cầu…đơn sơ lắm, chỉ cần chân lướt thướt
dạo qua là niềm vui quê xưa tự nhiên tở mở…Cần chi là
hoàng hậu…“trạng“ như tôi hè?
Nghe
có ai níu áo đòi về…con đường xiêu lối nhỏ… Quay lui
với ấm trà, chợt thấy lá phượng phất phơ biến đâu mất,
sương đã tan đầu ngõ…chỉ nghe một tiếng reo nhỏ rớt
trong không…Tôi nhìn quanh, chợt thấy trong đám hoa màu tím
một đóa hoa khác tộc - hiền không phải hiền, tú nhường
như tú, quỳnh chẳng hơn quỳnh, thu từa tựa thu, khánh tuyền
như khánh, oanh mới vừa oanh, khuê chẳng khác khuê, lan chưa
thật lan - màu hoa hồng tía ửng chút vàng mơ, nhón gót
đứng chen hoa tím, cũng yêu kiều vẻ Huế… với nhau…
Muenchen
6. 6. 2005
[1]
Thơ Huy Cận „Ði giữa đường thơm“, trong tập thơ
„Ði giữa đường thơm“
[2]
Thơ Xuân Diệu
[3]
Lời nhạc Trịnh Công Sơn.