HỘI
THẢO
BỒ
TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC
VỊ
PHÁP THIÊU THÂN
Ngọc
Quý
Ngày
29-5-2005, tại Thiền viện Vạn Hạnh, Phú Nhuận, TP. HCM, Viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam đã tổ chức Hội thảo “Bồ
tát Thích Quảng Đức vị Pháp thiêu thân”. Đây là cuộc
hội thảo đầu tiên về Bồ tát Quảng Đức, nên bước ban
đầu là quy tụ các chứng nhân, sử liệu nhằm cung cấp thêm
những thông tin quý giá về cuộc đời, sự nghiệp hoằng
pháp độ sinh của Bồ tát Quảng Đức, và hiểu rõ hơn về
phong trào đấu tranh bất bạo động của Tăng Ni Phật tử
Việt Nam năm 1963, đồng thời mở ra hệ thống tiếp cận
sự kiện trên hai bình diện cơ bản: lý luận nhận thức
và sức sống tâm linh. Hội thảo đã nhận được sự quan
tâm của chư tôn đức Tăng Ni, các học giả, các nhà nghiên
cứu, các nhân sĩ, trí thức tại một số viện nghiên cứu
và trường đại học…, với sự hiện diện của HT. Thích
Minh Châu, HT. Thích Đức Nghiệp, HT. Thích Hiển Pháp,… GS.
Trần Văn Giàu, Đại tướng Mai Chí Thọ…, cùng với hơn
40 tham luận (trong đó có 35 tham luận với những tư liệu
mới chưa từng được công bố) của nhiều tỉnh thành trong
nước gửi về, trong đó có các tham luận đến từ Pháp,
Đức, Mỹ, Úc…,
Mở
đầu, sau lễ dâng hương cúng dường Bồ tát Quảng Đức,
HT. Thích Minh Châu, Chủ tọa phát biểu khai mạc, GS Lê Mạnh
Thát điều khiển Hội thảo, tiếp theo lần lượt một số
bài tham luận được trình bày như: Ngọn lửa Quảng Đức
(HT. Thích Trí Quang), Bồ tát Quảng Đức tự thiêu (HT. Thích
Đức Nghiệp), Tưởng nhớ Hòa thượng Thích Quảng Đức (Nhà
nghiên cứu Trần Bạch Đằng), Từ ngọn lửa Thích Quảng
Đức (TS. Nguyễn Quốc Tuấn), Sức mạnh bất bạo động nhìn
từ ngọn lửa Thích Quảng Đức (PGS. TS Lê Cung), Ngọn đuốc
đại hùng đại lực đại từ bi Thích Quảng Đức soi sáng
con đường đạo pháp và dân tộc (Nguyễn Chính-Nguyên Quyền
Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ), Hòa thượng Thích Quảng Đức,
biểu tượng về tính dân tộc và đạo pháp của Phật giáo
Việt Nam (TS. Trần Hồng Liên), Phong trào Phật giáo miền Nam
đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm trước năm 1963
(TS. Phan Văn Hoàng),…
Thu
hút sự chú ý quan tâm của những người tham dự Hội thảo
là lời phát biểu của GS. Trần Văn Giàu. Giáo sư đã
khẳng định ý nghĩa văn hóa lịch sử và giá trị tâm linh
trong hành động tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức
bằng lời tán thán: “Hòa thượng Quảng Đức không chỉ
vị Pháp thiêu thân mà còn vị quốc thiêu thân, Bồ tát Quảng
Đức là vị Đại anh hùng của dân tộc”. Và với tâm niệm
trong mấy mươi năm, Giáo sư xúc động niệm hai câu xưng tán
Bồ tát Thích Quảng Đức: Nam mô Thích Quảng Đức Bồ tát
Ma ha tát. Nam mô người đã vì nước, vì dân tộc, vì nhân
loại quên mình - Quảng Đức Bồ tát Ma ha tát.
Kế
đó, Đại tướng Mai Chí Thọ cho rằng lúc còn ở chiến khu
D, từ Đài phát thanh Giải phóng, nghe giọng nói nghẹn ngào
của nữ phát thanh viên đưa tin HT. Thích Quảng Đức tự thiêu,
ông đã xúc động từ trong tâm khảm. Ông nói: “Hành động
anh hùng khắc sâu vào tâm hồn người khác ấy tiêu biểu
cho truyền thống anh hùng của dân tộc… Và có nhiều con
đường để đi tới mục đích vì dân tộc”. Ông cũng nhấn
mạnh về việc “sau khi đổi mới, một số người cho rằng
dân tộc ta hiếu chiến, vì hiếu chiến nên mới nghèo khổ”.
Ông đã phủ nhận điều đó, vì qua hành động tự thiêu
của Bồ tát Quảng Đức đã chứng minh “Dân tộc nghèo yếu
không mong muốn gì hơn là hòa bình”.
Gợi
nhiều suy nghĩ là lời phát biểu của Cụ Nguyễn Đình
Tư. Cụ cho rằng: “Tình hình suy vi của Phật giáo càng trở
nên trầm trọng hơn khi thực dân Pháp đô hộ Việt Nam. Và
với sự giúp đỡ của thực dân Pháp, quyền uy của nhà thờ
cùng với nền giáo dục do người Pháp đem đến đã lôi kéo
không ít thanh niên theo Tây học, mà Tây học gắn với khoa
học, còn khoa học lại gắn với thực nghiệm, chứng minh...
Trong khi đó, Phật giáo là tôn giáo chú trọng nhiều về tâm
linh nên người ta cho rằng nó ‘ngược’ lại với khoa học
cụ thể. Do đó thanh niên, trí thức thời Pháp thuộc vội
vàng mất niềm tin ở Phật giáo, chạy theo tân học. Không
ít người bỏ đạo truyền thống để theo đạo Thiên Chúa.
Bên cạnh đó, tình hình chiến tranh xảy ra khắp nơi, nhiều
người đã giải thích chữ khổ khác với cách giải thích
của Phật giáo, và cho rằng tranh đấu phải bạo lực, dù
phương pháp có tàn bạo đến mấy nhưng “thoát khổ” thì
vẫn làm. Vì vậy đời sống tâm linh của dân tộc càng lúc
càng xa rời Phật giáo. Trong tình trạng đó, nếu không có
ngọn lửa Quảng Đức làm cho giới trí thức Tây học tỉnh
ngộ và thấy rằng đời sống tâm linh là đời sống cao quý
thì Phật giáo sẽ xuống dốc không ngừng. Ngọn lửa Quảng
Đức còn chứng minh rằng nếu tu hành đúng chánh pháp thì
có thể giải thoát, có thể an nhiên ngồi trong lửa đỏ...
Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, Đại hội thành
lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã quy tụ
rất nhiều tầng lớp trí thức, thanh niên, và Giáo hội đã
thành lập Tổng Hội Thanh niên, Đoàn sinh viên Phật tử, Đoàn
học sinh Phật tử… Có thể nói Ngọn lửa Quảng Đức đã
khơi dậy niềm tin vào chánh pháp nơi giới thanh niên trí thức
tân học và khẳng định con đường tâm linh là lựa chọn
đúng của dân tộc trong suốt hơn hai nghìn năm lịch sử.
Đó là niềm tự hào của Phật giáo Việt Nam”…
Tiếp
theo là lời khẳng định của Chính quyền Thành Phố về việc
thu hồi hơn 1000m2 đất tại địa điểm lịch sử cũ để
xây dựng công viên Hòa Bình và tượng đài kỷ niệm Bồ
tát Quảng Đức.
Cuối
cùng GS Lê Mạnh Thát thay mặt Chủ tọa đoàn tổng kết Hội
thảo với ba vấn đề chính: 1. về lý luận; 2. về tâm linh
và nội lực của con người; và 3. về tư liệu. Có thể khái
quát như sau:
1.
Về
lý luận:
-
Cơ sở để lý giải về vấn đề tự thiêu đều được
đề cập một cách thống nhất trong các kinh tạng Phật giáo,
Nam cũng như Bắc truyền. Lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng
đã ghi nhận về sự tự thiêu, chẳng hạn Thiền sư Đàm
Hoằng tự thiêu năm 455 tại chùa Tiên Sơn; vào thời Lý, hai
thiền sư Bảo Tánh, Minh Tâm chuyên tu theo kinh Pháp Hoa đã
phát nguyện tự thiêu…
- Phong
trào đấu tranh của Phật giáo Việt Nam với phong trào đấu
tranh của Thánh Ghandi (Ấn Độ) đều có chung một tính chất
bất bạo động như phương thức đấu tranh còn có nhiều
điểm khác nhau, điều này cần được triển khai để làm
rõ.
2.
Về
tâm linh và nội lực của con người:
- Bồ
tát Quảng Đức tự thiêu, ngồi an nhiên trong lửa đỏ đã
minh chứng đây là một hiện tượng tâm linh siêu việt.
Điều này đã được các nhà nghiên cứu khoa học khẳng định.
Vì vậy, với những năng lực tâm linh phi thường của con
người, chúng ta có thể ứng dụng tâm linh vào các lĩnh vực
khác nhau trong đời sống…
3.
Về
tư liệu:
- Những
tư liệu bí mật chung quanh vấn đề này cũng đã lần lượt
được công bố qua hồi ký của nhiều chứng nhân lịch sử,
những người trong cuộc hoặc người quan sát... Nhờ thế
mà hiểu được những suy nghĩ, đối phó, cũng như những
quan điểm khác nhau của các lực lượng đương thời về
phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt
Nam, điển hình là sự kiện tự thiêu của Bồ tát Quảng
Đức. Và qua các tư liệu, cũng cần xác minh lại vai trò của
một số nhân vật lịch sử liên quan đến phong trào đấu
tranh của Phật giáo năm 1963.
Kết
thúc Hội thảo, GS. Lê Mạnh Thát đã khẳng định: “Ngọn
lửa Bồ tát Quảng Đức tự thiêu cho chúng ta thêm một hình
ảnh mới về mối quan hệ giữa Phật giáo và dân tộc”.
GS cũng nhấn mạnh, cần có thêm các cuộc Hội thảo tiếp
theo về Bồ tát Quảng Đức để làm rõ hơn những vấn đề
về lý luận, tâm linh và tư liệu.