.
..SỐ 05 -THÁNG 6, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 05-THÁNG 6, 2005

 

 

TRI ÂN VIỆN - THÁNH ĐỊA 
CỦA TỊNH ĐỘ TÔNG NHẬT BẢN
Thích Minh Hiền - Pháp Quảng

Tri Ân Viện, một thánh địa của Tịnh độ tông - nơi đã ghi dấu thời gian dài trong dòng lịch sử dân tộc Nhật Bản. Những tác động và sự tái tạo sau nạn can qua - niềm vui, hạnh phúc và sự bình yên của dân tộc Nhật thời hoà bình, tất cả đều hiện lên rõ nét ở nơi đây. Trong một không gian bao la, chan hoà vẻ đẹp của các ngôi tự viện lớn nhỏ, giáo lý Tịnh độ vẫn mãi mãi được duy trì và thăng hoa trong cõi Sa bà này…

Thánh địa Tịnh độ tông-cội nguồn phát khởi Tịnh độ với bạt ngàn cây xanh và 106 ngôi tự viện lớn nhỏ.

Tri Ân Viện-tổng bản sơn của Tịnh độ tông nằm trên vùng đất trải rộng từ chân núi Kacho, một trong 36 ngọn núi của dãy Đông Sơn-Kyoto. Nơi đây, Pháp Nhiên thượng nhân (Honen) là người đầu tiên đã đến khai sơn, tạo dựng thiền viện, lập tông phái Tịnh độ, khai tràng, thuyết pháp rồi viên tịch. Tri Ân Viện ngày nay là một quần thể kiến trúc rộng lớn, với diện tích trên 288.000 m2 (73.000 tsubo, đơn vị đo cổ), bao gồm 3 cấp mặt bằng tổng thể: thượng, trung, hạ, với vô số công trình kiến trúc, được gìn giữ và công nhận là quốc bảo và di sản văn hóa quốc gia.

Trung tâm của tầng thượng là Ngự triều của tổ Pháp Nhiên, kế đó là Thế Chí Đường và đền Nhu Phát. Tầng giữa là Ngự cảnh đường với sức chứa 3000 người vào tham quan một lúc, cùng với rất nhiều những kiến trúc lớn và trang trí khác nhau. Tầng hạ có cổng Tam quan, Đạo tràng tu tập, Hoà Thuận Hội Quán hay các phòng học cho các cư sỹ Phật tử trên toàn quốc. 

Cổng Tam quan

Tam quan của Tri Ân Viện đã được Nhật Bản xếp hạng Quốc Bảo, là nơi có vị trí quan trọng trong quần thể kiến trúc vô cùng rộng lớn của Tri Ân Viện. Được xây dựng từ thời Tướng quân Đức Xuyên Gia Khang (Tokugawa) năm thứ 7 Nguyên Hoà (tức 1621 sau Tây lịch), Tam quan đã chào đón hàng triệu triệu Tăng Ni, Phật tử, du khách viếng thăm. Cổng có chiều cao 24m, bề rộng 50m, mái cổng được tạo nên bởi hơn 70.000 viên ngói, được đánh giá là cổng gỗ lớn nhất thế giới. Tầng trên là tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trần và tường được trang trí bằng họa tiết nhiều màu sắc về các tiên nữ và rồng bay. Tam quan được tu bổ và phục chế lớn qua các triều đại Chiêu Hòa và Bình Thành, nên phần thiết kế được làm mới nhiều, nhưng vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị cổ kính và truyền thống của Tịnh độ tông.

Qua cổng Tam quan, chúng ta sẽ bắt gặp những bậc thang bằng đá dựng đứng với tên gọi Dốc Nam. Kế tiếp Dốc Nam là Dốc Nữ với những bậc đá thoai thoải, mang ý nghĩa thật sâu sắc, mỗi một dốc này đem lại cho ta cảm giác sắp đạt được nguyện ước khi leo lên hết dốc Nam dựng đứng, và cảm nhận được tình yêu thương của người xưa khi xây nên những bậc Dốc Nữ thoai thoải. Ngoài cổng Tam quan, chúng ta còn thấy nhiều cổng khác như: Đường Môn, Bắc Môn, Tứ Cước Môn (cổng dành cho ngựa đi lên) được xây dựng từ  đầu triều đại Giang Hộ (Edo), mang vẻ đẹp cổ kính với kiểu kiến trúc tầng mái tả hữu nhập mẫu. 

Ngự Cảnh đường

Từ Tam quan, leo tiếp lên các bậc đá, du khách sẽ tới Ngự Cảnh đường nằm trong không gian rất rộng và tĩnh mịch. Đây chính là Đại già lam có quy mô lớn nhất của Tịnh độ tông, với vẻ đẹp kiến trúc Đào Sơn (Momoyama). Tương truyền nơi đây từng là nơi ở của Pháp Nhiên thượng nhân. Ngự Cảnh đường được xây dựng từ thời Tướng quân Đức Xuyên Gia Quang đời thứ 3, vào khoảng năm 1639, theo kiến trúc mái Tả hữu nhập mẫu “Đơn tầng nhập mẫu thất”, với chiều sâu 35m, rộng 45m, 3m hành lang bao quanh. Ngự Cảnh đường đem đến cho du khách tham quan sự thư thái khi ghé qua.

Về phía Tây Ngự Cảnh đường là ngôi chính điện thờ Đức Phật A Di Đà, và sự an trí tượng Đức Phật A Di Đà nơi đây đã tạo nên không khí an lạc, tự tại cho thắng cảnh. Về phía Đông, có một trong các di sản văn hoá quan trọng của Tri Ân viện, đó là Kinh luân tạng (tàng kinh). Bên trong Kinh luân tạng có đề hàng chữ “ Tống bản nhất thiết kinh”. Trong Kinh luân tạng chứa đựng 6.000 bản kinh. Người ta nói rằng, nếu có thể dùng sức quay chuyển Kinh luân tạng được một vòng thì sẽ có công đức tương đương với việc tụng hết bản kinh trong Kinh luân tạng. Năm Bình Thành thứ 4, Bảo Phật điện (nơi thờ đức Phật A Di Đà) đã phần lớn được tu bổ lại, hương gỗ mới cùng pho tượng đức Phật A Di Đà tuyệt đẹp và trang nghiêm, thu hút sự quan chiêm của nhiều du khách. 

Chúng ta leo tiếp vào bên trong các bậc thang bằng đá tĩnh mịch sẽ bắt gặp Đại Thế Chí Đường và Ngự miếu (Lăng của tổ Pháp Nhiên). Đại Thế Chí Đường được biết đến với Thiền đường Đại Cốc cổ kính nhất trong Tri Ân Viện, là nơi Pháp Nhiên thượng nhân viên tịch, được xây dựng lại vào năm 1530. Nơi đây được dùng làm thiền đường chính cho tới khi Ngự cảnh đường được xây dựng. Trong Thế Chí Đường có an trí tượng Bồ tát Thế Chí, xuất phát từ tên hồi còn nhỏ của tổ Pháp Nhiên là Thế Chí Hoàn.

Ngự miếu là nơi cất giữ di cốt của tổ Pháp nhiên, được xây cất theo lối kiến trúc Bảo Hình với lớp ngói ống. Vào năm 1613 (tức năm thứ 18 triều đại Khánh Trường), ngự miếu được tu bổ, giữ nguyên không khí trang nghiêm, tịch mịch.

Đi sâu vào bên trong Đường môn, với kiến trúc phong phú nằm phía Đông Ngự Cảnh đường, ta sẽ đến thư viện Đại Phương Trượng và Tiểu Phương Trượng, những công trình nổi tiếng về kiến trúc Thư viện của chư Tăng. Phương Trượng Đình Viên, là công trình do sa môn Tăng Uyên Phòng tạo ra mang kiểu Hồi du (đi vòng tròn), là một trong những khu vườn nổi tiếng trong thành phố Kyoto. Kiến trúc tráng lệ và trầm lắng của 2 khu nhà Tiểu Phương Trượng và Đại Phương Trượng kề cận nhau, hài hoà với phong cảnh vùng núi Đông Sơn phía sau.

Đại Phương Trượng, được bài trí tương tự như Thư viện trong Đại Phản Thành (Thành cổ Kyoto), đã từng được dùng là nơi làm việc của Tướng quân Đức Xuyên. Khu nhà bao gồm nhiều gian, chính giữa là gian rộng 54 chiếu, và nhiều gian khác được trang trí bằng các bức tranh trên vách kéo. Trong gian Phật có đặt pho tượng Đức Thích Ca Như Lai. Có thời người ta còn bố trí ngai vàng cho Nhật hoàng trong gian ở tầng trên. 

Thêm nữa, Tiểu Phương Trượng trước đây là nơi sinh hoạt của gia đình Tướng quân Đức Xuyên. Trong gian nào người ta cũng trang trí những bức tranh thuỷ mặc tạo không khí nhẹ nhõm, êm đềm.

Từ dốc Nữ qua cửa Tam môn, đi theo phía tay phải là khu vườn Hữu Thiền Uyển, được xây dựng để kỷ niệm 300 năm ngày sinh của tổ sáng lập Hữu Thuyền Lương (Yuzen Yamazaki), trải rộng một màu xanh ngắt và yên tĩnh. Với diện tích 4000m2, vườn được thiết kế bao gồm 2 khu vườn nhỏ, vườn thứ nhất lấy nguồn thác nước từ núi Đông Sơn và vườn còn lại lấy nước từ Giải Sơn Khê. Giữa khu vườn là tác phẩm của nghệ sỹ Nhật bản nổi tiếng Takamura Koun: Tượng đức Quán Thế Âm đứng trên toà sen đem lại cho du khách viếng thăm cảm giác linh thiêng. Kế đó, trong khu vườn còn có trà thất Hoa Lệ Am, do một trà sư từ thế kỷ 15 tên là Urasensei xây dựng nên, đã trang hoàng thêm cho khu vườn vẻ đẹp và tâm hồn của người Nhật bản. 

Bảy điều Bất khả tư nghì tại Tri Ân viện:

Hành lang chim hót

Khi chúng ta rảo bộ trên hành lang nối liền Ngự cảnh đường đến các thư viện Đại Phương Trượng và Tiểu Phương Trượng dài 550m, sẽ phát ra âm thanh tựa tiếng chim hót. Đây được coi là hành lang độc nhất vô nhị tại Nhật bản, với chiều dài lớn nhất và sử dụng kỹ thuật độc đáo dùng âm thanh để tránh kẻ lạ đột nhập vào. 

Hai bức tượng gỗ trắng 

Trên tầng thượng của Tam môn, có gian bày 2 bức tượng bằng gỗ của 2 vợ chồng người thợ mộc tên là Gomi Kinemon, chịu trách nhiệm phần trụ ở Tam quan. Chuyện kể rằng, 2 vợ chồng người thợ này đã tự vẫn khi phải chịu trách nhiệm về việc thi công vượt quá ngân sách, người đời sau tạc tượng khắc tên 2 vợ chồng này để bày tỏ sự hoài niệm và ân hận.

Chiếc ô bỏ quên

Dưới chính điện của Ngự Cảnh đường, du khách sẽ thấy một chiếc ô cũ nằm trên mái điện, tương truyền là của người thợ mộc Hidari Jingoro. Người ta tin là chiếc ô này là biểu tượng bảo vệ cho Tri Ân viện khỏi hoả hoạn, vì ô đơn giản để che mưa. 

Xẻng gỗ lớn

Trên mái hành lang vào Đại Phương Trượng, có đặt một chiếc xẻng lớn, người ta nói rằng đấy là vật bảo vệ cho con người, mang ý nghĩa “ Nhất thiết chúng sinh cầu tế” của Đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. Người ta cũng kể rằng, Tướng quânTam Hảo Thanh Hải Nhập Đạo đã dùng nó tả xung hữu đột trong trận chiến nổi tiếng của quân đội vào mùa hè ở Osaka. 

Những con chim sẻ bay đi

Hình ảnh những con chim sẻ trong những bức tranh tường tại Thư viện Đại Phương Trượng, trông sinh động đến nỗi người ta tưởng rằng nó được giao phó sinh mệnh và có thể bay đi mất, và vẫn còn lưu lại trên bức tranh những vết chân chim.

Tranh mèo 

Trong bức tranh vẽ mèo trên cửa hành lang Đại Phương Trượng, nếu bạn nhìn từ góc độ nào chăng nữa cũng đều thấy chú mèo đang nhìn chăm chăm vào phía bạn. Đây là tác phẩm của Kano Nobumasa.

Hòn đá  dưa leo

Tương truyền rằng hòn đá lớn nằm ở cửa Tây của Hắc Môn đã có sẵn trước khi xây dựng Tri Ân viện. Ngày xưa, Nhật hoàng đã phát hiện ra cây dưa leo mà không biết ai đã trồng, cây chỉ trong một đêm đã lớn và ra quả. Ngài đã đặt hòn đá tại đây để đánh dấu sự kiện này.
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 05 -THÁNG 6, 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)