VŨ
KHÚC
LỤC
CÚNG HOA ĐĂNG
MỘT
LOẠI HÌNH ÂM NHẠC ĐẶC THÙ
CỦA LỄ NHẠC
PHẬT GIÁO VIÊT NAM
Huệ
Thiện
Thời
còn tại thế, Đức Phật thường dùng kệ tụng (Gàthà) trong
thuyết giảng Chânh phâp. Kệ tụng cũng là một trong những
thể loại ban đầu của nền âm nhạc Ấn Độ. Nhờ vào tính
chất du dương, giàu giai điệu của ngôn ngữ Phạn và thể
loại kệ tụng này, mà từ đó giáo pháp được dễ dàng
tiếp nhận, dễ nhớ và dần dần thấm sâu vào lòng người,
có khả năng chuyển hóa vi diệu. Cũng sau những buổi thuyết
pháp của Đức Phật, các kinh điển thường ghi lại những
cảnh tượng diễm lệ, huy hoàng, thiêng liêng khi chư thiên
khắp trời giăng lưới châu, rải tràng hoa, trỗi kỹ nhạc
để xưng tán, ca ngợi Đức Phật, giáo pháp và thánh chúng.
Trong quá trình hoằng pháp lợi sanh, lịch đại chư Tổ đều
kế thừa, phát huy nguồn âm nhạc thiền vị ấy để tự
thăng hoa đời sống tâm linh và lấy đó làm phương tiện
quyền xảo để đưa mọi người trở về với kho tàng chánh
pháp. Có thể nói, âm nhạc luôn là một tố chất không thể
thiếu trong suốt lịch sử 2549 năm tồn tại và phát triển
của Phật giáo.
Lục
Cúng là một thể loại của âm nhạc Phật giáo. Khi đạt
đến đỉnh cao nghệ thuật, vũ khúc Lục Cúng là một loại
hình âm nhạc đặc thù của Phật giáo xứ Huế.
ĐẶC
ĐIỂM CHUNG CỦA VŨ KHÚC LỤC CÚNG
Lục
Cúng có nghĩa là sáu lần cúng. Tương ứng với mỗi lần
cúng là một trong sáu lễ vật cúng dường: hoa, hương, đèn,
trà, quả, nhạc. Mục đích của Lục Cúng là nhằm cúng dường
chư Phật. Trước hết là tưởng nhớ ân sâu hóa độ của
Đức Phật và qua đó, là thực hành hạnh phụng sự chúng
sanh, truyền bá chánh pháp. Theo Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng
Huề, vũ khúc Lục Cúng có từ thời cổ, do các vị sư Ấn
Độ truyền vào nước ta. Hằng năm khi vụ mùa được bội
thu, tại các chùa lớn thuộc các hạt Thuận Thành, Văn Lâm,
Mỹ Hào, Yên Mỹ, Thường Tín - các nơi thờ Phật Tứ Pháp
- những lúc có tổ chức các lễ lớn đều biểu diễn vũ
khúc này để dâng hương, hoa đèn, trà, quả, thực lên Tam
Bảo. Vũ khúc Lục Cúng có được truyền bá rộng rãi hay
không và đã được du nhập vào xứ Đàng Trong trước đó
và kinh đô Phú Xuân sau này như thế nào? Đến nay, chưa thấy
tài liệu nào ghi lại. Các vị Tăng am tường và đã từng
trình diễn về vũ khúc này hiện còn sống tại cố đô Huế
cũng chỉ biết vũ khúc Lục Cúng là do chư Tổ truyền lại.
Đồng thời, trong các thế hệ Thầy Tổ của Phật giáo xứ
Huế đều có nhiều vị rất giỏi và điêu luyện về vũ
khúc này.
Nhã
nhạc cung đình Huế là di sản văn hóa phi vật thể của nhân
loại đã được UNESCO công nhận. Trong nhã nhạc cung đình
Huế, vũ khúc Lục Cúng chính được bắt nguồn từ âm nhạc
Phật giáo. Tác phẩm "Những đại lễ và vũ khúc của vua
chúa Việt Nam" cho biết rằng, đến đời Minh Mệnh (1820 -
1839), vua sai viện Hàn Lâm học tập, tiếp nhận và sửa lại
vũ khúc này. Cái tên Lục Cúng Hoa Đăng chính thức có từ
thời ấy. Như vậy, Lục Cúng Hoa Đăng từ tính chất vốn
có của nó là một loại hình âm nhạc tôn giáo có khi đã
được tiếp thu và cải biên thành một loại hình âm nhạc
cung đình. Ngoài chức năng cúng dường, truyền giáo, Lục
Cúng còn có chức năng giải trí, thẩm mỹ. Trong suốt lịch
sử tồn tại của nó, Lục Cúng luôn được thay đổi, bồi
đắp và phát triển đến đỉnh cao nghệ thuật.
Lục
Cúng Hoa Đăng là một đàn trong bộ ba của nghi thức Chạy
Đàn: Lục Cúng - Khai Tịch - Bạt Độ. Môi trường diễn xướng
của Lục Cúng Hoa Đăng trong Phật giáo và trong cung đình có
sự khác nhau. Trong khi Lục Cúng Hoa Đăng trong cung đình thường
chỉ được trình diễn trong các ngày lễ Thánh Thọ, Tiên
Thọ, Vạn Thọ và Lễ cúng Mụ thì trong Phật giáo, vũ khúc
này chỉ được trình diễn trong những hoàn cảnh đặc biệt.
Trong các lễ Lạc Thành, An Vị hay Lễ Hội, Vía Phật, nếu
có tổ chức Giải Oan Bạt Độ, Trai Đàn Chẩn Tế thì vũ
khúc này mới được trình diễn. Khai Tịch - Bạt Độ được
diễn trong đêm tổ chức Đàn Bạt Độ với ý nghĩa nguyện
cầu cho những người đã khuất giải thoát oan khiên. Lục
Cúng Hoa Đăng được diễn trong đêm có tổ chức Đàn Chẩn
Tế với ý nghĩa hoàn mãn, vui mừng, chúc mọi người còn
sống được thái bình, hạnh phúc, an lạc.
Giai
đoạn đầu mới hình thành, Lục Cúng do hai vị tăng mặc
áo Ca Sa vàng, đầu đội mũ Thất Phật biểu diễn, khi múa
hai vị tăng này chỉ cử động cổ hai bàn tay để kiết ấn,
xả ấn, hai bàn chân khẽ rê đi, dàn ra theo hình chữ
nhật (lúc dâng hương), hình liên hoa bốn cánh (lúc dâng hoa)
hình chữ ( )á (lúc dâng đăng), hình chữ (
)thuỷ (lúc dâng trà), hình chữ( )vạn
(lúc dâng quả) và hình chữ ( )điền (lúc
dâng thực). Về sau, có khi các vị Tăng không múa mà lại
cho 4 hoặc 8 em nhỏ hoá trang làm Kim Đồng - Ngọc Nữ múa
thay. Các em này đầu đội mũ Trang Kim, mặc áo màu, chân có
bít tất trắng, chỗ trên hai khuỷu tay có vắt một mảnh
lụa màu vàng lạt. Ứng với 6 lần múa có 6 khúc hát, điệu
hát ngân nga, du dương, trầm tĩnh. Dứt mỗi khúc hát, nhạc
công gõ vào não bạt và đánh trống đỗ hồi. Thời điểm
mà Vũ khúc Lục Cúng được du nhập vào nhã nhạc cung đình
thì nó đã phát triển gần đến độ hoàn thiện về nghệ
thuật của nó. Dưới thời các vua Nguyễn mà mốc giới là
từ thời vua Minh Mệnh trở về sau, trong cung đình, Lục Cúng
Hoa Đăng được trình diễn bởi 16, 32, 48, hoặc 64 vũ sinh
vừa nam vừa nữ má phấn môi son cũng hoá trang làm Kim Đồng-Ngọc
Nữ. Vũ sinh đội mũ hoa sen, thắt dây kết bông, trong mặc
áo lót màu lục, tay đính vỏ lừa, ngoài mặc áo Mã Tiên,
xiêm dài, quần giáp, giải quần màu hồng, chân quấn xà cạp,
bít tất trắng, hai tay cầm hai chậu đèn hoa sen, vừa múa
vừa hát.
Cách
đây ba mươi năm về trước, khi Lục Cúng Hoa Đăng đang còn
thịnh hành, mỗi khi trình diễn ở các đàn tràng, thường
chỉ 10, 12 hoặc 20 vị Tăng trình diễn, hoá trang làm chư Tiên.
Đại để cách phục sức cũng giống như cách phục sức mà
nhã nhạc cung đình đã duy trì. Nhưng áo Mã Tiên được mặc
kèm Xà Phu mặc rồng (Xà Cạp chỉ được mang kèm với áo
Bá Nạp biểu diễn trong đàn Khai Tịch và Bạt Độ). Mọi
người đều cầm Lam ba (đèn hoa sen), riêng hai vị thủ (hai
người đứng trước có vai trò ra hiệu lệnh, dẫn đường)
thì có khi cầm não bạt (xập xoã) bằng đồng để ra hiệu
lệnh. Mọi người đều vừa múa vừa tán. Các động tác
ký vạn thọ (là động tác một chân bước lùi một bước,
chân còn lại gập xuống, hai tay một cao một thấp đưa
đèn lên trong tư thế chào. Động tác này thường kèm theo
động tác xoay tròn cả người hai vòng ngược - xuôi. Thuật
ngữ Lục Cúng gọi là Làm Bông hai mặt phải trái), chạy
đàn Song Lục (nghĩa là cặp sáu. Bởi vì ngày xưa, vũ khúc
Lục Cúng thường được trình diễn bởi 12 người. Khi chia
hai hàng thì mỗi hàng có 6 người, xếp song song với nhau cho
nên gọi là Song Lục), đôn bình, nâng hoa v.v...có khi nhanh
khi chậm nhưng đều rập ràng, uyển chuyển, hoa mỹ mang tính
nghệ thuật cao. Phụ hoạ theo các bài tán và các điệu múa,
điệu vấn, điệu chạy, điệu nhảy là một dàn nhạc giao
hưởng gồm: tang, mõ, trống, kèn, đàn, sênh, phách v.v... Thời
gian trình diễn thường vào ban đêm, kéo dài từ một đến
hai tiếng đồng hồ. Địa điểm diễn xướng chính là nơi
đã được thiết trí sẵn cho đàn Bạt Độ, Chẩn Tế.
VÀI
NÉT VỀ NỘI DUNG VŨ KHÚC LỤC CÚNG HOA ĐĂNG
Lục
Cúng Hoa Đăng là một loại hình nghệ thuật kết hợp nhuần
nhuyễn giữa âm nhạc và vũ đạo. Nội dung cụ thể và sinh
động của nó chỉ được truyền đạt trọn vẹn qua sự
trình diễn sinh động trong một môi trường cụ thể, phù
hợp. Ở đây, chỉ giới thiệu những nội dung khái quát của
vũ khúc này.
Lục
Cúng Hoa Đăng của nhã nhạc cung đình Huế hiện chỉ có 6
khúc hát: Đăng Hoa, Hương Phù, Hoa Quả, Trí Đăng, Phật Diện,
Khể Thủ và Tam Tự Quy. Biểu trưng của 6 khúc hát là 6 lễ
phẩm: hoa, hương, đăng, trà, quả, nhạc. Trong qúa trình tiếp
nhận có thêm bớt, về sau lại bổ sung thêm bài La Liệt.
Lục
Cúng Hoa Đăng của Phật giáo bao gồm 3 nội dung chính: phần
triệu thỉnh Tiên đồng, Thổ địa và chư Tiên - phần hành
đàn Song Lục và chồng bình - phần kết chữ và tự
quy hồi đàn.
Mở
màn, Tiên sứ giả triệu Tiên đồng: “thừa Như Lai chiếu
chỉ, triệu Tiên đồng đáo lai đàn nội”. Khi Tiên đồng
xuất hiện, chạy quan sát khắp đàn tràng, rồi đứng trước
đàn Giác Hoa hát các bài hát theo các thể loại: kẻ, hường,
tán, nam, khách, tấu mã, phú lục, xưng danh. Hát xong Tiên đồng
triệu Thổ địa. Thổ địa ra đàn tràng lễ Phật, Tiên và
biểu diễn những động tác, những điệu hát như Tiên đồng
đã làm. Sau đó, Thổ địa triệu thỉnh chư Tiên trở ra đàn
tràng bắt đầu phần Lục Cúng.
Theo
tiếng nhạc, chư Tiên ra đàn tràng, ký vạn thọ, cử tán,
đi theo hình chữ
......á, vừa đi vừa đồng thanh tán bài Hội Phật Tiền:
“Hội Phật tiền, lạc văn kinh. Lục tiên mẫu hiến hoa đăng
hề hiến hoa đăng. Minh minh cảnh cảnh chiếu tâm đăng hề
chiếu tâm đăng. Hành trình hoàng lộ hiến hoa đăng hề hiến
hoa đăng. Đức trạch quần sanh chư thiện đạo. Ân đàm cữu
hữu phối linh quang. Phước đẳng hà sa vô số Phật. Hồi
đầu vọng bái tại Phật tiền”. Chư Tiên lễ Phật xong,
ký vạn thọ, giao diện rồi đồng hô - ứng: “vạn lý giang
sơn” - “hề đáo bổn đàn”. Tiếp đó, vừa múa vừa tán
bài: “Nhạn giới tân phân cảnh thượng liêu a thượng liêu.
Vân cù lịch tận hải thiên nghiêu a thiên nghiêu. Hoàng kim
bố địa tha thiên quốc. Bạch ngọc diêu đài thượng tuý
tiêu a tuý tiêu”.
Trở
về vị trí cũ, chư Tiên chia thành hai nhóm, làm hai bình Phù
Diện trong tư thế hoa sen xếp tầng, cử tán, xẹt não bạt,
nâng bình, giao diện, rồi đi theo hình chữ
nhật, cùng tán bài: “Phù diện do như tịnh mãn nguyệt. Diệc
như thiên nhật phóng quang minh. Viên quang phổ chiếu ư thập
phương. Hỷ xả từ bi giai cụ túc”.
Từ
từ hạ bình, ký vạn thọ, xẹt não bạt, giao diện, hành
đàn Song Lục I, chạy chậm ba vòng rồi vấn Tứ Châu (bốn
góc). Sau đó, trở về lại trước bàn Giác Hoa, tập trung
cùng dựng bình Tam Bảo (hình dáng ba bông hoa, giữa cao hai
bên thấp). Xẹt não bạt, nâng bình, múa đèn và cùng tán
bài: “Hương phần tại thượng phương. Thoại ái kim lô phóng.
Nội hữu liêu nhiễu thanh yên. Diệu Âm Vương. Phụng hiếu
điều ngự tiền. Như lai phù thọ de, lưỡng túc tôn”.
Xả
bình, xếp hai hàng, xẹt não bạt, ký vạn thọ, giao diện,
hành đàn Song Lục II chạy thành vòng tròn rồi vấn Liên Đằng
(sợi dây liên kết). Xẹt não bạt, trở về bàn Giác Hoa (Định
Vương Như Lai), giao diện, đồng hô đồng đáp: “Vạn lý
giang sơn - Hề đáo bổn đàn”. Sau đó tập trung hai nhóm
làm bình Song Hạt Phi Lai (hình dáng hai con hạt đang bay). Xẹt
não bạt, nâng bình, cùng tán và múa bông theo bài: “Nhân
duyên tự tánh sở xuất xanh. Sở hữu chủng chủng vi diệu
. Hoa hương đăng đồ quả nhạc. Phụng hiến thượng sư tam
bảo tôn. Duy nguyện từ bi ai nạp thọ”.
Xẹt
não bạt, trở về hai hàng dọc trước bàn Giác Hoa, ký vạn
thọ, giao diện, xuất đàn Song Lục III, chạy chậm thành vòng
tròn, giao diện, vấn Kết Thằng (dây thắt từng múi). Vừa
chạy, vừa nhồi đèn rồi chia thành 4 nhóm tập trung ở bốn
góc (đông tay nam bắc), làm Bát Cảnh Bái Bàn. Sau đó chạy
thành vòng tròn, rẻ hai hàng trở về bàn Giác Hoa, cùng dựng
bình Bảo Toạ (tương tự như hình dáng bình Phù Diện). Cử
tán, xẹt bạt, nâng bình, vừa múa bông vừa tán bài: “La
liệt hương hoa kiến bảo đàn. Trùng trùng phật cảnh nhất
hào đoan - nhất hào đoan. Tâm dung diệu lý hư không tiểu.
Đạo khế chân như pháp giới khoan - pháp giới khoan. Tướng
hảo từ bi thu nguyệt mãn . Hoá thân đằng vận mộ vân phiền
- mộ vân phiền. Hương yên đối lý chiêm ứng hiện. Vạn
tượng sum la hải ấn hàm. Vạn tượng sum la hải ấn hàm”.
Hạ
bình Bảo toạ, xếp lại hai hàng dọc, xẹt não bạt. Ký vạn
thọ, rồi xuất đàn Song Lục IV. Sau đó chạy lại thành vòng
tròn, cùng vấn Lồng Mốt (vấn xen kẻ hai người với nhau
nhưng vấn một lần) rồi trở lên trước bàn Giác Hoa sắp
hình các chữ thiên hạ thái bình:
Sau
đó trở về vị trí hai hàng dọc, cùng nhồi đèn và tán
bài Tam Tự Quy: mỗi lần tán một Tự Quy, từ hàng hai, xếp
thành hàng tư cùng cúi xuống lạy, rút lại thành hàng hai,
như thế ba lần cho đến: “Thống lý đại chúng, nhất thiết
vô ngại”. Hai vị thủ dứt não bạt. Cả đại chúng đồng
hoà hồi đàn: “Hoà nam thánh chúng”.
Trong
trường hợp chỉ trình diễn một vũ khúc Lục Cúng, quý vị
Tăng hoá trang làm chư Tiên có thể thêm các bài tán Diệu
Hoa, Hoa Quả, Ngã Kim Y Giáo, v.v... và dựng thêm bình Lưỡng
Long Tranh Châu, Tứ Thiên Vương, làm Hoa Khai Hoa Hạp, v.v...
vốn là những tiết mục của Khai Tịch và Bạt Độ. Đặc
biệt gần đây, trong khi phục hồi vũ khúc này, cố Hoà thượng
Thích Từ Phương đã có công đưa điệu thức Thài và bốn
khúc hát vào phần xếp bốn chữ Thiên Hạ Thái Bình đã làm
cho tiết mục này thêm phần phong phú, nghệ thuật.
Trước
đây Lục Cúng Hoa Đăng đã từng được lưu diễn tại Lễ
Hội Quán Thế Âm tổ chức ở Động Huyền Không - Ngũ Hành
Sơn (Quảng Nam Đà Nẵng), tại Đại lễ Bạt Độ Chấn Tế
tổ chức ở Đại Lộ Kinh Hoàng (Quảng Trị). Riêng tại Huế,
dưới thời Khải Định, vua đã mời vào biểu diễn tại
cung An Định. Hầu hết các chùa Thiên Mụ, Diệu Đế, Quốc
Ân, Châu Lâm, Phước Điền, Báo Ân, Dạ Lê v.v... đều đã
từng là nơi có biểu diễn vũ khúc này. Sau 30 năm vắng bóng,
đến năm 2003, vũ khúc này mới được phục hồi và đã trải
qua bốn lần trình diễn tại: Đại lễ Phật Đản - chùa
Diệu Đế (Phật lịch 2546), Lễ Hội Quán Thế Âm - Núi Tứ
Tượng Huế (19/6/PL 2546). Lễ Hội Quán Thế Âm - Ngũ Hành
Sơn - Đà Nẵng (19/2/PL 2548) và Đại Lễ Phật Đản - chùa
Từ Đàm - Huế (Phật lịch 2548).
So
với Lục Cúng Hoa Đăng của nhã nhạc cung đình Huế, Lục
Cúng trong Phật giáo vẫn còn bảo lưu được sự phong phú
về hình thức, sự đa dạng về nội dung. Đặc biệt, chức
năng, tính chất, môi trường diễn xướng và mục đích của
nó vẫn còn giữ gìn trọn vẹn. Trong khi Nhã nhạc cung đình
Huế do môi trường diễn xướng không còn giữ nguyên như
thời Phong Kiến cho nên Lục Cúng Hoa Đăng của cung đình đã
không còn bảo lưu được chức năng nghi lễ của nó. Công
việc phục hồi hiện tại cũng chỉ đạt đến 60%. Hơn nữa,
do mục đích giới thiệu, du lịch là chủ yếu, vì vậy vũ
khúc này chưa bao giờ được trình diễn có tính bài bản
trọn vẹn. Trong khi ấy công việc phục hồi vũ khúc Lục
Cúng Hoa Đăng này trong Phật giáo mặc dầu đã đạt được
những thành quả nhất định song vẫn còn tồn tại nhiều
khó khăn về nhân sự, tài chính, sự tập luyện bền bỉ.
Quan trọng hơn là những bậc am tường về loại hình nghệ
thuật vũ nhạc đặc thù này lại quá hiếm như “sao buổi
sớm” như “lá mùa thu”. Trước mắt vẫn còn nhiếu vấn
đề cần phải giải quyết như việc kế thừa trọn vẹn,
sau đó sửa đổi, phát huy. Bởi vì, Lục Cúng cũng là một
loại hình nghệ thuật có tính lịch sử. Nếu không có sự
tiếp nối, kế thừa và sáng tạo, phát triển thì chúng ta
sẽ tự đánh mất một viên ngọc quý trong kho tàng Lễ Nhạc
Phật giáo Huế - vốn được coi là đỉnh cao của Lễ Nhạc
Phật giáo Việt Nam.
Tài
liệu tham khảo chính
1.
Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam, Đỗ Bằng
Đoàn, Đỗ Trọng Huế, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1992.
2.
Giáo án Lục Cúng - Khai Tịch - Bạt Độ, tài liệu chép tay
của Thượng Toạ Thích Thanh Liên, Chùa Từ Hóa, Huế.
chú
thívh ảnh:
A1,2
múa Lục cúng tại chùa Từ ĐàmLễ Phật đản PL2548.(ảnh
TLH)