Tưởng nhớ Bác
sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
NGƯỜI
TRÍ THỨC
PHẬT
TỬ ƯU TÚ THẾ KỶ XX
Võ
Đình Cường
Trong
sự nghiệp chấn hưng Phật giáo nước nhà, tại miền Trung,
vào những năm của thập kỷ 1930, bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình
Thám là người đã cống hiến nhiều công lao xuất sắc, đưa
Phật giáo miền Trung phát triển vững chắc và sâu rộng.
Để
ghi nhớ những công lao của một cư sĩ ưu tú của Phật giáo,
chư vị Tôn Đức Giáo phẩm Thừa Thiên-Huế đã tạc một
bức tượng bán thân cư sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám trong khuôn
viên Tổ đình Từ Đàm, Huế. Có thể nói đây là vị Cư
sĩ duy nhất từ trước đến nay có vinh hạnh lớn được
chư vị Tôn Đức quý mến và dựng tượng tưởng niệm.
Cư
sĩ Tâm Minh không chỉ đã cống hiến nhiều công lao chấn
hưng Phật giáo nước nhà, mà còn là người tiên phong sáng
lập các tổ chức giáo dục Thanh, Thiếu niên Phật giáo, nhờ
vậy Gia đình Phật tử có nhân duyên ra đời và phát triển
như ngày hôm nay.
*
Bác
sĩ Lê Đình Thám sinh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đông Mỹ
(Phú Mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng nam,
xuất thân trong một gia đình khoa bảng, vọng tộc; thân sinh
là cụ ông Lê Đỉnh đã giữ chức Đông các điện Đại
học sĩ (một chức lớn trong Triều) kiêm chức Binh bộ Thượng
thư ( tương đương Bộ Trưởng Quốc phòng ngày nay) dưới
triều Tự Đức; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Hiệu (kế thất);
và người anh ruột là Lê Đình Dương, lớn hơn ba tuổi.
Tuổi
thiếu niên
Lúc
nhỏ, bác sĩ cùng anh trực tiếp học chữ Hán với cụ thân
sinh. Hai người tiếp thu rất nhanh, thông đạt kinh sách, làm
được thi phú, nhưng bác sĩ Thám tỏ ra xuất sắc và nổi
tiếng ở quê nhà.
Thời
kỳ đi học, từ cấp I đến Đại học, bác sĩ luôn đứng
đầu lớp và chiếm giải Khôi nguyên trong tất cả các kỳ
thi. Ông Lê Thanh Cảnh, bạn học của bác sĩ và là hội viên
An Nam Phật học, có đăng bài viết trên tạp chí Quốc Học
- Huế, kể lại câu chuyện: Lê Đình Thám đã giải một bài
toán mà thầy dạy là ông Le Bris, người Pháp, không giải
được, khiến ông này vô cùng thán phục và đã nhấc bổng
trò Thám lên cao mà nói to: “Đây là thầy của tôi”. Cũng
trong bài viết này, ông Lê Thanh Cảnh còn kể lại, bác sĩ
Thám có một thiên năng nhớ bài rất nhanh, chỉ nhẩm qua hai
lần là thuộc không sót một chữ.
Tuy
học hành xuất chúng nhưng cách cư xử của người học trò
Lê Đình Thám với bạn bè cùng lớp rất chân tình, hòa ái,
được thầy yêu, bạn mến.
Đường
đời
Bác
sĩ Lê Đình Thám tốt nghiệp Thủ khoa y sĩ Đông Dương tại
Hà Nội năm 1916. Thời bấy giờ đó là ước mơ của bao người
mong được công thành, danh toại để hưởng phú quý vinh hoa,
nhưng đối với người thanh niên ấy hưởng thụ không phải
là mục đích mà lại luôn trăn trở trước cảnh nước mất,
nhà tan. Thực dân Pháp biết bác sĩ Thám xuất thân trong một
gia đình có truyền thống yêu nước cho nên chúng rất chiếu
cố đến bác sĩ, đã thuyên chuyển bác sĩ đi nhiều tỉnh
như những cuộc lưu đày.
Trong
thời gian từ năm 1916 đến năm 1925, bác sĩ Thám thay đổi
chỗ công tác các bệnh viện như Bình Thuận, Sông Cầu, Quy
Nhơn, Tuy Hòa.
- Năm
1926, bác sĩ lại bị đổi về Hội An, Quảng Nam, tại đây
bác sĩ Lê Đình Thám cùng vớinhững người yêu nước khác
đứng ra làm lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Vì lý do này,
người Pháp lại đẩy bác sĩ ra tỉnh Hà Tĩnh.
-
Năm 1928, bác Thám mới được chuyển về Huế giữ chức Y
sĩ trưởng Viện bào chế và Vi trùng học Pasteur.
-
Năm 1930, bác sĩ đỗ thêm bằng bác sĩ Y khoa ngạch Pháp quốc.
-
Năm 1933, làm Giám đốc bệnh viện Bài lao Huế.
-
Năm 1945, Chính phủ Trần Trọng Kim mời bác sĩ Thám giữ chức
Giám đốc Y tế Trung phần kiêm Giám đốc Bệnh viện Huế.
-
Mùa Đông năm 1946, bác sĩ về quê ở Quảng Nam tham gia kháng
chiến chống Pháp.
-
Năm 1947, bác sĩ Thám giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến
miền Nam Trung bộ tại Liên khu V.
-
Mùa hè năm 1949, bác sĩ được mời ra Bắc và được đề
bạt giữ chức Chủ tịch Phong trào Vận động Hòa bình Thế
giới của Việt Nam.
Tinh
thần phục vụ xã hội
Bác
sĩ Lê Đình Thám được bạn bè và những người đồng liêu
đánh giá là người làm việc rất tận tụy, quên mình. Đối
với các bệnh nhân, ông đối xử ân cần, bình đẳng, không
phân biệt địa vị xã hội, người giàu, kẻ nghèo…
Là
một bác sĩ, bác Thám không ngừng trau dồi nghề nghiệp, đã
cùng bác sĩ người Pháp, ông Normet, Giám đốc Y tế Trung kỳ,
phát minh ra Sérum (dịch truyền) Normet cùng một số dược
liệu khác được y giới Pháp-Việt thời đó rất trọng vọng.
Năm
1933, trong thời gian giữ chức Giám đốc Bệnh viện Bài lao
Huế, bác sĩ Thám đã làm việc hết sức tận tình, nổi tiếng
là một danh y chẩn đoán và điều trị giỏi.
Cơ
duyên đến với đạo Phật
Các
tài liệu viết về tiểu sử của bác sĩ Lê Đình Thám đều
có đề cập đến giai thoại về cơ duyên bác sĩ đến với
Đạo Phật. Vào thời gian làm việc tại bệnh viện Hội An
năm 1926, khi đi tham quan thắng cảnh chùa Tam Thai (thường gọi
là chùa Non Nước), Đà Nẵng, bác sĩ đã đọc được bài
kệ của Tổ Huệ Năng khắc trên vách chùa:
Bồ
đề bổn vô thọ,
Minh
cảnh diệc phi đài.
Bổn
lai vô nhất vật,
Hà
xứ nhạ trần ai.
Phụng
sự Chánh pháp
Từ
đó, bài kệ này ăn sâu vào tâm thức, làm cho bác sĩ Lê Đình
Thám suy nghĩ và thôi thúc phải tìm hiểu cặn kẽ hơn. Vì
vậy, vào năm 1928, khi bác sĩ được đổi từ nhiệm sở ở
Hà Tĩnh về Huế giữ chức Y sĩ trưởng Viện Bào chế và
Vi trùng học Pasteur, bác sĩ đã lên chùa Trúc Lâm xin yết
kiến Hòa thượng Giác Tiên, được Hòa thượng khai ngộ về
ý nghĩa và nguyên nhân phát sinh bài kệ trên. Hoát nhiên tâm
đạo bừng sáng, bác sĩ đã thành kính xin quy y với Hòa thượng
Giác Tiên, được Hòa thượng ban cho pháp danh là Tâm Minh.
Từ khởi điểm này, cuộc đời của bác sĩ Thám gắn bó
với Phật giáo và hết mình phụng sự Chánh pháp.
Tiếp
theo từ năm 1929 đến năm 1932, với tinh thần tha thiết cầu
học, bác sĩ Lê Đình Thám còn thọ giáo với Hòa thượng
Phước Huệ, một bậc Cao Tăng đức độ và uyên thâm ở
chùa Thập Tháp, tỉnh Bình Định. Vào thời điểm này, ở
Trung Quốc, ngài Thái Hư Đại sư đang phát động công cuộc
chấn hưng Phật giáo nên đã tác động mạnh đến Phật giáo
Việt Nam, và thôi thúc bác sĩ Thám phải làm sao vực dậy
Phật giáo nước nhà đang bị ngủ quên.
Năm
1932, vâng lời của Chư tôn Thiền đức: Phước Huệ, Giác
Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết, bác sĩ Tâm Minh
- Lê Đình Thám đã quy tụ một số đồng lữ, những người
tha thiết với đạo, có địa vị và uy tín trong xã hội như
các cụ: Ưng Bàng, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân, Viễn
Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Ưng Bình, Bửu Bác… (gồm 18 người),
đã đi đến việc thành lập Hội An Nam Phật Học (ANPH) (thời
Pháp đô hộ, miền Trung từ Thanh Hóa trở vào Bình Thuận
gọi là An Nam) do bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám là Hội trưởng.
Ban đầu Hội đặt trụ sở tại chùa Trúc Lâm, sau đó, khi
chùa Từ Đàm đại trùng tu xong, Hội dời văn phòng về đây.
Mấy năm tiếp theo, Hội ANPH mở rộng hệ thống tổ chức
đến các Chi hội, Khuôn hội rồi hầu hết các tỉnh miền
Trung và Cao nguyên (bây giờ là Tây nguyên)...
Mở
các trường Phật học
Trong
các hoạt động của mình, Hội ANPH rất chú trọng đến việc
đào tạo Tăng tài, do vậy các trường Phật học được thành
lập như sau:
- Năm
1933, mở trường ANPH tại chùa Vạn Phước, sau đó dời về
chùa Báo Quốc do HT. Trí Độ làm Đốc giáo.
-
Năm 1935, mở trường Sơn Môn Phật Học, lớp Đại học mở
tại chùa Trúc Lâm do HT. Giác Tiên làm Giám đốc; lớp Trung
học mở tại chùa Tường Vân do HT. Tịnh Khiết làm Giám đốc.
Bác
sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám là người mẫn tiệp, uyên thâm
triết học Đông-Tây, nhất làvề Kinh Luận, do vậy được
Chư vị Cao Tăng mời dạy các trường nói trên. Trong cuốn
Việt Nam Phật giáo sử luận (tập III), trang 89 có ghi: “Lê
Đình Thám có lẽ là người cư sĩ đầu tiên ở thế kỷ
XX đã dự phần vào việc đào tạo Tăng tài. Phật học của
Ông được các bậc Tôn túc công nhận là thâm uyên, cho nên
Ông đã được mời vào giảng dạy trong các Phật học đường
Trúc Lâm và Tường Vân…”. Mặc dù có một kiến thức cao
rộng, nhưng cung cách của bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám rất
khiêm nhã và trân trọng, mỗi lần có giờ giảng, bác sĩ
luôn mặc áo tràng và đảnh lễ Chư Tăng trước khi lên bục
giảng.
Tốt
nghiệp khóa học đầu tiên của Phật học đường Báo Quốc
gồm có các Học Tăng tiêu biểu như Thiện Siêu, Trí Quang,
Thiện Minh, Thiện Hoa, Trí Tịnh, Nhật Liên… Chư vị này
về sau trở thành những vị giáo phẩm lãnh đạo cao cấp,
lèo lái con thuyền Phật giáo Việt Nam vượt qua phong ba bão
táp trong thời kỳ bị chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp năm
1963.
Nhà
sáng lập các tổ chức giáo dục Thanh Thiếu niên Phật tử
Vào
ngày 14 tháng 8 năm 1938, trong kỳ Đại hội đồng của Tổng
hội ANPH tại Huế, bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám đã phát
biểu: “Không có thành tựu bền vững nào lại không nhắm
tới hàng ngũ Thanh Thiếu niên. Họ là những người tiếp
nối chúng ta trong ngày mai…”. Một câu nói xuất phát từ
suy nghĩ sâu xa và có tầm nhìn chiến lược mà sau đó đã
hình thành các tổ chức giáo dục Thanh Thiếu niên Phật tử.
Bắt
nguồn từ mối quan tâm trên, vào mùa Thu năm 1940, bác sĩ Tâm
Minh - Lê Đình Thám đã thành lập Đoàn Thanh niên Phật học
Đức dục (ĐTNPHĐD) do đích thân bác sĩ điều khiển. Thành
phần Đoàn ĐTNPHĐD đầu tiên gồm có: Cố vấn: Bác sĩ Tâm
Minh Lê Đình Thám; Đoàn trưởng: anh Phạm Hữu Bình; Đoàn
phó: anh Đinh Văn Nam (nay là HT. Minh Châu); Thư ký: anh Ngô Điền;
và các ủy viên: anh Ngô Thừa, Võ Đình Cường, Đinh Văn Vinh,
Nguyễn Hữu Quán, Nguyễn Khải, Lê Kiểm, Phạm Quỵ, Hoàng
Ngọc Phu, Lê Đình Duyên. Năm sau có các anh mới: Ưng Hội,
Tráng Thông, Lâm Công Định.
Đoàn
TNPHĐD thành lập Phật học Tùng thư để xuất bản kinh sách
mà phần lớn do ĐTNPHĐD biên soạn.
Ngày
Phật đản 8 tháng 4 năm Giáp Thân - 30.04.1944 (đến năm 1952
mới thống nhất làm lễ Phật đản vào ngày Rằm tháng Tư
theo Nghị quyết của Hội Liên Hữu Phật giáo Thế giới),
Đại hội Thanh Thiếu niên Phật tử tại rừng Quảng Tế,
Huế, đã đi đến thành lập Gia đình Phật Hóa Phổ (GĐPHP).
Các GĐPHP đầu tiên gồm có Gia đình Tâm Minh (do bác sĩ Lê
Đình Thám là Phổ trưởng); Gia đình Thanh Tịnh (do bác sĩ
Tôn Thất Tùng làm Phổ trưởng); Gia đình Tâm Lạc (do bác
Phạm Quang Thiện làm Phổ trưởng) và Gia đình Sum Đoàn (do
bác Nguyễn Hữu Tuân làm Phổ trưởng). Đến năm 1951, đại
hội GĐPHP tại chùa Từ Đàm, Huế đã quyết định đổi
danh xưng thành Gia đình Phật tử, như vậy GĐPHP là tiền
thân tiếp cận của Gia đình Phật tử Việt Nam.
Chủ
trương thành lập báo Viên Âm
Nhằm
truyền bá giáo lý Phật đà và thông tin các hoạt động Phật
sự, bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám đã chủ trương Nguyệt
san Viên Âm (nghĩa là tiếng nói tròn đầy), số đầu tiên
ra mắt độc giả vào ngày 01.03.1933, với chức danh Chủ nhiệm
kiêm chủ bút, các thành viên trong ĐTNPHĐD nói trên đều tham
gia viết bài. Đến tháng 5 năm 1942, bắt đầu từ số 48,
bác sĩ Lê Đình Thám giao hẳn tờ Viên Âm cho ĐTNPHĐD quản
lý và phụ trách biên tập.
*
Cuộc
đời bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám từ ngày quy y Tam bảo
ở chùa Trúc Lâm, Huế cho đến lúc trái tim nhân ái của Bác
sĩ ngừng đập vào ngày 23.04.1969 (nhằm ngày 07 tháng 03 năm
Kỷ Dậu), mộ táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, trong
bất cứ hoàn cảnh nào, ở đâu, bác sĩ cũng đã thể hiện
một Phật tử tài năng và chân chính. Sự nghiệp phụng sự
Chánh pháp và công lao sáng lập các tổ chức giáo dục Thanh,
Thiếu niên Phật tử của bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám thật
rực rỡ, trường tồn mãi với Phật giáo nước nhà cũng
như với GĐPT Việt Nam.