DẤU
ẤN PHẬT GIÁO
TRÊN
NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TRUNG HOA
Kỳ
3
Trần
Đức Tuấn
Cao
Xương là một tòa thành khá lớn, chu vi rộng hơn 5 cây số,
gồm 3 lớp: ngoại thành, nối thành và nối cung. Trong thành
có tháp và đại điện thờ Phật, rộng khoảng 1000m2. Khu
vực này là cao nguyên nhưng mùa hè lại rất nóng vì lượng
mưa quá ít. Tuy nhiên cũng do thời tiết ấy mà thành quách
bằng đất có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt” hiện diện
đến tận bây giờ. Giống như Ngọc Môn Quan, thành cổ Cao
Xương là một trong những di sản văn hóa, du lịch nổi tiếng
do nằm trên Con đường tơ lụa, và nhất là trên đường
Tây du của Đường Huyền Trang khi xưa…
Trên
đường làm phim, chúng tôi đã đi khá nhiều địa phương
ở Trung Quốc nhưng xa xôi hẻo lánh nhất là khu tự trị Tân
Cương của người Duy Ngô Nhĩ. Tân Cương nằm trên Con đường
tơ lụa cổ xưa, có một nền văn hóa đặc sắc, phong cảnh
thiên nhiên hùng vĩ lạ kỳ và là nơi xưa kia cao tăng Huyền
Trang đã từng đi qua.
Chúng
tôi từ Vũ Hán tới Urumxi bằng đường hàng không. Đây là
thủ phủ của khu tự trị. Tân Cương rộng tới 1 triệu 600
ngàn cây số vuông, xưa kia được người Trung Hoa gọi là
“Tây vực” tức là vùng đất ở phía Tây Đôn Hoàng, nơi
biên ải xa xôi của đất Hán. Urumxi chính là vùng đất trung
tâm của Tây vực cổ đại, ở phía Bắc dãy Thiên sơn hùng
vĩ. Urumxi, tiếng Mông Cổ có nghĩa là “Mục trường xinh
đẹp”, tiếng Hán-Việt gọi là Ô Lỗ Mộc Tề, vào thời
Con đường tơ lụa, đây là một thảo nguyên mênh mông, nay
là một đô thị rất hiện đại. Sử sách Trung Quốc gọi
vùng đất này là nước Đột Quyết của người Hồ. Vì là
một cao nguyên, vĩ độ cao hơn cả Bắc Kinh: 44 vĩ độ Bắc
(Bắc Kinh 40 vĩ độ Bắc) nên nhà thơ Sầm Tham đời Đường
đã miêu tả: “Gió Bắc thổi quét sát mặt đất, cây cỏ
gầy liệt, Trời sứ Hồ tháng tám tuyết đã rơi, cung nỏ
đóng băng không rút ra được…”. Hơn hai ngàn năm trước
mục trường Urumxi rộng đến nỗi bao gồm hàng loạt tiểu
quốc du mục được gọi là các “Hành quốc”, tức các
bộ lạc đi tìm nguồn nước để chăn nuôi. Khu tự trị này
có tới 40 dân tộc cùng chung sống nhưng đông nhất là người
Duy Ngô Nhĩ, rồi tới người Hán, người Cadắc, người Nga…
Thiên
Sơn
Urumxi
nằm ở chân núi phía Bắc Thiên sơn. Đây là dãy núi nổi
tiếng nhất vùng Tây vực cùng với dãy Côn Lôn huyền bí.
Giữa hai dãy núi khổng lồ quanh năm tuyết phủ này là hai
bồn địa, cũng là hai sa mạc lớn nhất Trung Quốc là Taklamacal
và Gô-bi. Ngày 15 tháng 7, vào giữa mùa hè oi bức, chúng tôi
đi thăm hồ nước tự nhiên “Thiên sơn Thiên trì” trên
núi Thiên Sơn. Dãy núi này dài tới 1.700 cây số chạy theo
hướng Tây Đông, từ Kazacstan (thuộc Liên Xô cũ) tới Tân
Cương. Vùng núi mênh mông này đầy các đỉnh tuyết vĩnh
cửu và những khu rừng vân sam cổ thụ xanh thẳm, quả là
một bức tranh thiên nhiên diễm lệ. Tới đây chúng tôi mới
biết Lý Bạch được sinh ra trên bờ hồ Iskul nằm trong lãnh
thổ Kiếc-ghi-gi (thuộc Liên Xô cũ), nơi cao nhất trong dãy
Thiên sơn, quê hương của cây thuốc phiện từng được nói
tới trong bộ phim “Hoa anh túc bên bờ hồ Iskul” rất nổi
tiếng của Liên Xô trước đây. Xưa kia Tân Cương và một
số quốc gia láng giềng Trung Á phía Tây, được người Hán
gọi chung là đất của người Hồ, vì vậy mới có chuyện
Lý Bạch được gọi là “Hồ nhân”. Trên núi Thiên Sơn
có năm lạnh tới 51 độ dưới không, chỉ thua kỷ lục của
Hắc Long Giang có 1 độ (-52oC). thông thường, vào mùa Đông,
khí trời xuống tới -40oC, mùa hè mát dịu. trên đường lên
núi, chúng tôi ghé thăm một làng Cadắc, sống trong các lều
bạt để thưởng thức món trà nóng pha sữa ngựa và muối
rất ngon miệng. Người Cadắc sống trên núi cao, cường tráng,
giỏi cưỡi ngựa, và có tập tục cấm nam nữ có quan hệ
huyết thống từ 5 đời trở xuống được kết hôn. Xưa kia
ai vi phạm sẽ bị phạt tội chết. Nay tội tử hình đã được
bãi bỏ, nhưng người vi phạm sẽ bị đuổi ra khỏi cộng
đồng. Ở Trung Quốc có hai dãy Thiên Sơn, và Thiên Sơn nói
ở đây là “núi trời” còn Thiên Sơn ở vùng Đông Bắc
là “ngàn núi”. “Thiên sơn Thiên Trì” trên dãy Thiên Sơn
là một cái hồ được ví như viên ngọc quý, cực kỳ lộng
lẫy, nằm ở độ cao 2000m, chung quanh là các Tuyết Sơn vây
kín, nước trong xanh, sâu từ 60m đến 110m, rộng 6 cây số
vuông (diện tích bằng Tây Hồ của Hàng Châu-Trung Quốc và
Hồ Tây của Hà Nội-Việt Nam cộng lại) nhưng hùng vĩ và
tráng lệ hơn nhiều. Chúng tôi đã lãng du trên mặt nước
phẳng lặng in bóng những đỉnh núi tuyết kỳ vĩ quanh hồ
hàng giờ, và như lạc vào một cõi thần tiên vậy. Đây là
xứ sở của người Cadắc, nhưng xa xưa, thời Con đường
tơ lụa, đây đã từng là nơi dừng chân của các nhà truyền
giáo Ấn Độ và Trung Hoa, những người đã đưa Phật giáo
thâm nhập vào Trung Hoa. Thiên sơn không chỉ là nơi du lịch
tuyệt diệu mà còn là một “mục trường” rộng lớn, giàu
có và hết sức ngoạn mục. Chúng tôi tới thăm một trong
những mục trường đẹp nhất trên sườn Bắc của dãy núi
này. Đó là những đồng cỏ mênh mông, non tươi, mịn màng
phủ lên hàng trăm ngọn đồi cao thấp lên tới tận những
khe núi sâu thẳm. Hai loài vật chủ yếu được nuôi ở đây
là dê và cừu. Vào mùa hè, hàng trăm căn lều du mục Cadắc
hình trụ tròn ven đồi tạo thành một điểm quần cư xầm
uất, làm cho cả vùng núi hiu quạnh từng bừng hẳn lên. Mùa
Đông người Cadắc sẽ dỡ lều, đưa dê cừu xuống đồng
bằng để tránh băng tuyết.
Tô
Lô Phan
Từ
Urumxi, chúng tôi băng qua một đoạn của sa mạc Gô-bi khoảng
250 cây số về phía Đông Nam để tới một nơi rất nổi
tiếng trong lịch sử cổ đại, có liên quan rất nhiều tới
Phật giáo là Tô Lô Phan (từ Hán-Việt là Thổ Lỗ Phồn).
Giao thông giữa hai đô thị này gồm một con đường cũ và
một tuyến đường sắt. Nghe nói sa mạc Gô-bi tuy hoang vắng
nhưng vẫn còn đỡ hiu quạnh và bí ẩn hơn sa mạc Taklamacal
ở sườn Nam Thiên Sơn, cách Gô-bi vài trăm cây số. Sa mạc
Taklamacal rộng thứ nhì thế giới, sau sa mạc Sahara ở Bắc
Phi. Nơi đây đã có nhiều đoàn thám hiểm vào sâu trong sa
mạc và không thấy trở về, người ta phái máy bay trực thăng
đi tìm nhưng trực thăng cũng biến mất luôn. Tô Lô Phan là
một ốc đảo giữa hoang mạc, sống nhờ vào nguồn nước
tuyết từ Thiên sơn chảy về một số sông suối. Ngày xưa,
Con đường tơ lụa khi tới Tân Cương thì chia làm 3 tuyến:
tuyến Bắc vòng lên vùng núi An Tai; tuyến giữa men theo rìa
Bắc sa mạc Taklamacal đi qua Tô Lô Phan; tuyến Nam men theo rìa
Nam hoang mạc khổng lồ này. Theo các nhà nghiên cứu thì Đường
Huyền Trang đã Tây du theo hành trình sau: rời Tây An đi qua
các điểm trên hành lang Hà Tây, tức một bộ phận của con
đường tơ lụa bao gồm: Thiên Thủy, Vũ Uy, Tửu Tuyền, Gia
Dụ Quan, An Tây (tức Hương Châu, Đôn Hoàng, có tài liệu
nói ngài không đi qua Đôn Hoàng) rồi qua cửa ải Ngọc
Môn Quan để sang Tây Vực. Khi tới Tân Cương, ngài đã chọn
tuyến giữa của Con đường tơ lụa để tiếp tục đi về
phía Tây. Cuốn “Tùy thư” ghi: “Từ Đôn Hoàng tới Tây
Hải (Địa Trung Hải) có 3 đường: đường giữa từ Cao Xương
tới Ba Tư…”. Trung tâm nước Cao Xương cổ đại chính là
Tô Lô Phan. Đường Huyền Trang sau khi ra khỏi Ngọc Môn Quan,
định đi theo tuyến Bắc nhưng sau đó lại đổi hướng, đi
qua Tô Lô Phan để theo tuyến giữa. Chúng tôi tới thăm thành
cổ Cao Xương ở ngoại ô Tô Lô Phan để tìm hiểu đôi điều
về vương quốc này và về những dấu ấn của Đường Huyền
Trang. Thành cổ Cao Xương hiện chỉ còn là một phế tích
hoang tàn bằng đất, trải quan 2100 năm dãi dầu sương gió.
Thời đó Hán Vũ Đế sai Lý Quang Nghi chinh Tây, đánh Cazacstan
nên lập một trại dịch tại đây, dần dần, lái buôn, binh
lính qua lại nhiều nên trở thành trấn, rồi được Hán triều
cho xây thành lũy bằng đất, cao 10m, rộng 1,2 km2. Trong thành
có xây chùa để các cao tăng giảng kinh Phật. Lúc Đường
Tăng tới đây (thế kỷ thứ 7) nó đã trở thành kinh đô
của nước Cao Xương từ lâu. Trong hàng loạt hạng mục công
trình còn lại tới nay có một tòa kiến trúc bằng đất bề
thế, gọi là “Giảng kinh đường”, cũng chính là nơi Đường
Huyền Trang giảng kinh Phật cho quốc vương Cao Xương Các Văn
Thái và quần thần nghe. Khi Đường Huyền Trang tới kinh thành
vào lúc nửa đêm, nhà vua đích thân cầm đuốc ra cửa hoàng
cung nghênh tiếp và tự xưng là đệ tử và quỳ lạy mời
ngài ở lại Cao Xương giúp chính sự, và khuyên ngài đừng
đi thỉnh kinh nữa. Đường Huyền Trang một mực từ chối
khiến vua phải dùng biện pháp uy hiếp. Không còn cách nào
khác, Đường Huyền Trang đã phải tuyệt thực 3 ngày để
phản đối. Cuối cùng, vua đành phải quỳ lạy và mời ngài
lên đường. Tính ra Đường Huyền Trang đã ở lại Cao Xương
hơn một tháng. Lúc ra đi, vua cúng dường ông 100 lạng vàng,
30 ngàn đồng tiền bạc, 30 con ngựa và 24 lá thư giới thiệu
tới các nước, kèm theo mỗi thư là một tấm lụa.
Cao
Xương là một tòa thành khá lớn, chu vi rộng hơn 5 cây số,
gồm 3 lớp: ngoại thành, nối thành và nối cung. Trong thành
có tháp và đại điện thờ Phật, rộng khoảng 1000m2. Rất
tiếc là người ta không cho phép quay phim nên chúng tôi chỉ
có thể ghi hình từ bên ngoài. Khu vực này là cao nguyên nhưng
mùa hè lại rất nóng vì là một lòng chảo giữa sa mạc.
Chính vì lượng mưa quá ít nên thành quách bằng đất có
thể “trơ gan cùng tuế nguyệt” mà tồn tại đến tận
bây giờ, giống như Ngọc Môn Quan vậy. Di tích lịch sử này
hiện được liệt kê vào danh sách bảo tồn văn hóa trọng
điểm và trở thành một điểm du lịch nổi tiếng do nằm
trên con đường tơ lụa, và nhất là trên đường Tây du của
Đường Huyền Trang khi xưa.
Hỏa
Diệm Sơn
Ngày
16-7, chúng tới thăm Hỏa Diệm Sơn, một dãy núi màu đỏ
rực, dài gần 100 cây số, rộng 9 cây số, cao gần 900 mét,
so với mặt nước biển, nằm trong lòng chảo Tô Lô Phan, là
bồn địa thấp thứ hai trên thế giới. Khi mặt trời chiếu
vào, toàn cảnh dãy núi đồ sộ, lung linh một màu lửa đỏ
nên mới có tên là “Hỏa Diệm Sơn”. Thực tế đây không
phải là một núi lửa. khi chúng tôi tới thăm, vào lúc 13
giờ, bước ra khỏi xe máy lạnh, không khí bên ngoài tạt
vào như một chảo lửa, nóng rát cả mặt, nhiệt độ ngoài
trời vào khoảng 60oC. Chúng tôi phải tranh thủ ghi hình và
chụp ảnh trong vòng khoảng 30 phút rồi rút lui bởi không
chịu nổi cái nóng khủng khiếp ấy. Tài liệu thống kê ghi
lại, vào 3 năm 1952, 1953 và 1954, Tô Lô Phan nóng tới
gần 48oC trong bóng râm vào đúng ngày 24-7 của cả 3 năm. Nguyên
nhân cái nóng chính là do địa hình ở giữa sa mạc lại thấp
hơn mặt biển (mặt hồ Ngải Đình thấp hơn mặt biển tới
154 mét). Lúc nóng nhất, mặt sa mạc lên tới 80oC, có thể
làm chín trứng.
Hỏa
Diệm Sơn nổi tiếng vì nhiều lẽ, trong đó có đặc điểm
khắc nghiệt của khí hậu và sự hùng vĩ tráng lệ của thiên
nhiên. Tuy nhiên, nguyên nhân của việc nó lừng danh thiên hạ
chính là nhờ ở sự miêu tả tài tình trong tiểu thuyết bất
hủ “Tây du ký” và trong những áng thơ Đường.
Trong
bài Kinh hỏa sơn, nhà thơ biên tái đời Đường là Sầm Tham
đã viết như sau: “Lửa đỏ thiêu tầng mây. Khí nóng hun
biên Tây. Than âm dương nào biết. Sao chỉ đốt nơi này? Ta
đến vào giữa Đông. Núi non trùm gió nóng, Người ngựa mồ
hôi mướt. Ai hiểu được hóa công?”
Còn
trong Tây du ký, Ngô Thừa Ân đã viết: “Ngọn lửa phun cao
ngàn trượng, dài 800 dặm”. Rõ ràng đây là một hư cấu
văn chương để nói đến chuyện Đường Tăng khi tới
đây phải dừng bước rồi sai Tôn Ngộ Không lên thiên đình
mượn chiếc quạt ba tiêu của Thiết Phiếu công chúa về
dập tắt núi lửa để thầy trò tiếp tục lên đường thỉnh
kinh. Khi làm phim, đạo diễn Dương Khiết đã đưa đoàn làm
phim tới đây để dựng trường đoạn hấp dẫn này.
Ngay
trên sườn núi còn có một di tích Phật giáo rất nổi tiếng,
đó là “Thiên Phật động” một loại hang động nhân tạo
được khoét vào núi đá để thờ Phật, giống như hang Mạc
Cao ở Đôn Hoàng nhưng quy mô nhỏ hơn.