Triết
học và Thiền
Thái
Kim Lan
“Phòng
Thiền” trong khóa giảng mùa hè năm nay tự nhiên chật ních.
Già có trẻ có, đầu xanh đầu bạc chen nhau, mặt hoa tươi
rỡ, tóc vàng màu lúa Van Gogh đồng vai với tu mi nam tử xồm
xoàm, trông vui mắt, đến phải bấm bụng cười hoài suốt
buổi khi ngẩng nhìn lên.
26
“sinh viên Đức” (gọi là sinh viên vì họ ghi tên tham dự
khóa học), sau buổi giảng ở Đại học, tụ nhau tại nơi
đây, ở “phòng Thiền”, học những giờ cuối. Gọi là
Phòng Thiền, vì tính giản đơn của nó, ngoài tượng Quan
Âm nghìn tay đêm ngày không ngừng đem đến cho căn phòng một
ánh sáng lạ mà người thường hay gọi đó là hào quang, chỉ
có thiên nhiên kề bên vai, gần gũi trước mắt, bốn mùa
rộng lượng cảnh trời, chõ mũi ra cửa sổ là đã nghe tươi
mát hay nóng hổi lùa tới tấp vào mặt, hoa trái cây lá bao
quanh, nên lòng không chật…Nhưng căn phòng bỗng hẹp cho những
dáng dấp to lớn cồng kềnh, chân tay dài ngoẳng. Nhét họ
được vào trong căn phòng nhỏ này, kể ra là lạ. Ấy thế
mà họ ngoan ngoãn ngồi, chăm chú, nghiêm túc mà vẫn tươi
vui, kiên nhẫn từ sáng đến chiều, không mệt mỏi.
Sau
chung trà nhỏ được chuyền quanh trong vườn lúc mọi người
lục tục tề tựu, lên bục thang nhỏ, ngồi khoanh chân, có
15 phút ngồi quán hơi thở trước khi đi vào đề tài thảo
luận. Thầy trò quần thảo từ hai ngày liên tiếp về một
đề tài cũng khá gay cấn không thua chi truyện kiếm hiệp:
“CHỦ THỂ TUYÊT ĐỐI theo Hegel và TÍNH KHÔNG trong Thiền
học”.
Không
những chỉ gay cấn mà còn mạo hiểm: mạo hiểm như khi hai
chân lắt lẻo trên ghềnh đá cheo leo bên bờ vực thẳm. Và
cũng táo bạo liều lĩnh, liều lĩnh như khi đem quả cân nặng
vạn cân sánh với một cọng tơ hồng! Và kỳ quái cũng chẳng
khác chiêu thức „đi bằng đầu“ của quái nhân Âu Dương
Phong…
Hegel
với hơn năm trăm trang giấy chi chít “Hiện tượng luận
về tinh thần” ( Die Phnomenologie des Geistes) đem đi đọ với
một công án chưa vừa tròn một câu: “Vạn pháp thảy đều
là Tâm” của Fa Yen, hay “người không ngôi thứ” của
Lin Chi (Lâm Tế) hay quá lắm là ba câu: “Khi chưa học Thiền
thấy núi là núi, sông là sông, cây là cây. Khi dấn thân vào
học Thiền thấy núi không là núi, sông không là sông, cây
chẳng phải cây. Khi ngộ đạo Thiền rồi thì lại thấy núi
là núi, sông là sông, cây là cây…”.
Kể
cũng liều!
Phải
đọc, nói ra cho hết gần 600 trang phân tích „ý thức chủ
thể tuyệt đối“ trùng trùng điệp điệp lập luận đầy
kiến thức công phu của Hegel, mới ngẩn người cười xòa
nhận ra rằng, đoạn đường mà “ý thức” của chủ thể
tuyệt đối trải qua trong cuộc gặp gỡ hầu như là định
mệnh với khách thể để có thể đạt đến “tự ý thức”
về tính tuyệt đối của mình rút gọn trong công thức
nỗi tiếng biện chứng “đề - phản đề - hợp đề” (Thesis
– Antithesis – Synhesis) đã nằm gọn lõn trong cái công án
kia, giản đơn đến hết đơn giản: “núi là núi…núi là
không núi, núi lại là núi”.
Nói
cuộc gặp gỡ hầu như là định mệnh bởi vì “chủ thể”
chỉ tự ý thức được mình là chủ thể trong tương quan
với khách thể, chủ thể cần khách thể - như cá cần bơi
lội tung tăng trong nước - để tự ý thức về vai trò chủ
thể của chính nó, nếu không chủ thể chỉ là ảo tượng
bơ vơ hay một nỗi cô đơn tự hủy.
Nói
với Hegel, muốn biết ta là ai, phải va chạm với tha thể,
tha nhân, chịu vong thân hay trần thân trên cõi đi về tục
lụy, trong thế giới hiện tượng, chính sự va chạm này sẽ
gây phản hồi cho tự ý thức, đem ý thức vong thân trở về
ngôi vị chủ thể nguyên ủy bao trùm nội dung đầy ắp vũ
trụ, nơi đó ý niệm tuyệt đối (absolut) khép trọn ý niệm
toàn thể (totalitaire)…
B.
Russel phê bình Hegel và cho rằng, theo Hegel, muốn hiểu hết
bất cứ một khái niệm nào, như khái niệm chủ thể chẳng
hạn, trước đó ta phải biết tường tận cả vũ trụ trong
đó khái niệm được thành hình, mà con người thì giới hạn,
đến khi biết hết cả vũ trụ thì con ngưòi có lẽ đã phôi
pha trong vũ trụ rồi…Thật sự đối với Hegel “tâm” (mind,
Geist) hay tinh thần chính là một quá trình tự nhiên (Naturprozeß),
tư duy (Denken, Thingking, Penser) và tồn tại (hữu thể: Sein,
être, Being)) chỉ là một: đó là cuộc sống sôi động tuôn
trào trong vòng luân hồi…bao gồm cả vũ trụ, con người,
cỏ cây, súc vật, định chế, luật lệ, nghệ thuật, tôn
giáo, triết học, tất tần tật đều là dấu vết mà Tinh
thần đã đi qua…
Nói
với Thiền, phải lặn suối trèo non, vượt rừng vượt biến,
sông sâu mấy cũng lội, vạn đèo mấy cũng qua, để thực
chứng rằng núi ấy sông ấy cây ấy vừa có đó vừa không
có đó, và trở lại nhìn „NHƯ NÚI – NHƯ SÔNG – NHƯ CÂY“
trong bản thể CHÂN NHƯ hồn nhiên, trong tự tính của “không
phân ngôi thứ chủ khách”, trong ý nghĩa “phải nhìn núi
NHƯ thể núi đang nhìn chính ta”, mọi đối đãi chủ khách
từ đó không còn.
Trong
tính nhất thể của “núi và ta nhìn nhau không biết chán”
(Lý Bạch, Kính Đình San) VÔ THƯỜNG là KHÔNG mà TUYÊT ĐỐI
cũng là KHÔNG. Chính sự thực chứng, thấu triệt vạn vật
là vô thường, cái tôi là vô ngã, cho thấy giới hạn của
tương quan vô thường vô ngã, mở ngõ cho sự lưu thông đi
vào niết bàn hay tuyệt đối.
Thiền
dừng lại nơi cánh cửa „mở ngõ“ ấy, không khép kín và
dặn đừng khép kín, nên dừng lại nơi TÍNH KHÔNG như khả
thể hội nhập thể tính đồng nhất (unite) giữa vô thường
và tuyệt đối, như một khả năng TỰ DO sáng tạo tính nhất
thể “núi nhìn ta, ta nhìn núi” nơi một chân trời đã gột
rửa hết những đám mây vô minh chấp trước vào một cái
ngã ảo tưởng…nơi chân trời tuôn trào sáng tạo của “vô
danh thiên điạ chi thủy”…
Hegel
thì không! Hegel khép cánh cửa hiện tượng luận, khép tròn
biện chứng thành một hệ thống khoa học khởi từ một chủ
thể tuyệt đối rỗng không đã được đổ đầy nội dung
khách thể, một chủ thể tuyệt đối với tính khách quan
phổ quát làm nền tảng cho khoa học. Hegel chìm đắm trong
tuyệt đối của duy tâm. Có phải Hegel là một Huệ Khả chưa
giác ngộ?
Có
một chiều mưa nào cuối thế kỷ thứ sáu, Huệ Khả đội
nón vào núi, quì cả tuần lễ, chặt luôn cả cánh tay
trước cửa hang xin Bồ Đề Đạt Ma “an cái tâm” cho mình.
Vị Tổ bảo: “hãy đưa tâm ra đây để ta an cho!” như tuồng
“tâm” là một món đồ trong túi móc ra lúc nào cũng được.
Chính trong giờ phút ấy Huệ Khả hoát nhiên ngộ được “hư
tâm” của mình hay thấy được chính giới hạn của những
gì là duy tâm! Huệ Khả còn… trong lúc Hegel đã bị vượt...nhiều
giai đoạn…
Nhưng
Hegel có thể trở về để gặp Thiền nơi một chung trà nhỏ…ngụm
nước trà có thể làm vỡ tan chủ thể tuyệt đối như “mộng
huyển bào ảnh” vào buổi sáng hôm sau, khi mọi người đã
rời phòng Thiền hôm trước, để lại căn phòng trống trơn,
gối thiền bỏ ngõ…chẳng còn bóng người nào làm nên chủ
thể ngồi nơi đây. Giữa tràn đầy chật ních như nêm và
trống không không một bóng người, hiện diện vẫn còn
nóng hổi hơi thở vào thở ra….
Có
một vẻ đẹp nào đó nơi sự thiếu vắng rỗng không này
vừa chớm nở như một đóa hoa vàng thoát ra từ nụ cười
mĩm của pho tượng, chủ thể duy nhất đang tự xóa mình trong
im lặng của cả gian phòng…Nắng chảy dài trên sàn gỗ như
một giải sông lụa uốn mình lơ lững…
Chưa
bao giờ cái gối thiền vắng người bỗng sống động như
một chiếc thuyền đang trôi sang bờ bên kia…