LÀM
SAO
ĐỂ
TIẾNG VIỆT
TRUYỀN
RA NƯỚC NGOÀI
Trường
Sơn
Chính
những bậc cha mẹ là người dạy và khuyến khích con cái
nói tiếng Mỹ. Nhưng đến một lúc nào đấy, khi tiếng Mỹ
của chúng vượt hơn hẳn so với cha mẹ, lúc đó hố cách
biệt giữa cha mẹ và con cái đủ rộng để giữa họ không
còn chuyện gì để nói với nhau. Và đã có những gia đình
người Việt nhận phải bi kịch lớn hơn nữa khi con cái họ
được sinh ra và lớn lên tại Mỹ: cứ mỗi lần cha mẹ muốn
nói chuyện với con cái là lại phải thông qua một người
phiên dịch…
Những
người Việt trẻ
Cách
đây không lâu, ở San Jose đã dấy lên phong trào yêu cầu
chính quyền địa phương không được bỏ đi một trường
học dạy tiếng Việt nào. Người ta đã nêu ra nhiều thực
tế khá trần trụi và chua chát: nhiều đứa trẻ mới sang
Mỹ tập tành nói tiếng Mỹ, thậm chí tôn sùng tiếng Mỹ
một cách thái quá, đến nỗi chỉ một thời gian ngắn sau,
vô tình và cả hữu ý, chúng đã không còn nói tiếng Việt
với cha mẹ của chúng nữa. Một phần đáng kể nữa là tôn
ti trật tự và văn hóa truyền thống Á Đông đã bị đảo
lộn khi lớp thanh thiếu niên dùng các nhân xưng “he, she”
để nói về cha mẹ chúng.
Tuy
nhiên, điểm xuất phát thật oái ăm: Chính những bậc cha
mẹ là người dạy và khuyến khích con cái nói tiếng Mỹ.
Nhưng đến một lúc nào đấy, khi tiếng Mỹ của chúng vượt
hơn hẳn so với cha mẹ, thì trong tâm đứa trẻ bắt đầu
nảy sinh thái độ so sánh: So sánh độ chênh lệch về trình
độ ngoại ngữ giữa bạn bè trong lớp học với cha mẹ của
mình. Về phía bậc cha mẹ, họ lại bắt đầu mang trong lòng
một nỗi tự ti mặc cảm về sự yếu thế trong phát ngôn
tiếng Mỹ. Và khuynh hướng này cứ tiếp diễn cho đến một
lúc hố cách biệt giữa cha mẹ và con cái đủ rộng để
giữa họ không còn chuyện gì để nói với nhau. Tuy nhiên,
có những gia đình người Việt nhận phải bi kịch lớn hơn
nữa khi lớp con cái họ được sinh ra và lớn lên tại Mỹ:
Cứ mỗi lần cha mẹ muốn nói chuyện với con cái là lại
phải thông qua một người phiên dịch…
Với
những bậc cha mẹ quá dễ dãi, hậu quả của việc khuyến
khích con cái ghẻ lạnh với tiếng mẹ đẻ và tôn sùng tiếng
Mỹ đã làm trầm trọng rất nhanh bầu không khí gia đình,
ảnh hưởng rất lớn đến truyền thống văn hóa cộng đồng
người Việt, khiến chính người Việt lại mang thêm một
nỗi mặc cảm nữa khi so sánh mình với cộng động người
Hoa. Trong khi đó, theo một số công trình nghiên cứu của Mỹ,
Thụy Sĩ, Do Thái, Nam Phi, luận điểm cơ bản được thống
nhất là: “Khả năng song ngữ hoàn toàn không có tác hại
gì trong khả năng nhận thức và học tập của học sinh trong
nhà trường và ngoài xã hội; khả năng song ngữ cũng giúp
cho học sinh trở nên đa dạng và phong phú hơn trong hầu hết
các môn học.” Luận điểm này là một điều chỉnh lớn
đối với những thái độ nhận thức dễ dãi và sùng ngoại
của một số bậc phụ huynh người Việt. Cũng được biết,
giáo sư Kenji Hakuta của đại học Yale đã cụ thể hơn bằng
cách chọn nhiều hình thức trắc nghiệm cho học sinh thuộc
hai nhóm song ngữ và đơn ngữ trong nhiều năm, ông đã đi
đến kết luận rằng: “Chọn một nhóm học sinh biết nói
hai thứ tiếng để thi đua với một nhóm học sinh khác chỉ
biết một thứ tiếng, cùng lứa tuổi, cùng trình độ, cùng
hoàn cảnh xã hội, cùng điều kiện sinh hoạt như nhóm kia.
Rồi chọn một biện pháp để đo khả năng nhận thức, áp
dụng chung cho cả hai nhóm. Kết quả: nhóm song ngữ luôn đạt
tốt hơn”. Cùng nhận xét như vậy, hai nhà nghiên cứu Canada
là Elizabeth Pearl và Wallace Lambert, sau nhiều công trình tìm
tòi về sự quan hệ giữa khả năng song ngữ và trí thông
minh (1982), đã phấn khởi nhận xét: “Một đứa trẻ có
sự hiểu biết về cả hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa sẽ
có được nhiều thuận lợi hơn đứa trẻ chỉ biết một
ngôn ngữ và một cách sống. Về phương diện trí thức, sự
hiểu biết của hai hệ thống ngôn ngữ lưu lại cho nó một
sự phóng khoáng về trí óc, một sự ưu tú về tư tưởng
và khả năng phong phú đa dạng của lý trí. Trái lại, đứa
trẻ chỉ biết một ngôn ngữ thì những yếu tố cấu tạo
trí thông minh của nó bị đơn thuần và hạn hẹp hơn.”
Để
tiếng Việt ra nước ngoài
Gìn
giữ sự trong sáng của tiếng Việt là một trong những vấn
đề bức xúc nhất mà cộng đồng người Việt ở nước
ngoài đang quan tâm, và nhiều bậc phụ huynh người Việt đang
cố tìm ra những phương cách khả dĩ để vớt vát được
chút nào hay chút đó tính nguồn cội của tiếng Việt, dù
chỉ tồn tại trong phạm vi gia đình.
Tiếng
Việt là một phần của văn hóa Việt, và tiếng Việt cũng
chính là chiếc cầu nối về không chỉ ngôn ngữ mà cả về
văn hóa giữa người Việt trong nước với người Việt ngoài
nước, để cộng đồng người Việt sống ở nước ngoài
được chia sẻ nhiều hơn nữa những tình cảm gần gũi với
quê hương, qua đó tiếp nhận và thụ hưởng được nhiều
hơn nữa văn hóa cội nguồn của dân tộc, bao gồm cả những
sắc thái văn hóa hiện đại. Niềm tự hào về tiếng Việt
cũng không phải là một tình cảm tự tôn trừu tượng. Chính
tình cảm phát sinh thông qua sự củng cố về kiến thức lịch
sử, văn hóa nước nhà sẽ giúp cho người Việt trẻ ở nước
ngoài nâng cao ý thức đóng góp cho quê hương bằng những
công việc cụ thể.
Làm
thế nào để tiếng Việt với phần hồn trong sáng nhân bản
của nó thấm được vào lòng thế hệ trẻ của người dân
xa xứ? Hiện nay trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài,
đặc biệt là ở Mỹ, Pháp, Úc, Nga và các nước vùng Scandinavơ
đã hiện diện không ít các tổ chức hội nhóm mang tính chất
các ủy ban liên lạc người Việt với nhau. Thậm chí còn
có cả những tổ chức mang mục đích bảo vệ và phát triển
tiếng Việt. Một đặc trưng của các tổ chức này là tính
chất tự phát, xuất phát từ nỗi bức xúc chung cần phải
bảo tồn tiếng Việt chứ không nhất thiết phải là một
tổ chức do cơ quan đại diện ngoại giao của nhà nước ta
lập ra. Kinh nghiệm thực tế lại cho thấy rằng chính những
tổ chức tự phát như thế đã có tác dụng không nhỏ.
Như
vậy, việc truyền bá tiếng Việt ra nước ngoài, vào cộng
đồng người Việt trẻ cần được đặc biệt chú trọng
vào vai trò của các tổ chức trên. Trong suốt một thời gian
dài, các cơ quan đại diện ngoại giao của nước ta, cũng
như các tổ chức ái hữu và có trách nhiệm tạo mối kết
giao liên lạc với cộng đồng người Việt trên thế giới
đã ít nhất chưa có những khảo sát kỹ lưỡng, chi tiết
về cơ cấu, thành phần, quan điểm nhân văn và nhu cầu về
tiếng Việt trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Thử đặt vấn đề là nếu như phong trào hồi phục trường
dạy tiếng Việt ở San Jose nêu ở trên nhận được sự quan
tâm của nhà nước ta thì sao? Hẳn với một cách làm tế
nhị và sâu sát, sự kết hợp giữa trong nước và ngoài nước
sẽ có hiệu quả hơn, trong đó tất nhiên có tác động về
mặt ngoại giao từ phía Việt Nam đối với chính quyền bang
sở tại điều mà phong trào hồi phục tiếng Việt của kiều
bào người Việt đặc biệt cần tới. Bên cạnh đó, các
hình thức sinh hoạt tiếng Việt như hội thảo, nói chuyện
chuyên đề, tổ chức dã ngoại, lễ hội ngôn ngữ, thông
qua những hoạt động đố vui về lịch sử và văn hóa như
đã được tổ chức trong nước, hướng đối tượng người
Việt trẻ ở nước ngoài vào việc tìm hiểu lại lịch sử,
văn hóa của dân tộc… với sự phối hợp về phương pháp
sư phạm và truyền bá giữa trong và ngoài nước chắc chắn
cũng sẽ có tác dụng. Chỉ có như thế,chủ nghĩa nhân văn
tiếng Việt mới đối trọng được với chủ nghĩa “hambuger”
mà các bậc phụ huynh người Việt ở nước ngoài và cả
trong nước hiện nay đang lo lắng khôn nguôi.