ĐỨC
HIẾU
Nguyễn
Thế Đăng
Hiếu
là sự nối kết và mối tương quan bao la. Hiếu không phải
là liên hệ bằng tiền bạc, địa vị, bằng những gì trao
đổi được, cho nên nó sâu thẳm như sự liên kết không
cùng của lòng từ bi. Sự nối kết, liên hệ ấy không phải
là một bổn phận hay trách nhiệm của tục lệ đời thường
mà nó là sự an bình và hạnh phúc sẵn có trong chiều sâu
của mỗi chúng ta.
Hiếu
là một giá trị sống tốt đẹp có trong mọi nền văn hóa.
Ở Việt Nam chúng ta, hiếu là một trong những phạm trù quan
trọng được cả Phật giáo và Nho giáo đề cao. Nho học chú
trọng vào đời sống gia đình, xã hội nên giá trị sống
hiếu được cổ xúy nhiều. Nhưng vì Nho học được phát
triển trong bối cảnh chế độ quân chủ nên khái niệm hiếu
cũng bị giới hạn. Và theo cảm thức thông thường, cái gì
giới hạn đều thường phát sinh ra sự mâu thuẫn, xung đột.
Không được đặt trong một thế giới quan rộng lớn, chữ
hiếu, mặc dù là một yếu tố quan trọng của đạo làm người,
nhưng có khi lại gây ra những thảm kịch, như chúng ta thường
thấy trong văn học, phim ảnh của Trung Hoa. Chẳng hạn, vì
hiếu mà phải giết cha người khác để trả thù cho cha mình;
vì hiếu mà phải bán mình để chuộc cha… Trong khi đó, xuất
gia để thiết thực lo cho mình, cho người thì lại xem là
“bất hiếu”… Và trong thời đại ngày nay, nếu cha mẹ
ly dị, hay một trong hai người qua đời, thì để giữ lòng
hiếu, chắc là phải thù ghét vợ sau hay chồng sau của cha
mẹ mình.
Trong
bối cảnh Phật giáo, hiếu được nhìn trong một viễn cảnh
rộng lớn, và vì rộng lớn nên ít gây nên mâu thuẫn xung
đột. Không những thế còn nâng cấp con người đến chỗ
toàn thiện. Trước hết, chúng ta thấy có ba yếu tố cấu
thành lòng hiếu: tình thương yêu, sự kính trọng và ơn nghĩa.
Cả
ba tình cảm ấy đều quy tụ vào cha mẹ, những bậc sinh thành
và nuôi nấng mình. Trong thế giới quan Phật giáo, nguyên nhân
(nhân) chính để chúng ta có mặt ở đời này là nghiệp của
chính chúng ta, còn cha mẹ là nguyên nhân hỗ trợ (duyên).
Trong viễn cảnh Phật giáo, chúng ta không chỉ mới có mặt
lần đầu tiên trong đời này mà đã từ vô số đời trước,
trong đủ mọi hình thức của sinh mạng của Người, Chư thiên,
Thú vật, Ngã quỷ, Địa ngục, và dòng sinh tử của chúng
còn kéo dài mãi nếu chúng ta không đủ sức thoát khỏi sáu
cõi sinh tử luân hồi. Còn với những người nguyện đi con
đường Bồ tát thì: “Tôi nguyện sẽ ở lại thế gian cho
đến ngày thế gian trống rỗng”, nghĩa là cho đến khi hết
chúng sinh. Với một cái nhìn rộng lớn như vậy, thì tất
cả chúng sinh đều đã từng là hoặc sẽ là cha mẹ của
chúng ta.
Do
vậy, hiếu trong Phật giáo được đẩy đến tận cùng biên
giới của nó: hiếu là lòng hiếu với tất cả chúng sinh,
trong cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai và khắp toàn
bộ vũ trụ. Lòng hiếu như vậy được mở rộng đến tầm
mức vũ trụ, tiếp cận và trở thành lòng đại từ đại
bi.
Nhưng
đối với một người cao cả, tình thương yêu, sự kính mến
và ơn nghĩa không chỉ đối với chúng sinh hữu tình mà còn
đối với cả thế giới vô tình. “Trong tuần lễ thứ hai,
sau khi giác ngộ, để tỏ lòng tri ân sâu xa đối với cây
bồ đề vô tri vô giác đã che mưa nắng cho Ngài suốt thời
gian nhập định để đắc đạo, Đức Phật đứng cách một
khoảng xa để chăm chú nhìn cây bồ đề trọn một tuần
không chớp mắt”. (Đức Phật và Phật pháp - Narada Thera).
Với người bình thường chúng ta cũng vậy, chúng ta gọi trái
đất là “bà mẹ trái đất”; đất được gọi là đất
mẹ; sông Hồng, con sông đã làm nên nền văn minh đồng bằng
sông Hồng, cũng được gọi là sông Cái, nghĩa là sông Mẹ…
Chính
lòng từ bi đối với thế giới vô tình là một yếu tố
quan trọng khiến cho một người theo con đường Bồ tát, dù
ở thế giới nào cũng làm mọi việc để biến thế giới
ấy thành một cõi Tịnh độ, một cõi Phật.
Cách
biểu hiện ban đầu của hiếu, có lẽ chỉ là một bản năng
bầy đàn nơi một số loài vật, và con người đã phát triển
thành ý nghĩa và bổn phận trong gia đình và mở rộng trở
thành một tình cảm thiêng liêng đối với đại gia đình
nhân loại: từ chúng sinh hữu tình đến vô tình. Hiếu là
phong tục tốt đẹp, từ việc giới hạn trong một gia đình
đã trở thành thái độ sống đối với con người và thế
giới. Thực hành thái độ sống ấy, con người dần dần
trở nên toàn diện và toàn thiện.
Với
ý nghĩa đó, trong mùa Vu lan, có thể chúng ta chỉ làm một
hành động đơn giản nhất: thắp hương và cầu nguyện cho
cha mẹ, người còn sống được an lành, người đã mất được
siêu thoát. Rộng ra nữa, cho ông bà tổ tiên không chỉ đời
này mà còn ở đời quá khứ và tương lai. Qua chỉ một hình
thức cầu nguyện đơn giản này, chúng ta thấy mình nối kết,
tương thông với cha mẹ, tổ tiên, với nhiều người, cho
đến nối kết với mọi chúng sinh. Sự nối kết và mối
tương quan bao la này không phải là liên hệ bằng tiền bạc,
địa vị, bằng những gì trao đổi được, cho nên nó sâu
thẳm như sự liên kết không cùng của đời sống là
lòng từ bi. Sự nối kết, liên hệ ấy không phải là một
bổn phận hay trách nhiệm của tục lệ đời thường mà nó
là sự an bình và hạnh phúc sẵn có trong chiều sâu của mỗi
chúng ta.
Như
vậy, qua chỉ một hành vi nhỏ của lòng hiếu, chúng ta có
thể nối kết, tiếp thông với những sự thật bí mật nhất
của đời sống. Khám phá thể nghiệm những thực tại sâu
thẳm của cuộc đời qua những hành vi nhỏ nhặt, đó chính
là sống đạo.