Tự
điều chỉnh,
giải
pháp của đời sống
Nguyễn
Đăng Trung
LTS:
Hạnh phúc là mục tiêu của đời sống. Để có được hạnh
phúc thực sự thì giải pháp nào là căn bản? Khoa học, Phật
học và nhận thức của cha ông trong quá khứ về vấn đề
này như thế nào? VHPG xin giới thiệu đến bạn đọc bài
viết về vấn đề này của tác giả Nguyễn Đăng Trung, như
một phần bổ sung cho bài “Khoa học, Phật học và đời
sống” đã đăng trong các số trước.
Mặc
dù có cùng mục đích loại trừ đau khổ và gia tăng hạnh
phúc cho con người, nhưng do nội dung nhận thức về đời
sống của Phật học và khoa học rất khác nhau nên quan điểm
giải pháp của hai hệ thống nhận thức này hoàn toàn khác
nhau.
Vì
nhìn thấy chủ thể và khách thể là các thực thể riêng
biệt và có sự tương tác - mà cảm giác hạnh phúc hoặc
đau khổ hình thành từ các tương tác - nên giải pháp của
khoa học là tham gia vào các tương tác bằng cách phát triển
nhận thức và sáng tạo ra các công cụ phục vụ cho con người
trong tương tác. Hoạt động đó được nhìn thấy như là
sự cải tạo hoặc làm biến đổi thế giới khách quan, được
nhìn thấy là chủ động và tích cực, vì vận động theo
ý muốn của chủ thể và hướng đến sự chinh phục.
Thế
nhưng, đối với bản chất đời sống, mọi hoạt động vốn
được nhìn thấy là tương tác thực chất chỉ là phản ứng
của phần biết trước các kích thích từ phần được biết
của các cá thể có cái biết. Do không hiểu biết được
thực chất và nguồn gốc của các kích thích nên khi tham gia
vào các tương tác, hoạt động của khoa học bị giới hạn
trong khuôn khổ của sự đối phó bị động trước các kích
thích. Không đụng chậm đến được nguồn gốc tạo ra các
kích thích, nên hoạt động của khoa học thuộc vào loại
hoạt động mà Đức Phật đã đề cập trong dẫn dụ “con
chó lao vào cắn khúc cây mà không biết đến người đã ném
vào nó”.
Với
cái biết tuyệt đối, giải pháp tình thế mà Đức Phật
đưa ra đối với vấn đề này là phải làm thay đổi, theo
cách điều chỉnh và “tu sửa” lại nguồn gốc gây ra các
kích thích. Nguồn gốc tạo thành trường hoàn cảnh và gây
ra các kích thích, như đã trình bày ở phần trên, chính là
phẩm chất của các vận hành phản ứng đã diễn ra trong
quá khứ. Do vậy, muốn làm thay đổi tính chất của trường
hoàn cảnh sẽ xuất hiện trong tương lai thì cần phải tự
điều chỉnh phẩm chất của các vận hành phản ứng trước
các kích thích của trường hoàn cảnh hiện tại. “Tu” có
nghĩa là như vậy.
Phật
học không chủ trương chinh phục thế giới (vì đó chỉ là
các hình thái giả lập và là một bộ phận hợp thành cá
thể có cái biết, chứ không phải là hiện thực và khách
quan) theo cách đấu tranh, đối phó hay chinh phục trường hoàn
cảnh. Do vậy, trong Phật học không có học thuyết xây dựng
xã hội, không có tư tưởng chính trị và cũng không có khoa
học công nghệ, Phật học không tham gia vào các tương tác
theo cách “con chó lao vào cắn khúc cây”.
Khi
đứng trên mặt đất, người ta thấy mặt trời chuyển động
từ đông sang tây, còn khi nhìn từ vũ trụ thì thấy trái
đất xoay chung quanh trục của nó và di chuyển quanh mặt trời.
Tương tự vậy, những vấn đề của đời sống được nhìn
theo các diễn biến và từ bản chất rất khác nhau, thậm
chí trái ngược nhau.
Nhìn
theo diễn biến, người ta nhận thấy rằng xã hội loài người
ít khi có được sự công bằng mà thường xuyên chứa đựng
vô số bất công. Công bằng được hiểu đơn giản là “hành
vi đúng tốt sẽ được đền đáp bằng điều tốt đẹp,
còn hành vi sai xấu sẽ phải nhận lãnh điều xấu dở”.
Bất công là khi sự công bằng không diễn ra.
Khi
thấy có người hành động xấu ác (ví dụ như giết người
hay cướp bóc), ngay lập tức hoặc sau một thời gian nào đó
mà người ấy bị trừng trị, thì người ta thấy rằng đã
có sự công bằng. Nếu sau một thời gian mà kẻ ác đó vẫn
không bị trừng trị, thì người ta coi đó là bất công. Như
vậy, công bằng hay bất công đều có liên quan đến yếu
tố thời gian. Điều này cũng có nghĩa việc đánh giá là
công bằng hay bất công có sự tùy thuộc vào thời lượng
khảo sát, và thời lượng khảo sát càng nhỏ thìu sự bất
công bằng càng nhiều. Đây là lý do làm cho người ta nhận
thấy rằng mọi xã hội luôn tồn tại đầy rẫy các bất
công, và đỗ lỗi sự bất công cho pháp luật hoặc cho chế
độ chính trị xã hội.
Thực
tế là: Thứ nhất, người quan sát không có điều kiện kéo
dài thời lượng khảo sát một cách tùy ý và không thể theo
dõi được toàn bộ diễn biến đời sống của người có
công hay có tội, nên các kết luận về sự công bằng chỉ
là tức thời và cảm tính. Thứ hai, người bình thường không
thấy được hiện tượng lưu trữ và phát khởi các thông
tin về vận hành, tự động diễn ra một cách tự nhiên, theo
nguyên lý nhân quả và xu thế nội sinh tất yếu (kamma - nghiệp).
Thứ ba, trong hành trình chuyển biến nội hàm của quá trình
lưu giữ và phát khởi thông tin có hiện tượng biến đổi
sai khác (vikapa - dị thục) nên nội dung của kết quả là
không hoàn toàn giống với nội dung của vận hành, mà chỉ
có sự tương ứng về mức độ và tính chất, cho nên người
ta không biết được hoàn cảnh kết quả nào là do hành vi
nguyên nhân nào tạo ra. Vì những lý do kể trên, con người
không biết rằng, trong bản chất của đời sống, sự công
bằng luôn tự động diễn ra trong từng vi luợng của đời
sống.
Công
bằng và bất công là những khái niệm tiêu chuẩn của đạo
đức, trong khi đạo đức là một trong các hình thái ý thức
xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều
chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực đời sống
của xã hội không trừ một lĩnh vực nào, nhưng lại bị
nhu cầu và lợi ích của từng cộng đồng (giai cấp hoặc
tôn giáo,.v.v…) nắm vai trò thống trị và điều hành xã
hội chi phối. Do không coi xã hội là khách thể nên trong Phật
học không đề cập đến đạo đức theo ý nghĩa là một
chế định xã hội như thế. thay vì đưa ra các tiêu chuẩn
đạo đức, Phật học xác định các phẩm chất đúng tốt
(kusala - thiện) và sai xấu (akusala - bất thiện) cho các vận
hành bằng định nghĩa như sau:
“Một
vận hành, nếu sau hành trình chuyển biến nội hàm mà dẫn
đến một kết quả có sự biến đổi sai khác (quả dị thục)
có thể gây ra sự yêu thích (khả ái) cùng với sự cảm nhận
sung sướng (sukhayavedana - lạc thụ), thì được coi là vận
hành đúng tốt (kusalasankhara - hành thiện). Một vận hành,
nếu sau hành trình chuyển biến nội hàm mà dẫn đến một
kết quả có sự biến đổi sai khác có thể gây ra sự không
yêu thích (bất khả ái) cùng với sự cảm nhận đau khổ
(dukkhavedana - khổ thụ), thì được gọi là vận hành sai xấu
(akusalasankhara - hành bất thiện). Còn nếu khác với hai trường
hợp này thì gọi là vận hành vô tính (abyakata - vô ký)”.
Do
đó: “Động lực nội sinh (kamma - nghiệp) nếu tạo ra sự
ổn định, hoặc sau hành trình chuyển biến nội hàm mà tạo
ra kết quả có sự biến đổi sai khác có thể gây ra sự
yêu thích cùng với cảm nhận sung sướng - tạm thời hay mãi
mãi xa lìa sự thống khổ - thì gọi là động lực nội sinh
tốt lành (kusalakamma - thiện nghiệp). Động lực nội sinh
tạo ra sự bất ổn hoặc sau hành trình chuyển biến nội
hàm mà tạo ra kết quả có sự biến đổi sai khác có thể
gây ra sự không yêu thích cùng với cảm nhận đau khổ, thì
gọi là động lực nội sinh xấu xa (akusalakamma - bất thiện
nghiệp). Động lực nội sinh nằm ngoài các đặc trưng kể
trên gọi là động lực nội sinh vô tính (vô ký nghiệp)”.
Trong
52 thành phần của cái biết (cetasika - tâm sở), ngoại trừ
hai thành phần cảm nhận (vedana - thụ) và tưởng thật (sanna
- tưởng) thuộc hai tập kín riêng biệt, 50 thành phần còn
lại đều là các thành phần của tập kín vận hành. Phật
học xác định cụ thể trong số đó thành phần nào đúng
tốt, thành phần nào là sai xấu, thành phần nào là trung tính;
phân tích rất sâu sắc về hình thức, nội dung, chức năng,
nguyên nhân, và các hình thức vận động của từng thành
phần. Cùng với nhiều nội dung khác, đây là cơ sở nhận
thức để cho các cá thể có cái biết tự điều chỉnh từng
hành vi của mình, để tạo ra cho mình những hoàn cảnh tốt
đẹp trong tương lai.
Ngày
nay khoa học mới biết đến lợi ích của “sự tự điều
chỉnh ở từng khâu nhỏ nhất” trong lĩnh vực tổ chức
quản lý hành chính và sản xuất, bằng việc áp dụng các
điều khoản của Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế (ISO). Một
sự tự điều chỉnh rộng lốn hơn, lợi ích hơn rất nhiều
- trên quy mô đời sống - đã được Đức Phật xác định
chi tiết từ hơn 2.500 năm trước, trong nội dung của các điều
khoản của Chương trình phòng vệ (sila - giới luật) dành
cho những người sống trong đời thường và cho những vị
rèn luyện vượt ra ngoài các hệ thống tương đối để đạt
đến cái biết tuyệt đối.
Trong
Phật học không có các nội dung khoa học công nghệ vì các
thành tựu của khoa học công nghệ luôn gây ra các tác động
hai mặt vào đời sống, và ngay cả tác động của mặt tốt
cũng làm cho con người phụ thuộc hơn, gắn chặt hơn vào
đời sống của thế giới dục vọng - một thế giới thuộc
về các hệ thống tương đối có bản chất là sự đau khổ.
Trong
Phật học không có chính trị, không có sự lừa bịp, không
có sự phục vụ riêng cho một cá nhân nào, cho một giai cấp
nào, cho một dân tộc nào. Trong bốn phẩm chất không gì định
lượng nổi mà vị rèn luyện có được khi đạt đến cái
biết tuyệt đối (từ-bi-hỷ-xả), thì tình thương (karuna
- bi: thương xót) là phẩm chất có được khi trực giác thấy
được sự đau khổ của các cá thể trong các hệ thống tương
đối. Tình thương đó là như nhau (upekkha - xả: quân bình,
cân bằng) đối với mọi cá thể - cả nạn nhân đau đớn
nhất lẫn thủ phạm tàn ác nhất - vì đó là người đang
nhận lãnh hậu quả của các hành vi của mình trong quá khứ
và người đang tạo ra hậu quả thê thảm cho mình trong tương
lai.
Trong
Phật học không có học thuyết xây dựng xã hội vì khi từng
người tự điều chỉnh các hành vi của mình thì đó lại
chính là cách tốt nhất làm cho xã hội trở nên tốt đẹp.
Trong
Phật học không đề cập đến sự đấu tranh, sự chống
lại, sự trấn áp, hay sự tiêu diệt theo cách giết chóc.
Phật học không chống lại sự áp bức, không chống lại
sự cướp bóc và chia chác, không chống tham nhũng, không chống
lại mọi thứ xấu xa khác…; mà chỉ làm cho những thứ độc
ác xấu xa do tham lam, nóng giận, và ngu muội không còn nữa
(diệt), bằng cách trình giảng cho mọi người hiểu rằng,
trong đời sống có nguyên lý nhân quả và luôn tồn tại xu
thế nội sinh tất yếu, rằng không ai có thể tránh được
hậu quả xấu cho chính mình khi đã có những vận hành sai
xấu. Khi biết có nhân quả, người ta sẽ từ bỏ áp bức,
từ bỏ cướp bóc và chia chác, từ bỏ tham nhũng, từ bỏ
mọi thứ xấu xa. Khi không tin là có nhân quả, việc xấu
ác đến đâu người ta cũng có thể làm.
Khi
nhìn đâu cũng thấy bất công thì con người luôn mong mỏi
và tìm kiếm sự công bằng. Thế nhưng người ta không biết
rằng chính sự công bằng lại là lý do làm cho bản chất
của đới sống trở thành đau khổ. Sự công bằng tự động
diễn ra theo nguyên lý nhân quả thông qua hiện tượng
nội sinh nên trong chu trình đời sống này, người ta có thể
ăn thịt, cắn xé, giẫm đạp… để rồi ở một chu trình
đời sống khác lại phải bị ăn thịt, bị cắn xé, bị
giẫm đạp. Công bằng đến như thế, cho nên mới đau khổ
đến như thế. vì lẽ đó và một số lý do khác, tuy có các
giải pháp tình thế, nhưng mục tiêu cuối cùng của Phật
học vẫn là phải vượt ra khỏi các hệ thống tương đối
để đạt đến hệ thống tuyệt đối, nơi chỉ có hạnh
phúc tuyệt đối. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện
được thông qua việc rèn luyện phi vận động hóa (jhana -
thiền). Phật học đã trình giảng một cách toàn diện và
rất cặn kẽ về phương pháp ấy.
Phật
học được du nhập vào Việt Nam ngay từ thời Vua Hùng lập
nước, trở thành nhận thức truyền thống của dân tộc Việt
Nam. Vì nhận thức Phật học là nhận thức ở một trình
độ rất cao nên mặc dù bị phong kiến Trung Hoa đô hộ
gần một ngàn năm, nền văn hóa của dân tộc Việt Nam vẫn
không bị Hán hóa. Phật học không phải là những vấn đề
tâm linh mơ hồ và tồn tại không chỉ nhờ vào niềm tin tôn
giáo. Phật học là những nội dung thiết thực, đem lại lợi
ích thiết thực. Khi các triều đại Lý-Trần đưa Phật giáo
trở thành quốc giáo, khi người dân thực hiện sự rèn luyện
tự điều chỉnh (sử sách gọi là “cả nước đi tu”),
thì kết quả là đã tạo dựng được một xã hội “ban
đêm ngủ không cần phải đóng cửa”. Ban đên ngủ không
cần phải đóng cửa là một câu mô tả cô đọng nhất về
một xã hội hoàn toàn tốt đẹp, hkông có các mâu thuẫn
xã hội. Một xã hội như thế đã từng tồn tại trên thực
tế ở Việt Nam. Xã hội thực tế của ông cha chúng ta tốt
đẹp hơn nhiều so với kiểu mô hình xã hội huyễn hoặc
có thể đáp ứng mọi nhu cầu của con ngừơi, do những kẻ
hoang tưởng người nước ngoài tưởng tượng ra.
Khi
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng” là mục tiêu
mong muốn đạt đến thì việc mỗi công dân thực hiện sự
“tự điều chỉnh hành vi của mình” chính là phương thức
cụ thể, duy nhất để đạt đến mục tiêu ấy. Đây cũng
là nguyên tắc khoa học áp dụng cho một xã hội hiện đại
trong tương lai, nếu khoa học hiểu được các cơ sở biện
luận cho điều đó.