.
..SỐ 07 -THÁNG 8, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 07-THÁNG 8, 2005

 

 

100 năm sau ngày mất của Chu Mạnh Trinh (1905-2005)

Tưởng Nhớ 
Nhà Thơ Của Chùa Hương
Nguyễn Quảng Tuân

Đến 26-8-2005 là đúng 100 năm Chu Mạnh Trinh qua đời, khi ấy ông mới có 44 tuổi. Nhìn tấm ảnh của ông chúng ta còn thấy rõ được nét hào hoa của một con người nho nhã.

Ông là con cụ cử Chu Duy Tĩnh, làm quan đến chức Ngự sử nhưng không thích cảnh ràng buộc nên đã cáo quan về nghỉ sớm để chăm lo dạy con, khi ấy Chu Mạnh Trinh mới có 6 tuổi mà cụ Ngự sử đã 56 rồi. Cụ đã gửi con mình lên học cụ Tuần Nam Ngư, tức cụ Phạm Hy Lượng, người xã Nam Ngư (phía nam thành Hà Nội), làm quan đến chức Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, sau hồi hưu về mở trường dạy học. Cụ Chu Duy Tĩnh và cụ Phạm Hy Lượng rất thân nhau nên khi thấy bạn đem con lên gửi mình, cụ Phạm có nói: “Nhà bác chẳng đầy mấy bồ chữ sao? Làm gì bác phải đem cháu lên gửi tôi.”

Cụ Chu Duy Tĩnh đã lấy câu trong sách Minh đạo gia huấn mà thưa lại rằng: 

“Dịch tử chi giáo”. (Đổi con mà dạy), vì cũng như câu tục ngữ Việt Nam đã nói: “Dao sắc không gọt được chuối”.

Chu Mạnh Trinh theo học cụ Tuần Nam Ngư tiến bộ rất nhanh. Năm Canh thìn (1880), Chu Mạnh Trinh 19 tuổi đi thi Hương nhưng chỉ đậu tú tài. Điều này thật không ai ngờ nhưng Chu Mạnh Trinh vẫn không nản chí, lại gắng công học tập để chờ khóa sau. Năm Bính Tuất (1886), Chu Mạnh Trinh đậu giải nguyên. Năm Nhâm Thìn (1892), Chu Mạnh Trinh vào kinh thi Hội và đổ tiến sĩ. 

Sau đó ông nghè Chu được bổ làm Tri phủ Lý Nhân tỉnh Hà Nam nhưng mới nhậm chức được ba tháng thì thân phụ ông là cụ Ngự sử qua đời. Quan phủ Chu phải nghỉ việc về nhà cư tang. Hết hạn cư tang ông nghè Chu được thăng Án sát tỉnh Thái Nguyên. Trên đường đi nhậm chức, quan Án Chu cũng nghĩ nhiều về chức vụ của mình, một chức vụ chỉ chuyên xét xử các tội phạm phá rối trị an, những người chống lại thực dân Pháp… ông nghĩ cũng buồn cho mình sinh chẳng phùng thời. Ra làm quan để làm gì? Được cái gì? Và ông cố tỏ ra là một ông quan bất tài, không tích cực phục vụ cho chính quyền Bảo hộ nên suốt mấy năm ở Thái Nguyên ông không để lại được chính tích gì ngoài việc ngâm vịnh, du ngoạn và nghe hát ả đào.

Rồi quan Án Chu lại được đổi về Hưng Yên, tỉnh nhà. Điều này làm cho ông rất khó xử. Ông đã tìm sự quên lãng trong thú ngao du. Ông đi chơi chùa Hương, lo việc trùng tu chùa và làm bài hát nói Hương Sơn phong cảnh cho đào nương hát:

Bầu trời cảnh Bụt,

Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay,
Kìa non non, nước nước, mây mây,
“Đệ nhất động”, hỏi rằng đây có phải.
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái,
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một tiếng chày kình,
Kháng tang hải giật mình trong giấc mộng.
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng,
Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh,
Nhác trông lên ai khéo họa hình,
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt,
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây.
Chừng giang sơn còn đợi ai đây,
Hay tạo hóa khéo ra tay xếp đặt.
Lần tràng hạt niệm “Nam mô Phật”
Cửa từ bi công đức xiết là bao.
Càng trông phong cảnh càng yêu.

Đây là một bài hát nói hay, hay hơn các bài hát nói khác viết về chùa Hương. Ông còn viết hai bài thơ nữa cũng về chùa Hương: Hương Sơn nhật trình và Hương Sơn hành trình.

Trong bài Nhật trình ông vẫn nói lên lòng ao ước được đi vãn cảnh chùa Hương:

Hương Sơn là thú thanh tao,
Kể đà nay ước mai ao mấy lần.

mà ông cho là một cái duyên:

Thuyền lan nhẹ cánh phăng phăng,
Hay đâu mượn gió gác Đằng đưa duyên.

Ông đã tả cái cảnh đẹp dọc đường vào chùa

Lần khe Yến Vĩ đi vòng,
Bốn bề bát ngát xa trông lạ thường.
Trong veo đáy nước lồng gương,
Mượn chèo ngư phủ đưa đường Đào Nguyên.

Ông cảm thấy lòng mình như thoát hẳn cảnh tục:

Lạ cho vừa bén mùi thiền,
Mà trăm não với nghìn phiền sạch không.

Khi vào đến chùa Thiên Trù ông đã thành kính niệm:

Nam vô quảng đại vô lường,
Trai thành dâng một nén hương trụ trì.

rồi ông lên đường vào chùa trong xem Nam Thiên Đệ Nhất động:

Thang mây biết mấy từng cao,
Đã đi phải đến đã trèo phải lên
Một tòa phong cảnh thiên nhiên,
Gió đưa thoang thoảng nhạc tiên xa gần.

Vào trong động, ông đã tả:

Kìa lẫm thóc, nọ kho tiền,
Kìa Bảo cái, nọ Kim Liên rõ ràng.
Phất phơ cành phướn phất ngang,
Nước đâu giỏ giọt quỳnh tương trên đầu.

Phật Bà cao ngự liên đài,
Tả Long Nữ hữu Thiện Tài hai bên.

rồi sau khi quan sát cảnh trong động ông đã:

Chắp tay làm lễ bước ra,
Hồ đi lại đứng, nần nà mấy phen.
Người trần mà đứng non tiên,
Họa may sau có nhân duyên chăng là.
Trải bao dặm liễu đường hoa,
Nhật trình chắp nhặt khúc ca nối vần.

Ông còn viết một bài Hương Sơn hành trình để tạ ơn:

Cúi đầu trăm lạy lòng thành,
Tôi xin đặt một nhật trình tạ ơn.

Ông đã tả cái cảnh người đi lễ:

Dẫu rằng non thẳm bể khơi,
Gần xa ai cũng tới nơi khẩn cầu.

Người đi đất, kẻ đi xe,
Trai khoe vẻ thắm, gái khoe màu hồng.
Người khăn gói, kẻ gánh gồng,
Kẻ dắt lão mẫu, người bồng hài nhân.

Kẻ quen người lạ vui thay,
Dầu trong bốn bể tới đây một nhà.

Trẻ già ai cũng đồng tâm,
Gái trai cũng niệm Quan Âm độ trì.

Người thì ra, kẻ thì vào,
Gặp nhau mừng rỡ đón chào vui thay.
Nghìn xưa âu cũng thế này,
Trần tiên nửa bước chia tay ngại ngần.

Muôn nghìn lạy đức Quan Âm,
Nôm na xin đặt một văn nhật trình.

Chúng tôi chỉ xin trích một số câu trong hai bài Nhật trình và Hành trình để các độc giả thấy được lòng mến yêu của Chu Mạnh Trinh đối với cảnh chùa Hương. Có thể nói ông là nhà thơ của Chùa Hương.

Ông không chỉ làm thơ đề cao cái đẹp của cảnh chùa mà ông còn có công trong việc tôn tạo chùa nữa. Chính ông đã vẽ kiểu cho cổng tam quan của chùa Thiên Trù.

***

Khi đã về hưu, năm 1904, ông khởi xướng ra cuộc thi thơ đề vịnh bộ Thanh Tâm Tài Nhân (tức quyển Kim Vân Kiều truyện gồm 20 hồi) để Lê Hoan, Tổng đốc Hưng Yên, đứng ra tổ chức. Ban giám khảo gồm có cụ Nguyễn Khuyến và cụ Dương Lâm. Trong làng Nho miền Bắc hồi đó có một số người tham dự như cụ cử Du Lâm Nguyễn Tấn Cảnh, cụ cử Bình Lăng Nguyễn Đình Giác, cụ cử Đào Xá Chu Thấp Hy, cụ cử Nam Dư Nguyễn Kỳ Nam, cụ tú Khố Nhu Chu Lê Hành, cụ Phan Mạnh Danh … Chu Mạnh Trinh cũng có tham dự và được trúng giải nhất về thơ Nôm.

Trong bài Tựa bằng chữ Hán ông đã tìm một lý lẽ để bênh vực nàng Kiều mặc cho những ai kết tội nàng. Ông vẫn khen Thúy Kiều là “người thục nữ mà đủ đường hiếu nghĩa” tuy có phải cảnh “cành đưa lá đón” nhưng “tấm lòng vẫn như tuyết như gương” nên “đã toan đúc sẵn nhà vàng chờ người quốc sắc” vì ông cũng tự coi mình là “nòi tình, thương người đồng điệu.” (1)

Có thể nói tất cả tâm sự của Chu Mạnh Trinh đều được bộc lộ qua bài Tựa ấy.

Sau cuộc thi thơ vịnh Kiều, sức khỏe của ông nghè Chu kém hẳn đi vì cái mã đao, khối u sau gáy, ngày càng lớn. Việc chữa trị bằng thuốc bắc thuốc nam đều không có kết quả. Mọi người khuyên ông nên đến nhà thương Phủ Doãn để chữa trị. Các bác sĩ người Pháp cho rằng phải mổ may ra mới cứu được. Chu Mạnh Trinh đành phải nghe theo, cho rằng “Phong trần liều với mũi dao con”.

Tiếc rằng cuộc giải phẫu ấy đã không thành công và ông nghè Chu đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 28 tháng bảy năm At Tỵ (tức 26-8-1905).

Tin buồn ấy đưa về đến quê nhà. Cụ Ngự bà, mẹ ruột của quan Án Chu, lặng người đi, một mình vào trong buồng và cứ thế đi theo con. Gia đình trong lúc bối rối như vậy đã phải lo an táng cho cụ Ngự bà trước rồi mới tổ chức an táng quan Án sau.

Phần mộ đã được ông chọn lúc sinh thời trên đất làng Đa Hòa, gần đền thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung. Hai người con trai còn nhỏ mới ba, bốn tuổi đi theo quan tài.

Cảnh thương tâm ấy ai ngờ đã đúng một trăm năm qua. Chỉ tiếc rằng vì thời cuộc, dinh của ông Nghè đã bị phá, hoành phi, câu đối, sách chữ Nho, chữ Nôm, các bút tích của ông đã không còn ngoại trừ những thơ văn đã lưu truyền như các bài Hương Sơn phong cảnh, Hương Sơn nhật trình, Hương Sơn hành trình và Thanh Tâm tài nhân thi tập … (2) Thật đáng buồn cho ông cứ những ước mong:

Thiên trường địa cửu vô chung tất,
Giả ngã trường tồn bất lão xuân.

(Khiêu Ngưu - Chức Nữ ca)

(Trời đất dài lâu không chấm dứt,
Giá như ta sống mãi không già.)

mà chẳng được như ý.

---------
(1): Đoàn Tư Thuật dịch. Bản dịch này khi đăng trên tạp chí Nam Phong lại ghi là Đoàn Quì.
(2) Theo Quốc triều khoa bảng lục thì ông nghè Chu Mạnh Trinh chỉ làm Aăn sát có hai tỉnh Thái Nguyên và Hưng Yên thôi. Vậy bài Hà Nam Aăn sát tặng sơn trà không phải nói tới Chu Mạnh Trinh và giai thoại về câu chuyện tặng sơn trà ngày Tết năm 1906 là sai hoàn toàn vì ông Án Chu đã mất từ năm 1905!
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 07 -THÁNG 8 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)