100
năm sau ngày mất của Chu Mạnh Trinh (1905-2005)
Tưởng
Nhớ
Nhà
Thơ Của Chùa Hương
Nguyễn
Quảng Tuân
Đến
26-8-2005 là đúng 100 năm Chu Mạnh Trinh qua đời, khi ấy ông
mới có 44 tuổi. Nhìn tấm ảnh của ông chúng ta còn thấy
rõ được nét hào hoa của một con người nho nhã.
Ông
là con cụ cử Chu Duy Tĩnh, làm quan đến chức Ngự sử nhưng
không thích cảnh ràng buộc nên đã cáo quan về nghỉ sớm
để chăm lo dạy con, khi ấy Chu Mạnh Trinh mới có 6 tuổi
mà cụ Ngự sử đã 56 rồi. Cụ đã gửi con mình lên học
cụ Tuần Nam Ngư, tức cụ Phạm Hy Lượng, người xã Nam Ngư
(phía nam thành Hà Nội), làm quan đến chức Tuần phủ tỉnh
Ninh Bình, sau hồi hưu về mở trường dạy học. Cụ Chu Duy
Tĩnh và cụ Phạm Hy Lượng rất thân nhau nên khi thấy bạn
đem con lên gửi mình, cụ Phạm có nói: “Nhà bác chẳng đầy
mấy bồ chữ sao? Làm gì bác phải đem cháu lên gửi tôi.”
Cụ
Chu Duy Tĩnh đã lấy câu trong sách Minh đạo gia huấn mà thưa
lại rằng:
“Dịch
tử chi giáo”. (Đổi con mà dạy), vì cũng như câu tục ngữ
Việt Nam đã nói: “Dao sắc không gọt được chuối”.
Chu
Mạnh Trinh theo học cụ Tuần Nam Ngư tiến bộ rất nhanh. Năm
Canh thìn (1880), Chu Mạnh Trinh 19 tuổi đi thi Hương nhưng chỉ
đậu tú tài. Điều này thật không ai ngờ nhưng Chu Mạnh
Trinh vẫn không nản chí, lại gắng công học tập để chờ
khóa sau. Năm Bính Tuất (1886), Chu Mạnh Trinh đậu giải nguyên.
Năm Nhâm Thìn (1892), Chu Mạnh Trinh vào kinh thi Hội và đổ
tiến sĩ.
Sau
đó ông nghè Chu được bổ làm Tri phủ Lý Nhân tỉnh Hà Nam
nhưng mới nhậm chức được ba tháng thì thân phụ ông là
cụ Ngự sử qua đời. Quan phủ Chu phải nghỉ việc về nhà
cư tang. Hết hạn cư tang ông nghè Chu được thăng Án sát
tỉnh Thái Nguyên. Trên đường đi nhậm chức, quan Án Chu cũng
nghĩ nhiều về chức vụ của mình, một chức vụ chỉ chuyên
xét xử các tội phạm phá rối trị an, những người chống
lại thực dân Pháp… ông nghĩ cũng buồn cho mình sinh chẳng
phùng thời. Ra làm quan để làm gì? Được cái gì? Và ông
cố tỏ ra là một ông quan bất tài, không tích cực phục
vụ cho chính quyền Bảo hộ nên suốt mấy năm ở Thái Nguyên
ông không để lại được chính tích gì ngoài việc ngâm vịnh,
du ngoạn và nghe hát ả đào.
Rồi
quan Án Chu lại được đổi về Hưng Yên, tỉnh nhà. Điều
này làm cho ông rất khó xử. Ông đã tìm sự quên lãng trong
thú ngao du. Ông đi chơi chùa Hương, lo việc trùng tu chùa và
làm bài hát nói Hương Sơn phong cảnh cho đào nương hát:
Bầu
trời cảnh Bụt,
Thú
Hương Sơn ao ước bấy lâu nay,
Kìa
non non, nước nước, mây mây,
“Đệ
nhất động”, hỏi rằng đây có phải.
Thỏ
thẻ rừng mai chim cúng trái,
Lững
lờ khe Yến cá nghe kinh.
Thoảng
bên tai một tiếng chày kình,
Kháng
tang hải giật mình trong giấc mộng.
Này
suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng,
Này
am Phật Tích, này động Tuyết Quynh,
Nhác
trông lên ai khéo họa hình,
Đá
ngũ sắc long lanh như gấm dệt.
Thăm
thẳm một hang lồng bóng nguyệt,
Gập
ghềnh mấy lối uốn thang mây.
Chừng
giang sơn còn đợi ai đây,
Hay
tạo hóa khéo ra tay xếp đặt.
Lần
tràng hạt niệm “Nam mô Phật”
Cửa
từ bi công đức xiết là bao.
Càng
trông phong cảnh càng yêu.
Đây
là một bài hát nói hay, hay hơn các bài hát nói khác viết
về chùa Hương. Ông còn viết hai bài thơ nữa cũng về chùa
Hương: Hương Sơn nhật trình và Hương Sơn hành trình.
Trong
bài Nhật trình ông vẫn nói lên lòng ao ước được đi vãn
cảnh chùa Hương:
Hương
Sơn là thú thanh tao,
Kể
đà nay ước mai ao mấy lần.
mà
ông cho là một cái duyên:
Thuyền
lan nhẹ cánh phăng phăng,
Hay
đâu mượn gió gác Đằng đưa duyên.
Ông
đã tả cái cảnh đẹp dọc đường vào chùa
Lần
khe Yến Vĩ đi vòng,
Bốn
bề bát ngát xa trông lạ thường.
Trong
veo đáy nước lồng gương,
Mượn
chèo ngư phủ đưa đường Đào Nguyên.
Ông
cảm thấy lòng mình như thoát hẳn cảnh tục:
Lạ
cho vừa bén mùi thiền,
Mà
trăm não với nghìn phiền sạch không.
Khi
vào đến chùa Thiên Trù ông đã thành kính niệm:
Nam
vô quảng đại vô lường,
Trai
thành dâng một nén hương trụ trì.
rồi
ông lên đường vào chùa trong xem Nam Thiên Đệ Nhất động:
Thang
mây biết mấy từng cao,
Đã
đi phải đến đã trèo phải lên
Một
tòa phong cảnh thiên nhiên,
Gió
đưa thoang thoảng nhạc tiên xa gần.
Vào
trong động, ông đã tả:
Kìa
lẫm thóc, nọ kho tiền,
Kìa
Bảo cái, nọ Kim Liên rõ ràng.
Phất
phơ cành phướn phất ngang,
Nước
đâu giỏ giọt quỳnh tương trên đầu.
…
Phật
Bà cao ngự liên đài,
Tả
Long Nữ hữu Thiện Tài hai bên.
rồi
sau khi quan sát cảnh trong động ông đã:
Chắp
tay làm lễ bước ra,
Hồ
đi lại đứng, nần nà mấy phen.
Người
trần mà đứng non tiên,
Họa
may sau có nhân duyên chăng là.
Trải
bao dặm liễu đường hoa,
Nhật
trình chắp nhặt khúc ca nối vần.
Ông
còn viết một bài Hương Sơn hành trình để tạ ơn:
Cúi
đầu trăm lạy lòng thành,
Tôi
xin đặt một nhật trình tạ ơn.
Ông
đã tả cái cảnh người đi lễ:
Dẫu
rằng non thẳm bể khơi,
Gần
xa ai cũng tới nơi khẩn cầu.
…
Người
đi đất, kẻ đi xe,
Trai
khoe vẻ thắm, gái khoe màu hồng.
Người
khăn gói, kẻ gánh gồng,
Kẻ
dắt lão mẫu, người bồng hài nhân.
…
Kẻ
quen người lạ vui thay,
Dầu
trong bốn bể tới đây một nhà.
…
Trẻ
già ai cũng đồng tâm,
Gái
trai cũng niệm Quan Âm độ trì.
…
Người
thì ra, kẻ thì vào,
Gặp
nhau mừng rỡ đón chào vui thay.
Nghìn
xưa âu cũng thế này,
Trần
tiên nửa bước chia tay ngại ngần.
…
Muôn
nghìn lạy đức Quan Âm,
Nôm
na xin đặt một văn nhật trình.
Chúng
tôi chỉ xin trích một số câu trong hai bài Nhật trình và
Hành trình để các độc giả thấy được lòng mến yêu của
Chu Mạnh Trinh đối với cảnh chùa Hương. Có thể nói ông
là nhà thơ của Chùa Hương.
Ông
không chỉ làm thơ đề cao cái đẹp của cảnh chùa mà ông
còn có công trong việc tôn tạo chùa nữa. Chính ông đã vẽ
kiểu cho cổng tam quan của chùa Thiên Trù.
***
Khi
đã về hưu, năm 1904, ông khởi xướng ra cuộc thi thơ đề
vịnh bộ Thanh Tâm Tài Nhân (tức quyển Kim Vân Kiều truyện
gồm 20 hồi) để Lê Hoan, Tổng đốc Hưng Yên, đứng ra tổ
chức. Ban giám khảo gồm có cụ Nguyễn Khuyến và cụ Dương
Lâm. Trong làng Nho miền Bắc hồi đó có một số người tham
dự như cụ cử Du Lâm Nguyễn Tấn Cảnh, cụ cử Bình Lăng
Nguyễn Đình Giác, cụ cử Đào Xá Chu Thấp Hy, cụ cử Nam
Dư Nguyễn Kỳ Nam, cụ tú Khố Nhu Chu Lê Hành, cụ Phan Mạnh
Danh … Chu Mạnh Trinh cũng có tham dự và được trúng giải
nhất về thơ Nôm.
Trong
bài Tựa bằng chữ Hán ông đã tìm một lý lẽ để bênh
vực nàng Kiều mặc cho những ai kết tội nàng. Ông vẫn khen
Thúy Kiều là “người thục nữ mà đủ đường hiếu nghĩa”
tuy có phải cảnh “cành đưa lá đón” nhưng “tấm lòng
vẫn như tuyết như gương” nên “đã toan đúc sẵn nhà vàng
chờ người quốc sắc” vì ông cũng tự coi mình là “nòi
tình, thương người đồng điệu.” (1)
Có
thể nói tất cả tâm sự của Chu Mạnh Trinh đều được
bộc lộ qua bài Tựa ấy.
Sau
cuộc thi thơ vịnh Kiều, sức khỏe của ông nghè Chu kém hẳn
đi vì cái mã đao, khối u sau gáy, ngày càng lớn. Việc chữa
trị bằng thuốc bắc thuốc nam đều không có kết quả. Mọi
người khuyên ông nên đến nhà thương Phủ Doãn để chữa
trị. Các bác sĩ người Pháp cho rằng phải mổ may ra mới
cứu được. Chu Mạnh Trinh đành phải nghe theo, cho rằng “Phong
trần liều với mũi dao con”.
Tiếc
rằng cuộc giải phẫu ấy đã không thành công và ông nghè
Chu đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 28 tháng bảy năm
At Tỵ (tức 26-8-1905).
Tin
buồn ấy đưa về đến quê nhà. Cụ Ngự bà, mẹ ruột của
quan Án Chu, lặng người đi, một mình vào trong buồng và cứ
thế đi theo con. Gia đình trong lúc bối rối như vậy đã phải
lo an táng cho cụ Ngự bà trước rồi mới tổ chức an táng
quan Án sau.
Phần
mộ đã được ông chọn lúc sinh thời trên đất làng Đa
Hòa, gần đền thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung. Hai người
con trai còn nhỏ mới ba, bốn tuổi đi theo quan tài.
Cảnh
thương tâm ấy ai ngờ đã đúng một trăm năm qua. Chỉ tiếc
rằng vì thời cuộc, dinh của ông Nghè đã bị phá, hoành
phi, câu đối, sách chữ Nho, chữ Nôm, các bút tích của ông
đã không còn ngoại trừ những thơ văn đã lưu truyền như
các bài Hương Sơn phong cảnh, Hương Sơn nhật trình, Hương
Sơn hành trình và Thanh Tâm tài nhân thi tập … (2) Thật đáng
buồn cho ông cứ những ước mong:
Thiên
trường địa cửu vô chung tất,
Giả
ngã trường tồn bất lão xuân.
(Khiêu
Ngưu - Chức Nữ ca)
(Trời
đất dài lâu không chấm dứt,
Giá
như ta sống mãi không già.)
mà
chẳng được như ý.
---------
(1):
Đoàn Tư Thuật dịch. Bản dịch này khi đăng trên tạp chí
Nam Phong lại ghi là Đoàn Quì.
(2)
Theo Quốc triều khoa bảng lục thì ông nghè Chu Mạnh Trinh
chỉ làm Aăn sát có hai tỉnh Thái Nguyên và Hưng Yên thôi.
Vậy bài Hà Nam Aăn sát tặng sơn trà không phải nói tới
Chu Mạnh Trinh và giai thoại về câu chuyện tặng sơn trà ngày
Tết năm 1906 là sai hoàn toàn vì ông Án Chu đã mất từ năm
1905!