.
..SỐ 07 -THÁNG 8, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 07-THÁNG 8, 2005

 

 
Truyện ngắn
NGƯỜI CƯỜI
Heinrich Boll

Khi ai hỏi tôi làm nghề gì, tôi cảm thấy xấu hổ, ngượng ngùng: tôi đỏ mặt, lắp bắp, trong khi tôi thực sự là một người đàng hoàng. Tôi cảm thấy ganh ghét với những người có thể nói: “Tôi là thợ làm gạch”. Tôi ganh tỵ với người thợ hớt tóc, kế toán và các nhà văn vì nghề nghiệp dễ dàng của họ. Họ chẳng cần phải kể lể dài dòng gì, trong khi tôi phải khó khăn lắm mới trả lời được: “Tôi là người cười”. Sự thú nhận này sẽ dẫn đến sự thú nhận khác, vì bao giờ người ta cũng hỏi tiếp: “Anh thực sự kiếm tiền bằng cách đó sao?”, và tôi phải trả lời: “Vâng, đúng vậy!”. Tôi thực sự đã kiếm sống một cách thoải mái nữa là đằng khác - bằng tiếng cười của mình, vì tiếng cười của tôi - nói một cách thực tế - là rất cần trong thời buổi thị trường. Tôi tự nhận thấy mình là một người cười giỏi, đầy kinh nghiệm, không có ai cười hay như tôi, không có ai đạt đến nghệ thuật cười như tôi. Có thời gian, để tránh khỏi phải trả lời lòng vòng, tôi đã bảo tôi làm kịch sĩ nhưng tài nghệ diễn suất cũng như giọng lưỡi của tôi quá xa vời với danh xưng đó, trong khi tôi là người tôn trọng sự thật, và sự thật là: tôi là người cười. Tôi cũng không phải là anh hề hay kịch sĩ hài. Tôi không có khả năng làm người ta cười, nhưng tôi tượng trưng cho niềm vui: Tôi cười như một ông Vua La Mã hay như một chú học trò dễ thương, tôi có cái cười của thế kỷ thứ 17 cũng như của thế kỷ 19, và nếu cần tôi có thể cười xuyên suốt nhiều thế kỷ, đủ mọi giai cấp xã hội, đủ mọi lứa tuổi: đơn giản là tôi đã học được kỹ xảo đó, cũng giống như kỹ xảo sửa giày của một người thợ sửa giày thôi. Trong lồng ngực tôi chứa tiếng cười của người Mỹ, tiếng cưòi của người Phi châu, tiếng cười của người da trắng, đen, vàng, đỏ, và nếu đúng giá tôi có thể sửa đổi cho nó đúng theo yêu cầu của đạo diễn.

Tôi trở nên tối cần thiết; tôi cười để thu dĩa, tôi cười để thâu băng, và các vị giám đốc truyền hình đối với tôi đầy nể trọng. Tôi cười một cách buồn bã, một cách vừa phải, hay một cách thái quá; tôi cười giống như người điều khiển xe điện trên đường phố hay như một chú nhỏ học nghề trong tiệm bách hóa, tiếng cười vào buổi sáng, tiếng cười vào buổi tối, lúc canh khuya hay lúc trời chạng vạng sáng. Tóm lại: bất cứ ở đâu, và bất cứ cách nào, nếu cần, tôi đều có thể làm được hết.

Có lẽ cũng không cần phải nói là cái nghề này rất mệt, nhất là vì tôi cũng đã làm chủ được nghệ thuật lôi kéo người khác cười - đây là chuyên nghiệp của tôi - điều này làm cho tôi trở thành tối cần thiết đối với các vị chọc cười hạng ba, hạng tư, những người sợ rằng - không hẳn là vô duyên cớ - khán giả của họ không thể cười vì lời chọc cười của họ, thành ra nhiều đêm tôi phải ở trong các tụ điểm vui chơi đóng vai trò cò mồi, lựa những chỗ dở nhất trong chương trình để cười và lôi kéo người khác cười theo. Tôi phải canh đúng lúc: tiếng cười hồ hởi, lớn tiếng của tôi không thể đến sớm hơn và cũng không thể trễ hơn, nó phải đến đúng cái lúc tôi đã canh sẵn để có thể cất tiếng cười, lúc ấy đám khán giả sẽ cười hùa theo, và thế là lời chọc cười đã thành công.

Nhưng còn đối với tôi, tôi phải lê thân xác mệt mỏi của mình ra cửa, thầm cảm ơn là đã trả xong nợ áo cơm. Khi trở về nhà, đã có những bức điện tín chờ đợi tôi với nội dung đại khái như: “Cần gấp tiếng cười của anh bạn. Sẽ thu âm vào thứ Ba”, và vài giờ sau đó, tôi lại phải giam mình trong các toa tàu nóng hâm hấp mà nghiền ngẫm về số phận của mình.

Không cần phải nói, những khi tôi được nghỉ phép tôi không còn muốn cười nữa: giống như người kéo cày không muốn nghĩ tới con trâu cày hay anh làm gạch muốn quên đi cái lò hầm gạch của mình, và các bác thợ mộc thường không đụng tới mấy cánh cửa lung lay ở nhà họ. Như người thợ làm bánh kẹo lại thích dưa chua, anh hàng thịt lại thích bánh hạnh nhân, và thợ bánh mì lại thích xúc-xích; kẻ đấu bò lại giải trí bằng cách nuôi bồ câu; anh đánh box lại xanh xám mặt mày khi con họ chảy máu mũi; tất cả những nghịch lý này đối với tôi đều có thể hiểu được, vì chính tôi, tôi không bao giờ cười ngoài giờ. Tôi là người rất nghiêm trang đến đỗi có người cho tôi là - có lẽ cũng không sai - một kẻ bi quan.

Trong những tháng năm đầu khi mới lập gia đình, vợ tôi thường nói với tôi: “Làm ơn cười lên một chút!”, nhưng đã từ lâu rồi vợ tôi biết tôi không thể nào chiều ý nàng về chuyện đó. Tôi cảm thấy sung sướng được thư giãn những cơ bắp ở mặt của tôi, thư giãn tinh thần bị trói buộc của tôi trong sự nghiêm trang sâu lắng. Thật ra, ngay chính tiếng cười của người khác cũng làm tôi điên đầu, vì nó lại gợi tôi nhớ đến nghề nghiệp của mình. Vì thế cho nên, cuộc hôn nhân của tôi rất yên tĩnh, lặng lẽ, vì vợ tôi cũng quên cười luôn: thỉnh thoảng tôi bắt gặp nàng mỉm cười, và tôi cũng mỉm cười. Chúng tôi trò chuyện nhỏ giọng, vì tôi đã quá chán ghét các tiếng ồn trong các nightclubs, trong các phòng thâu âm… Người không biết cho là tôi quá nghiêm nghị. Có lẽ tôi như thế, vì tôi đã phải mở miệng cười quá nhiều.

Suốt cuộc đời, tôi mang một vẻ mặt không cảm xúc, thỉnh thoảng tôi mới cho phép mình được mỉm cười, và tôi thường tự hỏi: thực sự tôi có bao giờ cười không? Tôi nghĩ không. Các anh chị em tôi đều bảo từ nhỏ tôi đã là một đứa trẻ lầm lì.

Thành ra tôi đã cười bằng quá nhiều kiểu cách, nhưng tiếng cười thật của chính tôi, tôi chưa bao giờ được nghe.
 

                               Diệu Liên - LTL
            (Dịch từ bản tiếng Anh The Laughter, tác giả Heinrich Boll - người Đức)
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 07 -THÁNG 8 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)