TRÁCH
NHIỆM
Nguyễn
Đức Sơn
Chưa
có bao giờ chữ ‘trách nhiệm’ được nhắc nhiều như bây
giờ và cũng chưa bao giờ xã hội cần đến tinh thần đó
như hiện nay. Tưởng như là nghịch lý, nhưng chỉ cần lướt
qua những vụ việc xảy ra hàng ngày và chỉ trên phương tiện
thông báo chí thôi, ai cũng có thể thấy được điều đó.
Hàng loạt vụ tham nhũng, rút ruột các công trình công ích,
chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân, nhiều vụ
bê bối trong lĩnh vực giáo dục, v.v…, được phản ánh hàng
ngày trên các báo, đài; được nói tới trong dư luận.
Cái
‘trách nhiệm’ được nhắc đến nhiều với hai ý nghĩa,
thứ nhất nó đi theo trong cụm ‘vô trách nhiệm’, ‘thiếu
trách nhiệm’, ‘đổ trách nhiệm’…; thứ hai nó đi theo
trong các câu khẩu hiệu nhiều khi trở nên lãnh cảm với
người dân: kêu gọi tinh thần trách nhiệm một cách lạm
phát trong xã hội. Kêu gọi người làm cán bộ phải thực
sự là nô bộc của nhân dân, người làm giáo dục đừng
chỉ dừng ở mục tiêu kinh doanh giáo dục, đừng miệt mài
chạy theo thành tích và cái đẹp hình thức, kêu gọi mỗi
người dân hãy là một tình nguyện viên trong việc giữ gìn
môi trường sinh thái… Kêu gọi thì cứ kêu gọi, lên án
thì cứ lên án, nhưng dường như v?n không động đến được
trái tim và khối óc của con người, khi mặt trái của kinh
tế thị trường tác động làm cho con người trở nên ích
kỷ và thực dụng một cách thô thiển; các thông tin hàng
hóa hàng ngày luôn đạp vào mắt, rót vào tai… và ngôn ngữ
quảng cáo tạo nên những giá trị ảo trong mọi ngõ ngách
của đời sống, làm cho con người quay cuồng hơn. Chữ trách
nhiệm dường như là lời đầu môi chóp lưỡi hơn là tinh
thần sống cần phải được thể hiện cụ thể hàng ngày
của mỗi người trong các vai trò xã hội của mình.
Dẫu
muốn hay không thì mặt trái của kinh tế thị trường cũng
ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống. Nó như thiên
tai, mà thiên tai thì không thể tránh. Phương cách tốt nhất
là phòng và khắc phục. Chúng ta phòng nhưng không chống. Phòng
và khắc phục để chuyển hóa, tạo sự cân bằng để phát
triển.
Với
xã hội, phòng là xã hội hóa, làm sống dậy những giá trị
sống đạo đức, tâm linh truyền thống được cha ông chúng
ta tiếp nhận, thu thập, Việt hóa và đúc kết, được thử
nghiệm qua mấy ngàn năm lịch sử, trong nhiều hoàn cảnh và
tồn tại cho đến hôm nay. Tìm lại những giá trị căn bản
đó để định hướng xây dựng nhân cách con người Việt
Nam trong thời đại mới, lấy nó làm cái gốc của con người
Việt. Cái gốc đó chính là đạo Phật và Nho giáo. Khi có
những giá trị đó làm gốc, chúng ta sẽ tiếp nhận các luồng
tư tưởng khác mà không bị thao túng, mất phương hướng
- yếu tố tạo nên sự mất ổn định trong đời sống xã
hội. Và khi có nó, trách nhiệm đối với xã hội của con
người sẽ tự có; nó tự nhiên như khi tay chạm vào lửa
sẽ tự rút lui, con người sẽ không “xả rác” vào xã hội,
vì xã hội là môi trường sống của mình. Xã hội ô nhiễm
thì mình cũng sẽ bị ảnh hưởng xấu theo. Con người sẽ
có một sự tự điều chỉnh - cơ chế ổn định lâu dài
và căn bản từ xưa đến này.
Trách
nhiệm thường gắn với các vai trò xã hội của mỗi người
trong xã hội. Trách nhiệm là sự tự ý thức. Nói một cách
nôm na, trách nhiệm xã hội của người làm giáo dục, làm
thầy và làm thầy cho đáng làm thầy. Trách nhiệm xã hội
của người học trò là học tập và rèn luyện đạo đức.
Trách nhiệm xã hội của người làm cha mẹ là nuôi dưỡng
con cái về cả thể chất và tinh thần. Trách nhiệm xã hội
của người con đối với cha mẹ là hiếu thảo… Trách nhiệm
là tự nguyện, chứ không phải ép buộc. Mà ép buộc làm
thế nào được đối với con người. Bởi nếu ép buộc,
người ta có thể tỏ ra là có trách nhiệm, nhưng kỳ thực
thì không.
Trong
đạo Phật, trách nhiệm của người Phật tử không chỉ là
những ràng buộc đối với người ngoài qua các vai trò xã
hội mà cả đối với bản thân mình. Trách nhiệm trong Phật
giáo trước hết là đối với bản thân, mỗi người hãy
tự tu dưỡng bản thân, giảm tham, giảm sân, giảm si, rèn
luyện để phát sinh và gia tăng trí tuệ, phẩm hạnh; khi trí
tuệ càng sáng và phẩm hạnh càng dày thì tâm từ bi sẽ nảy
sinh và như thế, tinh thần trách nhiệm sẽ cụ thể và tích
cực hơn, có phẩm chất hơn. Ngôn ngữ thông thường trong
đạo Phật gọi đó là tự độ và độ tha. Hành động xuất
phát từ trách nhiệm như thế không còn là sự ràng buộc
mà tự nhiên như cuộc sống, làm việc và cống hiến như
là hơi thở chứ không vì một mục đích mưu cầu danh hay
lợi. Điều này đã được lịch sử ghi lại, trong hành trạng
các thiền sư và sự nghiệp các nhà lãnh đạo Phật tử trong
quá khứ, cả những nhà lãnh đạo cao nhất: vua. Có người
đã xem ngai vàng như đôi dép bỏ. Làm vua không phải để
hưởng thụ, mà đem tài năng của mình ra cống hiến cho đất
nước, như vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông… là vua nhưng
họ luôn cảnh giác với bản thân mình, luôn sống như một
nhà tu. Và họ đã lãnh đạo xây dựng đất nước hưng thịnh
một thời: hùng mạnh nhưng lại thuần từ.
Quá
khứ luôn là một bài học vô giá trong xây dựng và phát triển.
Quá khứ cũng như chiếc gương. Chúng ta soi vào đó để nhận
ra mình, nhận ra tính dân tộc còn sót lại trên gương mặt
mình, thấy lại bàn chân ‘giao chỉ’, chúng ta soi để biết
mình là người Việt Nam cao 1m6, nhưng cũng để thấy những
em bé sẽ có thể là Phù Đổng khi đất nước cần đến.
Soi gương như thế cũng là trách nhiệm của mỗi con người
chúng ta hôm nay.