NĂM
HỌC GIỚI
Bình
Anson
Nền
tảng của giáo lý Phật Pháp là Giới. Giữ giới là nghiêm
chỉnh tự khép mình vào khuôn khổ kỷ cương, là tác phong
đạo đức và luân lý biểu hiện qua hành động và lời nói.
Giới được xem là những quy luật tu học, những hướng dẫn
giúp ta thanh lọc tâm ý. Trong Phật giáo, giới không phải
là những điều răn cấm do một đấng thiêng liêng tối cao
nào đó đặt ra. Ðức Phật không bao giờ ra lệnh, bắt buộc
hàng đệ tử phải làm điều này, hay ngăn cấm không cho làm
điều kia. Thay vì răn cấm, Ðức Phật giảng dạy định luật
"nhân quả" và khuyên bảo chúng sinh nên sống hòa hợp với
lý "nghiệp báo". Ngài đặt ra những nguyên tắc giúp chúng
sinh nương theo đó để trau giồi đạo hạnh và tiến hóa.
Người Phật tử không bị ép buộc phải tuân hành những
điều "răn cấm", mà trái lại, hoàn toàn có tự do chọn lựa
con đường của mình. Ngài dạy rằng, chư Phật chỉ là những
Bậc Thầy (Đạo Sư) đã tìm ra con đường đưa đến giải
thoát, đã thành công thực hiện con đường đó, và có lòng
từ bi chỉ dẫn cho những ai sẵn sàng bước khao khát, ước
muốn đi trên con đường này.
1.
Tránh
xa sự sát sinh
Không
sát sinh là không cố ý cắt đứt, ngăn chặn, tiêu diệt,
hay làm trở ngại sức tiến triển của luồng sống hay năng
lực đời sống, không cho nó liên tục trôi chảy. Không sát
sinh cũng hàm ý là không làm tổn thương sự sống của bất
kể sinh vật nào, cũng không sai khiến, xúi giục, dụ dỗ
người khác làm những điều này. Trong hình thức thô sơ nhất,
hành động sát sinh gồm đủ năm yếu tố: có một sinh vật
đang sống, có sự hiểu biết rằng con vật ấy đang sống,
cố ý cắt đứt sự sống của sinh vật ấy, chú tâm cố
gắng làm cho con vật chết, và chính hành động giết hại.
Ðức
Phật dạy:
"Sợ
thay gậy gộc, gươm đao,
Yêu
thương mầm sống, khát khao cuộc đời.
Suy
lòng mình ra lòng người,
Chớ
nên giết hại hoặc xui giết người”. (Pháp Cú, 130).
Khi
bình giảng về hạnh giữ giới Ba-la-mật (Sìla Paramita) trong
quyển "Đức Phật và Phật Pháp", Hòa thượng Nàrada viết:
"Mọi
người đều quý trọng đời sống của mình. Không ai có quyền
cướp sự sống của kẻ khác. Bồ tát rải tâm Từ đến
tất cả chúng sinh, cho đến những con vật bé nhỏ đang bò
dưới chân, và không khi nào sát hại hoặc làm tổn thương
một sinh vật nào”.
Có
những phương pháp tàn nhẫn, cũng có những phương pháp mà
người ta gọi là "nhân đạo" để sát sinh. Nhưng làm đau
khổ một chúng sinh khác là thiếu lòng từ ái. Giết một
con thú đã là hành động bất chính, nói gì đến giết một
người, mặc dù nhiều lý do đã được viện ra gọi là chánh
đáng, có khi gọi là cao quý, để con người tàn sát con người."
2.
Tránh xa sự trộm cắp
Không
trộm cắp, tức không cố ý lấy, hoặc nhờ người khác lấy
vật có chủ mà chưa có sự đồng ý. Ðức Phật dạy: "Người
ấy cố tránh lấy vật gì không được cho đến mình, những
gì - dù ở giữa rừng hoang hay trong xóm làng - thuộc quyền
sở hữu của người khác, người ấy không nên lấy với
dụng ý đem về làm của riêng”. (Tăng Chi, X. 176).
"Lấy
một vật gì không được cho đến mình" ở đây có thể bao
gồm nhiều hình thức như: trộm cắp, lén lút lấy của người;
công khai lấy của người bằng vũ lực hoặc bằng cách hăm
dọa; gian lận, giả dối tráo trở, lường gạt, v.v...
Tất cả những hình thức trên đều là trộm cắp. trong hành
động trộm cắp, loại tác ý thúc đẩy người ta đến hành
động phạm giới thường là tâm tham, nhưng cũng có thể
là tâm sân, và trong mọi trường hợp, đều có tâm si.
Người
muốn giữ giới để có sự trong sạch và thanh thản nên lánh
xa mọi hình thức trộm cắp, dù là trộm cắp lộ liễu, hay
trộm cắp vi tế, kín đáo, ẩn núp dưới một hình thức
nào khác. Trái lại, người ấy luôn luôn cố gắng phát triển
những đức tính thanh bạch, liêm khiết, chân thật và chính
trực. Chẳng những không lấy của người mà cố gắng mở
rộng tâm quảng đại bố thí, đem tài sản mà mình có để
chia sẻ với người khác.
3.
Tránh xa sự tà dâm
Không
tà dâm là gìn giữ đời sống gia đình trong sạch, không lang
chạ phóng túng. Ðức Phật dạy: "Người giới đức trong
sạch cố tránh tà hạnh và cố gắng tự chế. Người ấy
không lăng loàn lang chạ với người còn sống dưới sự bảo
bọc của cha, mẹ, anh, chị, hay họ hàng, với người đã
có chồng hay vợ, với người đã hứa hôn, hoặc với người
mà xã hội không cho phép”. (Tăng Chi, X. 176).
Về
phương diện luân lý, giới này nhằm bảo vệ hạnh phúc gia
đình, không để cho người ngoài xâm phạm vào tình trạng
an lạc trong nhà, tạo niềm tin và kính trọng lẫn nhau; giới
này cũng giúp gắn chặt tình nghĩa vợ chồng. Về mặt đạo
đức, giới này giúp làm giảm thiểu năng lực tự nhiên có
chiều hướng lan rộng của dục vọng và mặt khác, tăng trưởng
đức hạnh từ khước và tự chế của lối sống thanh cao.
4.
Tránh xa sự vọng ngữ
Không
vọng ngữ, tức không nói lời giả dối sai quấy, không tạo
khẩu nghiệp bất thiện, luôn luôn có lời nói chân chính
và đồng thời trau giồi khẩu nghiệp thiện lành.
Thông
thường chúng ta có khuynh hướng xem nhẹ khẩu nghiệp, vì
hậu quả của lời nói thường không biểu hiện mạnh mẽ
tức khắc như thân nghiệp. Nhưng nếu chịu khó bình tâm suy
tư, chúng ta nhận thức được rằng, lời nói có tầm ảnh
hưởng rất quan trọng và có khả năng đưa lại kết quả
vô cùng to lớn, trong việc thiện cũng như trong điều bất
thiện. Lời nói có thể khơi dậy lòng căm thù, tiêu diệt
đời sống, gây chiến tranh, mà cũng có khả năng mở mang
trí tuệ, hàn gắn chia rẽ và đem lại thanh bình an lạc.
Nếu
con người có thể kiểm soát được khẩu nghiệp của mình
thì nhân loại chẳng những tránh được bao nhiêu phiền phức
rối ren đau khổ, mà đời sống trên thế gian này cũng được
tốt đẹp, thoải mái dễ chịu, đáng sống.
Có
bốn loại khẩu nghiệp bất thiện là nói dối, nói đâm thọc,
nói thô lỗ cộc cằn, và nói nhảm nhí. Như vậy, không vọng
ngữ là phải tránh xa bốn loại khẩu nghiệp bất thiện đó.
- Không
nói dối, mà luôn luôn nói lời chân thật. Ðức Phật dạy:
"Ở đây, người giữ giới không nói lời giả dối. Người
ấy nói lời chân thật, tận tâm sống chân thật, chắc chắn,
đáng được tín cẩn, không làm cho người khác hiểu sai sự
thật. Giữa buổi họp hay giữa đám đông, trong giới thân
bằng quyến thuộc hay ngoài xã hội, hoặc trước triều đình
khi được gọi làm nhân chứng cho một việc gì, người ấy
sẽ nói "tôi không biết" nếu thật sự không biết; và nếu
biết, người ấy nói "tôi biết". Người ấy nói "tôi không
thấy gì" nếu thật sự không thấy, và nói "tôi thấy", nếu
thật sự thấy. Như vậy người ấy không bao giờ nói lời
giả dối vì lợi ích cho mình, vì lợi ích cho một người
thân, hoặc vì bất cứ lợi ích nào”. (Tăng Chi, X.176).
- Không
nói đâm thọc, mà luôn luôn nói lời hòa thuận. Ðức Phật
dạy: "Người giữ giới này không dùng lời lẽ có tính cách
đâm thọc. Ðiều gì nghe ở đây, người ấy không lặp lại
nơi khác nhằm tạo chia rẽ. Ðiều gì nghe ở nơi khác, người
ấy không lặp lại ở đây nhằm tạo chia rẽ. Người ấy
có tinh thần đoàn kết những ai chia rẽ, và khuyến khích
những ai đoàn kết. Không khí thuận hòa là niềm vui của
người ấy. Người ấy hoan hỷ thỏa thích và phấn khởi
trong sự hòa hợp và, bằng lời nói, cố gắng gieo trồng
mầm mống thuận hòa”. (Tăng Chi, X.176).
- Không
nói thô lỗ cộc cằn, mà luôn luôn nói lời thanh tao nhã nhặn.
Ðức Phật dạy: "Người giữ giới này không nói những lời
thô lỗ cộc cằn. Người ấy chỉ thốt ra những lời dịu
hiền, thanh nhã, dễ mến, những lời thành thật và lễ độ,
thân hữu và làm vui lòng nhiều người”. (Tăng Chi, X.176).
Và:
"Đừng
nên mở miệng nói câu,
Cộc
cằn, ác độc khiến đau lòng người,
Người
ta cũng nói trả thôi,
Những
lời độc địa muôn đời khổ thay!
Lời
qua tiếng lại đắng cay,
Như
bao dao gậy phạt ngay thân mình”. (Pháp Cú, 133).
- Không
nói nhảm nhí, mà chỉ nói những lời hữu ích. Ðức Phật
dạy: "Người giữ giới này không nói lời nhảm nhí vô ích.
Người ấy nói đúng lúc, đúng như sự việc xảy ra, nói
những lời hữu ích, nói về Giáo Pháp và Giới luật. Lời
nói của người ấy là một kho tàng, thốt ra đúng lúc, hữu
lý, hòa nhã, và đầy ý nghĩa”. (Tăng Chi, X.176).
Lời
nói nhảm ắt vô ý nghĩa, nông cạn, và không dẫn đến lợi
ích nào. Những lời lẽ như thế ấy chỉ khơi động vọng
tâm, Ðức Phật khuyên nên hạn chế những ngôn từ thuộc
loại này.
Người
nghiêm túc giữ giới không vọng ngữ là người không nói
lời nhảm nhí vô ích. Không phải nói nhiều mà chứng tỏ
rằng mình học rộng biết xa. Cũng không phải nói nhiều mà
tạo nhiều lợi ích cho mình hoặc cho người khác. Ngài dạy:
"Dù
ngàn lời nói với nhau,
Nếu
đều vô nghĩa, ích đâu cho đời,
Chẳng
bằng chỉ nói một lời,
Đầy
đủ nghĩa lý, mọi người mừng thay,
Nghe
xong, tâm tịnh lạc ngay”. (Pháp Cú, 100).
5.
Tránh xa sự dể duôi uống rượu và các chất gây say, gây
nghiện
"Không
dùng chất gây say" là không uống rượu và không dùng bất
kể chất say, gây nghiện nào, như dùng ma túy và các chất
tương tự chẳng hạn, có thể làm cho trí óc mất sáng suốt.
Mặc dù uống chút rượu không đến đỗi là một tệ hại,
nhưng trong đa số các trường hợp, người uống rượu không
biết đến lúc nào phải ngừng, và khi đã quá chén rồi thì
mất lý trí, không còn kiểm soát được lời nói và hành
động của họ. Từ đó, người say sưa có thể phạm bất
cứ giới nào khác, dẫn đến hủy hoại nhân cách mà bình
thường họ vẫn cố gắng gìn giữ.
Trên
đây là năm giới căn bản mà mỗi người Phật tử thường
tự nguyện giữ gìn trong đời sống của mình một cách nghiêm
túc. Người giữ gìn trong sạch năm giới này là một phước
lành cho những ai sống quanh người ấy, mà cũng tạo nghiệp
thiện cho chính mình. Người ấy sẽ tái sinh vào những cảnh
giới nhàn lạc và thọ hưởng quả lành.
Nghiêm
túc giữ giới còn có nghĩa là bố thí vô úy - bố thí sự
an toàn, tình trạng không lo sợ đến cho người khác. Không
ai thích sống chung với những người ăn nói giả dối, thô
lỗ cộc cằn, với hạng người sát sinh, trộm cắp, lăng
loàn, say sưa hư hỏng. Gần họ, ta không cảm thấy an toàn,
phải luôn luôn lo sợ, lúc nào cũng phải đề phòng. Trái
lại, ta thích ở gần những người có giới đức, vì những
người này không làm cho mình lo âu, sợ sệt. Người giữ
giới trong sạch mang đến trạng thái an toàn cho những ai sống
quanh mình.
Tóm
lại, người Phật tử nghiêm trì giới luật qua hai mặt: thụ
động và chủ động. Về mặt thụ động, trì giới là không
tạo nghiệp ác qua lời nói lẫn hành động, và ngăn chặn
các tư tưởng xấu, tiêu cực trong tâm ý. Về mặt chủ động,
giữ giới là tạo thêm nghiệp thiện, phát triển tâm ý tốt
lành, nhằm tạo điều kiện và hoàn cảnh thuận lợi, hỗ
trợ ta có sự bình an, hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại,
góp phần xây dựng môi trường sống tốt đẹp, văn minh;
xa hơn, giúp người Phật tử tiến đến sự giác ngộ giải
thoát.