Ký
sự văn hóa
Đi
dọc dòng sông Phật giáo (kỳ
2):
MỘT
THOÁNG CHÙA CHIỀN Ở YANGON
Trần
Đức Tuấn
Yangon
là một thành phố xinh đẹp và thanh bình, có rất nhiều công
viên, cây xanh; có hồ nước lớn; và đặc biệt có sông Irrawaddy,
dài 2.100 cây số, chảy từ Tây Tạng vào, được gọi
là dòng sông Phật giáo của xứ này, vì dọc hai bờ
có vô vàn đền đài thờ Phật, với hàng loạt trung tâm văn
hóa Phật giáo và kinh đô của các bậc đế vương tôn sùng
đạo Phật…
Đền,
Chùa và Tu viện
Thông
thường chúng ta hiểu chùa (Pagode - tiếng Pháp) là nơi thờ
Phật, đền (Temple) là nơi thờ Thần linh, tu viện (Monastère)
là nơi tu hành của các tu sĩ.
Về
kiến trúc, chùa, đền là những ngôi nhà hoặc quần thể
các ngôi nhà, trong đó người ta bày các bàn thờ, các bức
tượng và nhiều đồ thờ để tín đồ hoặc dân chúng vào
cúng lễ, triều bái; tu viện là những khu nhà biệt lập,
trong đó người ta tiến hành công việc giảng dạy, học tập,
tu rèn để trở thành tu sĩ hoặc là nơi để các tu sĩ hành
đạo. Riêng đạo Phật ở các nơi theo truyền thống Đại
thừa, Nguyên thủy hoặc Tạng truyền, phần lớn các tu viện
đồng thời là các chùa, có nghĩa đó vừa là nơi thờ Phật
vừa là nơi tu hành. Cũng có nơi, một số các tu viện không
phải là các ngôi chùa mà chỉ là nơi tu hành như các tu viện
Tạng truyền ở Trung Quốc; mỗi tu viện như thế có từ 500,
1.000 đến 3.000 tu sĩ Phật giáo.
Trên
miền đất Phật ở Miến Điện, nhiều khái niệm trên đây
rất khác lạ và khá độc đáo. Chúng ta sẽ lần lượt xem
xét từng loại một:
Đền:
Đó là nơi thờ cúng Đức Phật giống như các ngôi chùa ở
ta, thường là một quần thể nhiều hạng mục, có quy mô
kích cỡ khác nhau. Những ngôi đền mà chúng tôi tới thăm
phần lớn là đồ sộ, hùng vĩ và tráng lệ, được xây cất
rất công phu; có ngôi đền lớn như một quả đồi. Trong
đền có nhiều hành lang, nhiều gian điện thờ; Phật tử
có thể đi lại hoặc lễ bái. Tóm lại, đó là một kiến
trúc rỗng lòng, bên trong bày nhiều tượng Phật. Các ngôi
đền có thể được xây theo hình Tháp hoặc không, hoặc xung
quanh công trình chính có những ngôi tháp nhỏ.
Chùa:
Chùa là một khối kiến trúc đặc (không rỗng lòng như đền),
thường là một ngôi Tháp lớn, cao ngất, chân Tháp có những
hang nhỏ hình chữ nhật, bên trong đặt tượng Phật. Chùa
không có điện thờ, hành lang, Phật tử muốn lễ Phật chỉ
có thể đi quanh chân Tháp chiêm bái trước các tượng Phật
trong các hang. Những ngôi chùa lớn như Shwe Dagon (chùa vàng)
ở Yangon, để có nhiều chỗ cho Phật tử cúng lễ, chiêm
bái, người ta đã xây trong khuôn viên chùa, quanh chân ngôi
Tháp lớn tới 72 ngôi đền nhỏ bằng đá thờ tượng Phật
và hàng trăm đơn thể kiến trúc phụ khác bày tượng Phật
lớn bên trong.
Có
những trường hợp ngoại lệ mà chùa là một khối kiến
trúc rỗng lòng giống như đền. Đó là những ngôi chùa của
người Shan, một dân tộc gốc Thái nổi tiếng của Miến
Điện; trong đó có ngôi chùa rỗng lòng tên là Bô ta ta Ung
ở Yangon, duy nhất có thờ tóc Phật.
Cả
đền và chùa đều không có sư, chỉ là nơi để Phật tử
tới cúng lễ, chiêm bái. Những người trông coi đền, chùa
đều là dân thường.
Tu
viện: Đây không phải nơi cúng lễ, chiêm bái của Phật tử,
chỉ là nơi tu hành của các nhà sư. Toàn quốc có khoảng
5.000 tu viện, riêng Yangon có 500. Các nhà sư ở tu viện muốn
lễ bái Phật thì tới các đền, chùa. Có một chi tiết hết
sức lý thú, đó là, nếu một ngôi đền, một ngôi chùa,
thậm chí một cung điện nào đó có một vị sư tới ở hoặc
trông coi thì lập tức được gọi là tu viện. Ví dụ tại
bang Shan có một ngôi chùa Shan (rỗng lòng) tên là Wat In được
gọi là “chùa Tu viện” chỉ vì ở đây đã từng có một
số nhà sư cư ngụ. Hoặc cung điện toàn bằng gỗ tếch của
vua Thi Bo ở Mandalay cũng được gọi là tu viện chỉ vì đã
từng có một nhà sư tới ở ít lâu.
Thăm
chùa và tu viện ở Yangon
Yangon
là một thành phố xinh đẹp và thanh bình, có rất nhiều công
viên, cây xanh; có hồ nước lớn; và đặc biệt có sông Irrawaddy,
dài 2.100 cây số, chảy từ Tây Tạng vào, được gọi
là dòng sông Phật giáo của xứ này, vì dọc hai bờ có vô
vàn đền đài thờ Phật, với hàng loạt trung tâm văn hóa
Phật giáo và kinh đô của các bậc đế vương tôn sùng đạo
Phật. Sông Irrawaddy khi chảy tới vùng châu thổ thì chia ra
thành khoảng 20 nhánh (như 9 nhánh Cửu Long ở nước ta), và
một trong những nhánh đó chảy qua Yangon với hàng trăm, hàng
ngàn ngôi đền chùa lộng lẫy, hàng trăm tu viện lớn nhỏ
nằm ở ven bờ. Ngoài ngôi chùa Vàng vĩ đại Shwe Dagon, chúng
tôi còn đi thăm thêm một số ngôi chùa nổi tiếng khác như:
- Chùa
Thích Ca Mâu Ni: chùa có một hành lang rất lớn, sâu rộng,
lúc nào cũng đông nghịt Phật tử cúng bái, dán vàng lá lên
tượng Phật. Trong chùa có gian trưng bày các tượng đồng,
vốn là chiến lợi phẩm do vua Miến khi chinh phục Angkor (Campuchia)
mang về. Đây là ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng trong thiên
hạ.
- Chùa
Sule: Đây là một lâu đài tráng lệ nằm cạnh Tòa Thị
chính, Tối cao pháp viện và một nhà thờ Thiên chúa giáo.
Ban đêm, khi có ánh đèn pha chiếu vào, Sule bừng lên một
vẻ đẹp lung linh huyền ảo, lộng lẫy không kém gì chùa
vàng Shwe Dagon. Đến giờ tắt đèn pha, các Tháp vàng Sule chìm
vào đêm tối cho tới khi bình minh ló rạng mới lại xuất
hiện trên nền trời xanh biếc. Sự lặp lại chu kỳ như vậy
tạo nên một cảnh tượng vô cùng huyền bí, ẩn ẩn hiện
hiện, thâm nghiêm ngay giữa kinh thành.
- Chùa
Bô ta ta Ung: Với 2.000 năm tuổi, Bô ta ta Ung là ngôi chùa
duy nhất rỗng lòng và có trưng bày tóc Phật mà không cất
dấu trong chân Tháp. Thế chiến II, quân Anh ném bom làm sập
chùa. Năm 1958, người ta khai quật, tìm thấy một tảng đá
hình nón, bên trong chứa một chiếc hộp đựng tóc Phật.
Chùa được xây dựng lại, còn tóc Phật được trưng bày
trong tủ kính cho mọi người chiêm bái, không cất vào tảng
đá hình nón nữa. Theo tài liệu ghi chép thì một ngàn lính
Myanmar đã hộ tống xá lợi (tóc) Phật từ Ấn Độ về.
Tại gian điện chính có 16 góc tịnh tâm để Phật tử hoặc
các nhà sư ngồi “tịnh tâm niệm Phật”. Đây là 16 góc
đồng quy, như 16 cánh hoa sen cùng hướng về điểm giữa -
một cấu trúc đặc biệt gây ấn tượng, đầy gợi cảm
và bí ẩn, đảm bảo cho người tịnh tâm thật sự yên tĩnh,
không bị phân tâm, rất hợp với không khí thiêng liêng, tôn
kính.
- Chùa
Phật Động: Đây là ngôi chùa của người Hán, rỗng lòng
nhưng cũng thờ tượng Phật dát vàng như chùa Miến, nằm
ngay cạnh Shwe Dagon. Chùa có hồ nước nuôi cá cảnh. Cuối
tháng Tư hàng năm, người ta bắt cá từ sông Irrawaddy đem
về thả vào hồ, nuôi để làm phúc. Phật tử mua thức ăn
bán sẵn tại chùa ném xuống cho cá. Hàng ngàn con cá vàng
đủ màu sắc, lớn cả ký, bơi lượn đớp mồi tạo nên
một cảnh tượng ngoạn mục nổi tiếng của “Phật Động”.
Đây là ngôi chùa có lối điêu khắc gỗ điển hình ở Yangon
do các nghệ nhân được thuê từ Trung Quốc sang thực hiện.
Trong chùa có một tượng Phật bằng đồng cao 21 Fis nặng
1 tấn, là phiên bản của một tượng Phật ở Mandalay có
từ cách đây 2.600 năm. Hoa văn trong chùa do người Trung Quốc
làm theo kiểu Myanmar.
- Tu
viện Kalaywa: Đây là một tu viện tương đối lớn ở
Yangon, có gần 1.300 tu sĩ, gồm gần 1.000 Tăng và 300 Ni, Tăng
mặc cà sa màu nâu đỏ, Ni mặc áo màu hoa đào. Khu Tăng xá
của Tăng và Ni riêng biệt nhưng cũng ở gần nhau. Tu viện
nhận nuôi trẻ từ 7 tuổi trở lên, dạy Phật học cùng các
môn học khác như ở trường bên ngoài, cho tới hết phổ
thông Trung học thì ra khỏi tu viện để thi vào đại học
hoặc vào đời. Phần lớn tu sĩ là con nhà nghèo nên tu viện
chính là chỗ dựa quan trọng của tầng lớp bình dân trong
xã hội. Việc đóng góp cho tu viện là hoàn toàn tự nguyện,
có thể bằng tiền, hiện vật hoặc lương thực thực phẩm.
Nguồn của cải vật chất để duy trì hoạt động của tu
viện bao gồm đóng góp của gia đình các tu sĩ (không bắt
buộc), Phật tử tự nguyện ủng hộ và tu sĩ đi khất thực
hàng ngày. Đúng 6 giờ sáng toàn bộ 1.000 sư Tăng ra đường
xếp thành hàng chia thành nhiều tốp đi khất thực. Sư Ni
không phải đi khất thực. Sư Tăng con nhà giàu được miễn
việc này (vì gia đình họ đã đóng góp rất lớn cho tu viện).
Khoảng 10 giờ, tất cả đều trở về tu viện, 11 giờ ăn
cơm trưa. Ai xin được thứ gì ăn thứ đó (gồm cơm và đồ
ăn), thiếu thì lấy thêm cơm hoặc đồ ăn phụ thêm của
nhà bếp. Mỗi ngày chỉ ăn một bữa nên thường họ ăn khá
nhiều để còn có thể nhịn suốt 23 giờ tiếp theo. Trước
khi ăn, toàn thể phải đọc kinh khoảng 10 phút. Buổi chiều
(13 giờ) lên lớp học văn hóa; Tăng Ni học chung. Tu viện
Kalaywa mà chúng tôi tới thăm phần lớn tu sĩ là trẻ em dưới
15 tuổi, số ít dưới 18 tuổi, không khí rất vui vẻ, các
em hết sức hồn nhiên, ngây thơ và hào hứng tiếp thu các
kiến thức Phật giáo. Nhà bếp của tu viện không đi mua đồ
ăn mà dựa vào việc Phật tử mang tới hằng ngày. Tu sĩ Phật
giáo ở đây không ăn chay mà có thể ăn thịt cá tùy ý
Về
mặt kiến trúc, tu viện giống như một trường nội trú hơn
là một trung tâm tín ngưỡng. Cả đất nước có khoảng nửa
triệu đền, chùa và tu viện (5.000 ngôi), trong đó 85% là đền,
10% là chùa còn 5% là tu viện. Tu viện lớn nhất (ở thành
phố cố đô Mandalay) có khoảng 3.000 vị sư.
Rất
may cho đoàn làm phim là tình cờ chúng tôi gặp được hai
đám rước lễ xuống tóc cho người đi xuất gia. Đám rước
thứ nhất là một đoàn xe Taxi với một số xe lớn mui trần
có cờ, hoa, biểu ngữ và ban nhạc tấu vang trên đường từ
nhà tới chùa. Tại chùa, người ta làm lễ theo những thủ
tục quy định, sau đó nhà sư tương lai được đưa từ chùa
đến tu viện. Lễ xuống tóc được tiến hành tại tu viện.
Sau 7 ngày, tu sĩ mới được phát y phục nhà tu. Đám rước
thứ hai không phải bằng xe hơi mà bằng ngựa. Tu sĩ tương
lai dù đi xe hơi hay ngồi trên lưng ngựa cũng đều mặc trang
phục cực sang như hoàng tử và công chúa. Riêng đám rước
đi ngựa tiến hành trong hai ngày, được gọi là “đi theo
dấu chân hoàng tử trước khi đắc đạo thành Đức Phật
tổ”. Một đám rước bằng xe hơi tốn khoảng 400 USD, bằng
ngựa tốn khoảng 1.000 USD. Những gia đình thật giàu có thể
tổ chức lễ rước bằng voi rất tốn kém. Dù rước bằng
xe hơi, ngựa hoặc voi cũng chỉ những gia đình khá giả mới
kham nổi. Đại bộ phận dân chúng nghèo thường lặng lẽ
âm thầm đưa con tới chùa, cử hành vài nghi lễ giản dị
rồi đưa đến tu viện…
Kỳ
tới:
- Tục
dán vàng lá lên tượng Phật.
-
Nghề đúc tượng và tạc tượng Phật.
-
Những pho tượng Niết bàn khổng lồ.
-
Đường lên đỉnh núi đá vàng thần bí.
-
Tam giác vàng huyền bí và dấu ấn Phật giáo.