Tin
nhắn, gửi thế hệ 8x:
DIỆU
ÂM VŨ TRỤ
Viên
Dung
Liếc
qua ô bên cạnh, tôi thấy một em gái (8x) đang “chát” hồn
nhiên… với cái nickname thời thượng sếnh rệnh “ngoisaocodontrongdem”.
Và thật hồn nhiên… “kinh dị”, em đang “mổ cò” một
phím số bằng một ngón cái của bàn tay trái bẻ quặt lại.
Bất chợt tôi sững sờ, nhớ mang máng một ý văn thấu thị
của Nguyễn Huy Thiệp: “Có ai dạy họ gì đâu! Thương lắm!
Tội lắm!” Sao không ai dạy chi cho họ? Sáng trưa chiều tối,
họ vẫn nhộn nhịp ôm vở “chạy xô” đi học kia mà…
Câu
chuyện sau đây giống như một cái giếng cổ bị che lấp
dưới cỏ, qua bao hưng phế của cuộc đời, tình cờ một
hôm nào đó có người phát hiện ra. Nhìn xuống đáy giếng
sâu, chỉ thấy một lớp xanh rêu hoang phế. Nhưng khi vét sạch
giếng, thì kì diệu thay, một khoảng trời xanh mây trắng
trong trẻo hiện ra. Như tâm hồn ta qua bao mê loạn của thời
đại… ảo… ẩu... ào… ủa… ùa… ụa… úa…, bỗng
một ngày trẻ lại, thanh tân.
Ngày
xưa, có một vị đại thần bị thất sủng. Vua ra lệnh nhốt
ông ta trên tầng chót của một tháp thật cao để trừng phạt,
bỏ đói cho đến chết. Vợ ông tìm đến trong đêm tối,
hỏi làm cách nào để cứu ông. Ông dặn bà hôm sau hãy trở
lại với một cuộn dây thừng, một cuộn dây nhợ, chỉ to,
và tơ. Đêm sau bà đến, ông bảo bà cột sợi tơ vào con
bọ hung, thoa trên râu của nó một ít mật, rồi để nó trên
tường, đầu hướng lên trên. Bọ hung đánh hơi mùi mật
ở trước đầu nên cứ bò thẳng lên để tìm mật. Sau cùng
nó lên tận tầng chót. Viên đại thần bắt lấy nó và nắm
sợi tơ, bảo vợ cột sợi chỉ to vào sợi tơ, kéo lên, nắm
lấy sợi chỉ, cứ thế lần lượt kéo sợi nhợ, dây thừng
lên. Công việc còn lại thật dễ dàng, ông nắm dây thừng
tuột xuống và đào tẩu…
Kì
diệu thay những sợi dây thần! Nắm được một sợi tơ mong
manh nhỏ bé, ta kéo được một sợi chỉ, rồi một dây nhợ,
rồi ta nắm được một dây thừng to, to hơn cuối cùng ta
làm chủ được cuộc đời. Ngày xưa ông Trình Di có một
cách luyện tâm như sau: Ông để trên bàn một cái lọ thủy
tinh. Cứ mỗi lần làm hay nghĩ một việc xấu thì bỏ một
hạt đậu đen vào lọ. Ngược lại, hễ có một việc hay
ý nghĩ tốt thì bỏ vào lọ một hạt đậu trắng. Giai đoạn
đầu, ông hoảng loạn vì thấy trong lọ đậu đen nhiều quá.
Thế là ông hạ quyết tâm tu sửa mình, cố làm và nghĩ cho
thật nhiều việc thiện. Sau một thời gian, cái lọ trắng
dần và cuối cùng những vết đen chìm mất giữa một màu
trắng tinh khiết.
Mỗi
hạt đậu hay một sợi tơ nhỏ, giống như một ý nghĩ, hành
vi nhỏ nhặt mà ta làm hàng ngày. Nhưng những cái có vẻ nhỏ
nhặt đó dần dần sẽ huân tập vào tiềm thức tạo thành
một nếp nghĩ, định kiến; biểu hiện ra một thói quen tốt
- xấu, tệ hơn nữa là một dạng nghiện ngập (chất gây
nghiện, các trò chơi, hình ảnh, âm thanh… từ đó tinh thần
bị lệ thuộc vào: nhu cầu, bản ngã, thần tượng của mình…).
Dần dần, một tính cách định hình, tính cách ấy có thể
là tốt, lành mạnh hay xấu xa bệnh hoạn. Và, nhân nào quả
ấy, ta đã và đang tự tạo nghiệp cho mình. Nói như kinh Phật
“Nghiệp lực dẫn ta đi trong luân hồi”. Ta tự tạo ra một
số phận cho chính mình chứ không phải từ một quyền năng
nào khác ngoài ta. Đúng như câu ngạn ngữ Ấn Độ: “Gieo
một hành vi gặt một thói quen; gieo một thói quen gặt một
tính cách; gieo một tính cách gặt một số phận”…
Sau
khi trốn thoát bằng dây thừng, vị đại quan đào tẩu trên
một con thuyền, vượt biển ra khơi. Oái ăm thay, giữa biển
cả mênh mông, một cơn bão khủng khiếp nổi lên. Không còn
sợi dây hữu hình nào có thể cứu ông. Trong cơn thập tử
nhất sinh, ông chỉ còn biết quỳ xuống khẩn thiết niệm
danh hiệu Quan thế âm Bồ tát. Và kì diệu thay, sóng yên biển
lặng! Con tàu đã vượt qua cơn ách nạn khủng khiếp một
cách lạ lùng.
Những
sợi dây trên chỉ là phương tiện giúp ông ta thoát khỏi
ngục tù hữu hình, nhưng không thể cứu vớt ông ra khỏi
bể khổ trầm luân. Trong cơn khổ nạn, ông ta chỉ còn biết
cầu nguyện. Khi ông ta quỳ xuống, cái “ngã” Đại thần
đã tiêu tan, không còn một mưu toan phục thù, hay mộng tưởng
tranh bá đồ vương nào nữa. Nhất tâm bất loạn, ông hòa
nhập vào từng chữ của dòng kinh.Và sự diệu dụng của
Danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm đã giải thoát ông qua khỏi
kiếp nạn.
Thưa
bạn, câu chuyện trên nghe có vẻ như huyền bí, bạn sẽ hỏi
Bồ tát Quán Thế Âm là ai, có tồn tại thật không? Và tại
sao, chỉ một câu kinh lại có thần lực phi thường như thế?
Thực ra, nếu hiểu Quán Thế Âm như một ngôi vị, một vị
thần “bảo hộ” có thể thi ân giáng họa thì thật là
ấu trĩ. Và nếu nghĩ lời cầu kinh như là sự cầu mong kiểu
thực dụng theo kinh tế thị trường (có kẻ xin và người
cho) thì cũng không đúng. Bởi bản chất tâm linh là phải
trở thành cái mà chúng ta hướng đến một cách mãnh liệt.
Khi ta cầu nguyện với tâm bất loạn thì ta nhập vào câu
kinh, và cái ngã nhỏ bé của ta viên dung với toàn thể pháp
giới. Danh hiệu Quán Thế Âm là một thần chú diệu dụng,
là một siêu năng lượng bàng bạc trong vũ trụ, siêu cảm
ứng với những thiện nguyện tha thiết, bất khả tư nghị.
Sống với danh hiệu ấy, cần phải có một đức tin tịch
lặng thuần khiết (không phải mê tín) thay vì những triết
luận ồn ào. Danh hiệu ấy như một mã mặc định siêu liên
kết …, như một “thực tại ảo”, nhưng nhiều vấn đề
thực tiễn của con người lại có thể được giải quyết
nhờ vào đó. Nhờ danh hiệu đó, ta tìm được nghiệm thực
của phương trình bậc ba (nhưng mọi so sánh đều khập khiểng!)…