.
..SỐ 08 -THÁNG 9, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 08-THÁNG 9, 2005

 

 

AMARTYA SEN, 
NHÂN CHỨNG TỪ BÊN TRONG
Quán Như

Amartya Sen - người được giải Nobel về kinh tế năm 1998 - hiện là Giáo sư kinh tế tại Đại học Harvard. Ông là một nhà kinh tế "đúng nghĩa" qua nhận xét của các đồng nghiệp, khi những lý luận của ông được viết ra với tư cách là nhân chứng từ bên trong. Ông đã nói về những giả định nền tảng của kinh tế như: động lực tư lợi, tính hợp lý và khoa học của kinh tế học. Đây đích thực là luận cứ của người "trong cuộc", hay nói theo ngạn ngữ Tây phương "the horse’s mouth". Dĩ nhiên, các nhà kinh tế muốn bỏ ngoài tai những lời chỉ trích của những ai không phải là "kinh tế gia".  
 
Có mấy điểm đáng chú ý về Amartya Sen: Ông là người gốc Ấn Độ, Giáo sư về kinh tế và triết học, Chủ tịch Hội Kinh toán, Hội Kinh tế gia Ấn - Mỹ, và Hội Kinh tế toàn cầu. Cũng như các nhân vật nổi tiếng ở Ấn, ông là sản phẩm của nền giáo dục Anh (ĐH Cambridge). Sen là chuyên gia về kinh tế phát triển và kinh tế an sinh. Ấn Độ, dù độc lập đã hơn nửa thế kỷ, nhưng phần lớn người dân hiện nay vẫn chưa được hưởng tiện nghi kinh tế tối thiểu. Cho nên chẳng ai lấy làm lạ khi thấy Amartya Sen viết nhiều về nguyên do bất bình đẳng: Bất Bình Đẳng Kinh Tế (On Economic Inequality - 1973, 1997), Nghèo Đói (Poverty and Famines), Tài Nguyên, Giá Trị và Phát Triển (Resources, Values and Development - 1984) Duyệt Xét Lại Bình Đẳng (Equality Reexamined - 1992) và hai tác phẩm "giải hoặc" luận điệu của nhóm kinh tế Tân Cổ Điển - Neocons - về động lực tư lợi và tính hợp lý của kinh tế học: Phát Triển như là Tự Do (Developmemt as Freedom - 1999) và Lý Tính và Tự Do (Rationality and Freedom - 2002). Phần lớn tài liệu và lập luận trong bài này đều dựa trên lập luận của Amartya Sen trong cuốn Bàn Về Đạo Đức và Kinh Tế (On Ethics and Economics - 1987).  

Đường đi không hai

Cha đẻ của kinh tế tư bản, John Stuart Mill, trong cuốn Principals of Political Economy, đã cảnh báo rằng, người nào muốn đi vào ngưỡng cửa kinh tế thì phải bỏ lại bên ngoài tất cả tình cảm cá nhân, và bao giờ cũng phải ghi nhớ động lực "nguyên chất, giản dị và cứng rắn" của các hoạt động kinh tế đã được tôn sùng từ thời Adams Smith: tìm mọi cách tăng tối đa lợi tức cho mình. Con người kinh tế là con người "có thực", không phải là triết nhân sống trên mây hay như hiền giả sống ở thời rạng đông của lịch sử. Tuy nhiên, các nhà kinh tế Tân cổ điển chỉ muốn nhớ những nguyên tắc nào của Adam Smith có thể biện minh cho lý thuyết tự do cạnh tranh mà họ theo đuổi, bỏ quên những yếu tố đạo đức trong cuốn The Wealth of Nations, và cố tình quên rằng Smith là Giáo sư đạo đức, triết học tại Đại học Glasgow, trong  khi môn kinh tế lúc đó được dạy ở Đại học Cambridge như là môn "khoa học về đạo đức"!  

Kinh tế càng ngày càng chiếm địa vị quan trọng trong các trường đại học cũng như trong đời sống quốc gia, trở thành một khoa học độc lập với triết học trong "khoa học xã hội". Đến năm 1930, trong tác phẩm An Essay on the Nature and Significance of Economic Science, Lionel Robbins tuyên bố chính thức "đoạn tuyệt" với triết học, và nhất là với nguyên tắc đạo đức.  

Có hai nguồn ảnh hưởng quan trọng của kinh tế và cả hai đều liên hệ mật thiết với chính trị theo định nghĩa của Aristote, dù theo hai hướng khác nhau. Khuynh hướng đầu xem kinh tế, cũng như bất cứ một khoa học nào khác, chỉ là một phương tiện phục vụ đời sống tập thể, cộng đồng hay quốc gia. Trong thời khai nguyên của lịch sử, vài trăm năm trước và sau Tây lịch, thời mà Đức Phật gọi là thời chánh pháp được truyền bá rộng rãi, Aristote đã viết trong tác phẩm Politics, xem chính trị là khoa chủ yếu mà ông gọi là "the Master Art". Chính trị phải tìm cách tận dụng những "khoa học" khác, trong đó có kinh tế. Cũng như các hiền triết thời Trục, Aristote nói rất rõ về điểm này: “Tích tụ tài sản không phải là mục tiêu mà chúng ta tìm kiếm; tài sản chỉ có ích khi được sử dụng vào mục đích khác”. Trong chương trước, chúng tôi có nhắc đến câu hỏi tổng quát của Aristote, liên hệ không những với kinh tế mà còn liên hệ đến đạo đức và tôn giáo: “Chúng ta nên sống đời ta như thế nào?” Thái độ này, theo Amartya Sen, tương phản với động cơ hạn hẹp về tư lợi mà kinh tế hiện đại luôn luôn nhấn mạnh. 

Vấn đề đạo đức thứ hai liên hệ đến quyền lợi cộng đồng, dù được định nghĩa như thân nhân, láng giềng, đồng bào hay nhân loại. Aristote phát biểu rõ ràng về điểm này trong Nicomachean Ethics: "Làm lợi cho một cá nhân là một điều tốt, nhưng tốt hơn nữa là đóng góp cho công ích của một tập thể hay quốc gia". Vào thời các hiền nhân, trong lúc rạng đông của lịch sử Đông cũng như Tây, công ích tập thể bao giờ cũng được đem ra làm tiêu chuẩn đo lường mọi hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động kinh tế.  

Nguồn thứ hai để ý đến hiệu năng của các hoạt động kinh tế, đặt những mục tiêu như tăng hiệu năng công nhân, giảm chi phí sản xuất, kiểm soát tiền tệ.v.v..., và tìm ra mô thức thực hiện các mục tiêu đó. Đây là cơ sở tiếp liệu, kỹ thuật điều động các phương thức sản xuất, cổ động, tiêu thụ, cũng như tăng trưởng. Các "chuyên viên" kinh tế không để ý tới những yếu tố phi kinh tế, như phung phí tài nguyên, tổn hại môi sinh, sự tan rã trong mối liên hệ cá nhân, gia đình hay xã hội. Thí dụ như Chính phủ Úc (2005) đề nghị thay đổi luật lao động để có thể cạnh tranh hữu hiệu với lao động của các nước khác. Trong tương lai, công nhân phải chấp nhận những kỹ thuật để làm tăng hiệu năng, làm việc nhiều giờ hơn bằng cách đổi ngày nghỉ hăng năm và giờ ăn trưa thành tiền. Hậu quả là công nhân về nhà chỉ có đủ thì giờ để ngủ, không còn thì giờ để nhìn mặt hay gần gũi vợ con, không có một cuộc sống gia đình bình thường, chỉ vì Chính phủ Úc muốn nhân công có thể cạnh tranh trên thị trường nhân dụng thế giới. Một thành quả mà lao động quốc tế phải tranh đấu hàng thế kỷ mới đạt được, đó là thời gian lao động tối đa là 40 giờ mỗi tuần, không cánh mà bay, lẳng lặng biến mất. Số giờ làm việc trung bình của công nhân hiện nay ở Úc là 50 giờ. Làm thể, con người sinh ra như chỉ để làm việc, kiếm tiền. Hiện có phong trào, tuy còn trong giai đoạn phôi thai, bỏ các công việc căng thẳng và làm việc nhiều giờ để tìm các công việc ít lương hơn nhưng ít ra cũng có đời sống gia đình bình thường. Phong trào này được gọi là "Downsizing", do những viên chức quản lý cao cấp khởi đầu, lý do giản dị vì họ là những người có bằng cấp cao, kinh nghiệm nhiều, nên có thể thay đổi công việc dễ dàng. Các công nhân lao động trong các xưởng sản xuất không có cơ hội thay đổi công việc nên vẫn tiếp tục "cày" năm, sáu chục giờ mỗi tuần để cạnh tranh với lao động thế giới!  

Vai trò của các chuyên viên kinh tế càng ngày càng trở nên quan trọng vì các mô thức kinh tế đã làm tăng hiệu năng lao động, sản xuất, tiếp thị. Các nhà tâm lý được vận dụng vào kỹ nghệ quảng cáo để quyến rũ "tín đồ". Ngay cả trong siêu thị, các nhà tâm lý nghiên cứu thói quen của phụ nữ và trẻ em trong khi mua thức ăn. Kệ trên cao để hàng gì, kệ dưới để hàng gì, kệ nào vừa tầm trẻ em thì phải để món hàng nào. Các nhà tâm lý này biết rằng khi các em đòi mua bánh kẹo trong siêu thị, ít có cha mẹ nào nỡ lòng từ chối. Đó là chưa kể "đạo quân trừ bị" khổng lồ trong kỹ nghệ quảng cáo. Thường chúng ta hay nói các đài truyền hình không phải trả tiền. Ở một xã hội ca tụng tư lợi, vinh danh lòng tham lam, không làm gì có chuyện "ăn trưa không trả tiền". Người tiêu thụ chính là những người trả tiền điều hành và tiền lời hàng năm cho các tổ hợp truyền hình. 

Ngay từ thế kỷ XVII đã có những chuyên viên  kinh tế, như Sir William Petty, đã áp dụng toán học để tăng hiệu năng của các hoạt động kinh tế. Nhưng đến thế kỷ XX, khuynh hướng kỹ thuật lấn áp hoàn toàn. Trong số các giải Nobel về kinh tế từ lúc bắt đầu (1969) đến năm 1996, số lượng các nhà kinh tế Mỹ (kể cả những người nhập quốc tịch Mỹ) là 24 trên 40, phần lớn là chuyên viên về kinh toán. Kinh toán dùng phương pháp thống kê và phân tích toán học về các mối liên quan của các hoạt động kinh tế. Các nhà kinh tế Âu châu, cụ thể là Anh, phần lớn xem kinh tế như một phần của bối cảnh lịch sử thay vì như một khoa học độc lập (như các chuyên viên kinh toán mong muốn). Một kinh tế gia Anh, đồng hương của Smith, Sir John Hicks, và một số kinh tế gia người Đức, có khuynh hướng nghiêng về kinh tế hoạch định, hơn là chính sách tự do mậu dịch của các neocons Mỹ. Sự tương phản vẫn còn căng thẳng cho đến nay, mặc dù hai bên đều đồng ý quá trình toàn cầu hóa. 

Một điều lý thú là Amartya Sen có nhắc đến một quyển sách viết về "khoa học làm giàu" do một Bộ trưởng dưới thời Hoàng đế Chandragupta, thuộc triều đại Mauryan, Kautilya. Tác giả này không ai khác hơn là cháu nội của Hoàng đế Phật tử A Dục! Kautila thảo luận về đủ mọi vấn đề: từ xây dựng làng xã đến việc thâu thuế; từ việc bảo quản kế toán đến ngăn ngừa tham nhũng; từ chính sách ngoại giao đến tìm cách gây ảnh hưởng tới các phe phái thù nghịch... Ngay cả các tác phẩm của Socrate hay Aristote cũng không đề cập đầy đủ chi tiết về kinh tế cụ thể như tác phẩm của Kautila, người cùng thời với Aristote. Kautilya đáng được gọi là chuyên viên kinh tế tiên phong.   

Amartya Sen nhìn nhận rằng, các chuyên viên kinh tế đã thành công trong việc giúp tăng hiệu năng và đạt đến những mục tiêu cần thiết như tăng năng xuất lao động, lợi tức, khai thác thị trường.v.v…; nhất là thuyết "quân bình tổng quát" (general equilibrium theory) trong liên hệ sản xuất và thị trường, cho thấy hoạt động kinh tế bị chi phối bởi nhiều động lực hỗ tương cùng một lúc. Nhờ hiểu rõ các động lực ảnh hưởng lên hoạt động kinh tế, những biện pháp tương ứng được đề nghị. Sen đưa ra thí dụ về nạn đói kém. Nạn đói kém trên thực tế không liên hệ với mức cung cầu, nghĩa là mức thiếu hụt thực phẩm không gây ra đói kém, mà vì những chính sách về giá cả trong các quốc gia sản xuất dư thừa. Vào cuối thập niên 70, nông dân Úc đã sát hại hàng ngàn gia súc rồi đem chôn chỉ để duy trì mối quân bình giả tạo giữa cung và cầu, để giữ giá, trong khi trên thế giới có hàng triệu người thiếu dinh dưỡng hay chết đói. Theo quan điểm đạo đức, đây là hành động bất nhân. Nhưng các kinh tế gia không xét đến các yếu tố "phi kinh tế" trong khi đưa ra quyết định. Họ lý luận là nếu không giết gia súc rồi đem chôn để giảm mức cung thì hàng loạt nông dân sẽ bị phá sản. Cứu các nông dân Úc khỏi bị phá sản, về mặt kinh tế, quan trọng hơn là cứu hàng tiệu người bị thiếu ăn. Viết tới đây tôi liên tưởng đến nạn đói năm Ất Dậu (1945) ở Việt Nam. Nhiều người cho là lúc đó lúa gạo miền Nam dư thừa, và nạn đói là do hậu quả của chính sách thực dân và các vấn đề chính trị xã hội khác có liên quan, hơn là vì thiếu thực phẩm. Hy vọng các nhà kinh tế lịch sử nghiên cứu lại giai đọan này, dựa trên dữ kiện và con số đáng tin cậy. 

Tôi xin lấy một thí dụ nữa để cho thấy động cơ hành động của con người thường rất phức tạp chứ không hề đơn giản: nạn tham nhũng chẳng hạn. Tham nhũng xảy ra ở bất cứ quốc gia nào, dù dân chủ hay độc tài, tư bản hay cộng sản. Câu hỏi đặt ra là: Tại sao các viên chức nhà nước tham nhũng? 

Nguyên nhân tham nhũng có thể do lương cán bộ công chức không đủ sống, có thể vì lòng tham, có thể thấy người trên tham nhũng được thì người dưới tội gì không tham, có thể do thấy hệ thống tư pháp chưa công minh, nên nhiều người ăn hối lộ mà không thấy ai bị trừng trị, cũng có thể do thiếu một hệ thống đạo đức làm nền tảng, khi cả xã hội bị khủng hoảng ý thức và nghi ngờ về các tuyên ngôn đạo đức

Có một giải pháp nào hữu hiệu không? Tôi xin nhắc tới nguyên tắc căn bản của Phật giáo nhập thế: chuyển hoá cá nhân và chuyển hóa xã hội là hai yếu tố không thể tách rời được. Nhà làm luật đặt ra đạo luật bài trừ tham nhũng, nhà tôn giáo tạo điều kiện cho tín đồ chuyển hóa tâm linh. Định chế không phải là cách tối ưu để làm người ta tốt, nhưng không có định chế thì không xong. Nguyên nhân tham nhũng không đơn giản như những người muốn tô vẽ, bảo rằng hễ có "dân chủ" lá hết tham nhũng! Có nước dân chủ nào mà không có nạn tham nhũng? Ở tiểu bang New South Wales, Úc, Chính phủ thành lập Ủy Ban (ICAC) bài trừ tham nhũng. Có tham nhũng nên mới lập Ủy Ban bài trừ tham nhũng, nếu không thì lập ra làm gì cho tốn tiền bạc, công sức. Khi thảo luận đến quá trình toàn cầu hóa, tôi sẽ trở lại vấn đề tham nhũng ở các nước dân chủ Tây phương.  Động cơ duy nhất mà các nhà kinh tế hiện đại thường nhắc tới chính là bản tính tham lam -  yếu tố quyết định một cá nhân hành động tham nhũng. Nhưng nguyên nhân của hành động này trùng trùng, không thể quy chiếu về một nguyên nhân duy nhất, do chế độ độc tài hay dân chủ...    

Thay vì thu hẹp động cơ hành động vào yếu tố đơn giản (nếu mô thức kinh tế hiện đại để ý đến những yếu tố đạo đức và xã hội khác), theo Amartya Sen, những mô thức kinh tế này còn có thể thực hiện hữu hiệu nhiều mục tiêu hơn nữa. Giải thích hành vi của con người bằng những mô thức đơn giản "kích thích-phản ứng" như trong cuốn Behaviourism đưa ra đã quá lỗi thời. Behaviourism  phủ nhận khả năng phán đoán và chọn lựa của "homo sapiens". Đối với Phật giáo, chọn lựa (hành) là bước khởi đầu của việc tạo nghiệp - hay giải nghiệp. Để chọn lựa sáng suốt, cần phải hội đủ cả hai yếu tố từ bi và trí tuệ. Nếu để người khác chọn lựa giùm mình, là "định mệnh", không phải là nghiệp theo lời dạy của Đức Phật. 

Cũng như Schumacher, Amartya Sen nói đến những liên hệ kinh tế như một người giảng pháp thoại. Giả sử chúng ta chấp nhận tư lợi thông thường là động cơ chính trong hoạt động kinh tế và ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến chọn lựa, khi hình thành một mô thức, thì nhà kinh tế phải xét đến những yếu tố khác cũng có ảnh hưởng việc hình thành quyết định. Nếu các yếu tố này không được "factor in" như các nhà kinh tế thường nói, mô thức phân tích kinh tế sẽ không tránh được sai lầm. Phật giáo gọi đó là duyên khởi - "cái này có thì cái kia có" - trong mạng lưới trùng trùng. Lý thuyết gần gũi nhất với thuyết duyên khởi được Joanna Macy gọi là Systems theory. Mạng lưới trùng trùng này mới giải thích đầy đủ chọn lựa hành động, thí dụ như hiện tượng tham nhũng. Dù trong bất cứ chế độ nào, dân chủ hay độc tài, Đông hay Tây, đều có tham nhũng, nhưng cũng có nhiều người quyết liệt từ chối tham nhũng. Cho rằng tham nhũng chỉ bắt nguồn từ một chế độ chính trị nào đó, là chưa hiểu gì về lý duyên khởi của nhà Phật...

(Xem tiếp VHPG số 9)
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 08 -THÁNG 9 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)