AMARTYA
SEN,
NHÂN
CHỨNG TỪ BÊN TRONG
Quán
Như
Amartya
Sen - người được giải Nobel về kinh tế năm 1998 - hiện
là Giáo sư kinh tế tại Đại học Harvard. Ông là một nhà
kinh tế "đúng nghĩa" qua nhận xét của các đồng nghiệp,
khi những lý luận của ông được viết ra với tư cách là
nhân chứng từ bên trong. Ông đã nói về những giả định
nền tảng của kinh tế như: động lực tư lợi, tính hợp
lý và khoa học của kinh tế học. Đây đích thực là luận
cứ của người "trong cuộc", hay nói theo ngạn ngữ Tây phương
"the horse’s mouth". Dĩ nhiên, các nhà kinh tế muốn bỏ ngoài
tai những lời chỉ trích của những ai không phải là "kinh
tế gia".
Có
mấy điểm đáng chú ý về Amartya Sen: Ông là người gốc
Ấn Độ, Giáo sư về kinh tế và triết học, Chủ tịch Hội
Kinh toán, Hội Kinh tế gia Ấn - Mỹ, và Hội Kinh tế toàn
cầu. Cũng như các nhân vật nổi tiếng ở Ấn, ông là sản
phẩm của nền giáo dục Anh (ĐH Cambridge). Sen là chuyên gia
về kinh tế phát triển và kinh tế an sinh. Ấn Độ, dù độc
lập đã hơn nửa thế kỷ, nhưng phần lớn người dân hiện
nay vẫn chưa được hưởng tiện nghi kinh tế tối thiểu.
Cho nên chẳng ai lấy làm lạ khi thấy Amartya Sen viết nhiều
về nguyên do bất bình đẳng: Bất Bình Đẳng Kinh Tế (On
Economic Inequality - 1973, 1997), Nghèo Đói (Poverty and Famines),
Tài Nguyên, Giá Trị và Phát Triển (Resources, Values and Development
- 1984) Duyệt Xét Lại Bình Đẳng (Equality Reexamined - 1992) và
hai tác phẩm "giải hoặc" luận điệu của nhóm kinh tế Tân
Cổ Điển - Neocons - về động lực tư lợi và tính hợp lý
của kinh tế học: Phát Triển như là Tự Do (Developmemt as Freedom
- 1999) và Lý Tính và Tự Do (Rationality and Freedom - 2002). Phần
lớn tài liệu và lập luận trong bài này đều dựa trên lập
luận của Amartya Sen trong cuốn Bàn Về Đạo Đức và Kinh
Tế (On Ethics and Economics - 1987).
Đường
đi không hai
Cha
đẻ của kinh tế tư bản, John Stuart Mill, trong cuốn Principals
of Political Economy, đã cảnh báo rằng, người nào muốn đi
vào ngưỡng cửa kinh tế thì phải bỏ lại bên ngoài tất
cả tình cảm cá nhân, và bao giờ cũng phải ghi nhớ động
lực "nguyên chất, giản dị và cứng rắn" của các hoạt
động kinh tế đã được tôn sùng từ thời Adams Smith: tìm
mọi cách tăng tối đa lợi tức cho mình. Con người kinh tế
là con người "có thực", không phải là triết nhân sống trên
mây hay như hiền giả sống ở thời rạng đông của lịch
sử. Tuy nhiên, các nhà kinh tế Tân cổ điển chỉ muốn nhớ
những nguyên tắc nào của Adam Smith có thể biện minh cho lý
thuyết tự do cạnh tranh mà họ theo đuổi, bỏ quên những
yếu tố đạo đức trong cuốn The Wealth of Nations, và cố tình
quên rằng Smith là Giáo sư đạo đức, triết học tại Đại
học Glasgow, trong khi môn kinh tế lúc đó được dạy
ở Đại học Cambridge như là môn "khoa học về đạo đức"!
Kinh
tế càng ngày càng chiếm địa vị quan trọng trong các trường
đại học cũng như trong đời sống quốc gia, trở thành một
khoa học độc lập với triết học trong "khoa học xã hội".
Đến năm 1930, trong tác phẩm An Essay on the Nature and Significance
of Economic Science, Lionel Robbins tuyên bố chính thức "đoạn
tuyệt" với triết học, và nhất là với nguyên tắc đạo
đức.
Có
hai nguồn ảnh hưởng quan trọng của kinh tế và cả hai đều
liên hệ mật thiết với chính trị theo định nghĩa của Aristote,
dù theo hai hướng khác nhau. Khuynh hướng đầu xem kinh tế,
cũng như bất cứ một khoa học nào khác, chỉ là một phương
tiện phục vụ đời sống tập thể, cộng đồng hay quốc
gia. Trong thời khai nguyên của lịch sử, vài trăm năm trước
và sau Tây lịch, thời mà Đức Phật gọi là thời chánh pháp
được truyền bá rộng rãi, Aristote đã viết trong tác phẩm
Politics, xem chính trị là khoa chủ yếu mà ông gọi là "the
Master Art". Chính trị phải tìm cách tận dụng những "khoa
học" khác, trong đó có kinh tế. Cũng như các hiền triết
thời Trục, Aristote nói rất rõ về điểm này: “Tích tụ
tài sản không phải là mục tiêu mà chúng ta tìm kiếm; tài
sản chỉ có ích khi được sử dụng vào mục đích khác”.
Trong chương trước, chúng tôi có nhắc đến câu hỏi tổng
quát của Aristote, liên hệ không những với kinh tế mà còn
liên hệ đến đạo đức và tôn giáo: “Chúng ta nên sống
đời ta như thế nào?” Thái độ này, theo Amartya Sen, tương
phản với động cơ hạn hẹp về tư lợi mà kinh tế hiện
đại luôn luôn nhấn mạnh.
Vấn
đề đạo đức thứ hai liên hệ đến quyền lợi cộng đồng,
dù được định nghĩa như thân nhân, láng giềng, đồng bào
hay nhân loại. Aristote phát biểu rõ ràng về điểm này trong
Nicomachean Ethics: "Làm lợi cho một cá nhân là một điều tốt,
nhưng tốt hơn nữa là đóng góp cho công ích của một tập
thể hay quốc gia". Vào thời các hiền nhân, trong lúc rạng
đông của lịch sử Đông cũng như Tây, công ích tập thể
bao giờ cũng được đem ra làm tiêu chuẩn đo lường mọi
hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động kinh tế.
Nguồn
thứ hai để ý đến hiệu năng của các hoạt động kinh tế,
đặt những mục tiêu như tăng hiệu năng công nhân, giảm
chi phí sản xuất, kiểm soát tiền tệ.v.v..., và tìm ra mô
thức thực hiện các mục tiêu đó. Đây là cơ sở tiếp liệu,
kỹ thuật điều động các phương thức sản xuất, cổ động,
tiêu thụ, cũng như tăng trưởng. Các "chuyên viên" kinh tế
không để ý tới những yếu tố phi kinh tế, như phung phí
tài nguyên, tổn hại môi sinh, sự tan rã trong mối liên hệ
cá nhân, gia đình hay xã hội. Thí dụ như Chính phủ Úc (2005)
đề nghị thay đổi luật lao động để có thể cạnh tranh
hữu hiệu với lao động của các nước khác. Trong tương
lai, công nhân phải chấp nhận những kỹ thuật để làm tăng
hiệu năng, làm việc nhiều giờ hơn bằng cách đổi ngày
nghỉ hăng năm và giờ ăn trưa thành tiền. Hậu quả là công
nhân về nhà chỉ có đủ thì giờ để ngủ, không còn thì
giờ để nhìn mặt hay gần gũi vợ con, không có một cuộc
sống gia đình bình thường, chỉ vì Chính phủ Úc muốn nhân
công có thể cạnh tranh trên thị trường nhân dụng thế giới.
Một thành quả mà lao động quốc tế phải tranh đấu hàng
thế kỷ mới đạt được, đó là thời gian lao động tối
đa là 40 giờ mỗi tuần, không cánh mà bay, lẳng lặng biến
mất. Số giờ làm việc trung bình của công nhân hiện nay
ở Úc là 50 giờ. Làm thể, con người sinh ra như chỉ để
làm việc, kiếm tiền. Hiện có phong trào, tuy còn trong giai
đoạn phôi thai, bỏ các công việc căng thẳng và làm việc
nhiều giờ để tìm các công việc ít lương hơn nhưng ít
ra cũng có đời sống gia đình bình thường. Phong trào này
được gọi là "Downsizing", do những viên chức quản lý cao
cấp khởi đầu, lý do giản dị vì họ là những người có
bằng cấp cao, kinh nghiệm nhiều, nên có thể thay đổi công
việc dễ dàng. Các công nhân lao động trong các xưởng sản
xuất không có cơ hội thay đổi công việc nên vẫn tiếp
tục "cày" năm, sáu chục giờ mỗi tuần để cạnh tranh với
lao động thế giới!
Vai
trò của các chuyên viên kinh tế càng ngày càng trở nên quan
trọng vì các mô thức kinh tế đã làm tăng hiệu năng lao
động, sản xuất, tiếp thị. Các nhà tâm lý được vận
dụng vào kỹ nghệ quảng cáo để quyến rũ "tín đồ". Ngay
cả trong siêu thị, các nhà tâm lý nghiên cứu thói quen của
phụ nữ và trẻ em trong khi mua thức ăn. Kệ trên cao để
hàng gì, kệ dưới để hàng gì, kệ nào vừa tầm trẻ em
thì phải để món hàng nào. Các nhà tâm lý này biết rằng
khi các em đòi mua bánh kẹo trong siêu thị, ít có cha mẹ nào
nỡ lòng từ chối. Đó là chưa kể "đạo quân trừ bị" khổng
lồ trong kỹ nghệ quảng cáo. Thường chúng ta hay nói các
đài truyền hình không phải trả tiền. Ở một xã hội ca
tụng tư lợi, vinh danh lòng tham lam, không làm gì có chuyện
"ăn trưa không trả tiền". Người tiêu thụ chính là những
người trả tiền điều hành và tiền lời hàng năm cho các
tổ hợp truyền hình.
Ngay
từ thế kỷ XVII đã có những chuyên viên kinh tế, như
Sir William Petty, đã áp dụng toán học để tăng hiệu năng
của các hoạt động kinh tế. Nhưng đến thế kỷ XX, khuynh
hướng kỹ thuật lấn áp hoàn toàn. Trong số các giải Nobel
về kinh tế từ lúc bắt đầu (1969) đến năm 1996, số lượng
các nhà kinh tế Mỹ (kể cả những người nhập quốc tịch
Mỹ) là 24 trên 40, phần lớn là chuyên viên về kinh toán.
Kinh toán dùng phương pháp thống kê và phân tích toán học
về các mối liên quan của các hoạt động kinh tế. Các nhà
kinh tế Âu châu, cụ thể là Anh, phần lớn xem kinh tế như
một phần của bối cảnh lịch sử thay vì như một khoa học
độc lập (như các chuyên viên kinh toán mong muốn). Một kinh
tế gia Anh, đồng hương của Smith, Sir John Hicks, và một số
kinh tế gia người Đức, có khuynh hướng nghiêng về kinh tế
hoạch định, hơn là chính sách tự do mậu dịch của các
neocons Mỹ. Sự tương phản vẫn còn căng thẳng cho đến nay,
mặc dù hai bên đều đồng ý quá trình toàn cầu hóa.
Một
điều lý thú là Amartya Sen có nhắc đến một quyển sách
viết về "khoa học làm giàu" do một Bộ trưởng dưới thời
Hoàng đế Chandragupta, thuộc triều đại Mauryan, Kautilya. Tác
giả này không ai khác hơn là cháu nội của Hoàng đế Phật
tử A Dục! Kautila thảo luận về đủ mọi vấn đề: từ
xây dựng làng xã đến việc thâu thuế; từ việc bảo quản
kế toán đến ngăn ngừa tham nhũng; từ chính sách ngoại giao
đến tìm cách gây ảnh hưởng tới các phe phái thù nghịch...
Ngay cả các tác phẩm của Socrate hay Aristote cũng không đề
cập đầy đủ chi tiết về kinh tế cụ thể như tác phẩm
của Kautila, người cùng thời với Aristote. Kautilya đáng được
gọi là chuyên viên kinh tế tiên phong.
Amartya
Sen nhìn nhận rằng, các chuyên viên kinh tế đã thành công
trong việc giúp tăng hiệu năng và đạt đến những mục tiêu
cần thiết như tăng năng xuất lao động, lợi tức, khai thác
thị trường.v.v…; nhất là thuyết "quân bình tổng quát"
(general equilibrium theory) trong liên hệ sản xuất và thị trường,
cho thấy hoạt động kinh tế bị chi phối bởi nhiều động
lực hỗ tương cùng một lúc. Nhờ hiểu rõ các động lực
ảnh hưởng lên hoạt động kinh tế, những biện pháp tương
ứng được đề nghị. Sen đưa ra thí dụ về nạn đói kém.
Nạn đói kém trên thực tế không liên hệ với mức cung cầu,
nghĩa là mức thiếu hụt thực phẩm không gây ra đói kém,
mà vì những chính sách về giá cả trong các quốc gia sản
xuất dư thừa. Vào cuối thập niên 70, nông dân Úc đã sát
hại hàng ngàn gia súc rồi đem chôn chỉ để duy trì mối
quân bình giả tạo giữa cung và cầu, để giữ giá, trong
khi trên thế giới có hàng triệu người thiếu dinh dưỡng
hay chết đói. Theo quan điểm đạo đức, đây là hành động
bất nhân. Nhưng các kinh tế gia không xét đến các yếu tố
"phi kinh tế" trong khi đưa ra quyết định. Họ lý luận là
nếu không giết gia súc rồi đem chôn để giảm mức cung thì
hàng loạt nông dân sẽ bị phá sản. Cứu các nông dân Úc
khỏi bị phá sản, về mặt kinh tế, quan trọng hơn là cứu
hàng tiệu người bị thiếu ăn. Viết tới đây tôi liên tưởng
đến nạn đói năm Ất Dậu (1945) ở Việt Nam. Nhiều người
cho là lúc đó lúa gạo miền Nam dư thừa, và nạn đói là
do hậu quả của chính sách thực dân và các vấn đề chính
trị xã hội khác có liên quan, hơn là vì thiếu thực phẩm.
Hy vọng các nhà kinh tế lịch sử nghiên cứu lại giai đọan
này, dựa trên dữ kiện và con số đáng tin cậy.
Tôi
xin lấy một thí dụ nữa để cho thấy động cơ hành động
của con người thường rất phức tạp chứ không hề đơn
giản: nạn tham nhũng chẳng hạn. Tham nhũng xảy ra ở bất
cứ quốc gia nào, dù dân chủ hay độc tài, tư bản hay cộng
sản. Câu hỏi đặt ra là: Tại sao các viên chức nhà nước
tham nhũng?
Nguyên
nhân tham nhũng có thể do lương cán bộ công chức không đủ
sống, có thể vì lòng tham, có thể thấy người trên tham
nhũng được thì người dưới tội gì không tham, có thể
do thấy hệ thống tư pháp chưa công minh, nên nhiều người
ăn hối lộ mà không thấy ai bị trừng trị, cũng có thể
do thiếu một hệ thống đạo đức làm nền tảng, khi cả
xã hội bị khủng hoảng ý thức và nghi ngờ về các tuyên
ngôn đạo đức
Có
một giải pháp nào hữu hiệu không? Tôi xin nhắc tới nguyên
tắc căn bản của Phật giáo nhập thế: chuyển hoá cá nhân
và chuyển hóa xã hội là hai yếu tố không thể tách rời
được. Nhà làm luật đặt ra đạo luật bài trừ tham nhũng,
nhà tôn giáo tạo điều kiện cho tín đồ chuyển hóa tâm
linh. Định chế không phải là cách tối ưu để làm người
ta tốt, nhưng không có định chế thì không xong. Nguyên nhân
tham nhũng không đơn giản như những người muốn tô vẽ,
bảo rằng hễ có "dân chủ" lá hết tham nhũng! Có nước dân
chủ nào mà không có nạn tham nhũng? Ở tiểu bang New South
Wales, Úc, Chính phủ thành lập Ủy Ban (ICAC) bài trừ tham nhũng.
Có tham nhũng nên mới lập Ủy Ban bài trừ tham nhũng, nếu
không thì lập ra làm gì cho tốn tiền bạc, công sức. Khi
thảo luận đến quá trình toàn cầu hóa, tôi sẽ trở lại
vấn đề tham nhũng ở các nước dân chủ Tây phương.
Động cơ duy nhất mà các nhà kinh tế hiện đại thường
nhắc tới chính là bản tính tham lam - yếu tố quyết
định một cá nhân hành động tham nhũng. Nhưng nguyên nhân
của hành động này trùng trùng, không thể quy chiếu về một
nguyên nhân duy nhất, do chế độ độc tài hay dân chủ...
Thay
vì thu hẹp động cơ hành động vào yếu tố đơn giản (nếu
mô thức kinh tế hiện đại để ý đến những yếu tố đạo
đức và xã hội khác), theo Amartya Sen, những mô thức kinh
tế này còn có thể thực hiện hữu hiệu nhiều mục tiêu
hơn nữa. Giải thích hành vi của con người bằng những mô
thức đơn giản "kích thích-phản ứng" như trong cuốn Behaviourism
đưa ra đã quá lỗi thời. Behaviourism phủ nhận khả
năng phán đoán và chọn lựa của "homo sapiens". Đối với
Phật giáo, chọn lựa (hành) là bước khởi đầu của việc
tạo nghiệp - hay giải nghiệp. Để chọn lựa sáng suốt,
cần phải hội đủ cả hai yếu tố từ bi và trí tuệ. Nếu
để người khác chọn lựa giùm mình, là "định mệnh", không
phải là nghiệp theo lời dạy của Đức Phật.
Cũng
như Schumacher, Amartya Sen nói đến những liên hệ kinh tế như
một người giảng pháp thoại. Giả sử chúng ta chấp nhận
tư lợi thông thường là động cơ chính trong hoạt động
kinh tế và ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến chọn lựa, khi
hình thành một mô thức, thì nhà kinh tế phải xét đến những
yếu tố khác cũng có ảnh hưởng việc hình thành quyết định.
Nếu các yếu tố này không được "factor in" như các nhà kinh
tế thường nói, mô thức phân tích kinh tế sẽ không tránh
được sai lầm. Phật giáo gọi đó là duyên khởi - "cái này
có thì cái kia có" - trong mạng lưới trùng trùng. Lý thuyết
gần gũi nhất với thuyết duyên khởi được Joanna Macy gọi
là Systems theory. Mạng lưới trùng trùng này mới giải thích
đầy đủ chọn lựa hành động, thí dụ như hiện tượng
tham nhũng. Dù trong bất cứ chế độ nào, dân chủ hay độc
tài, Đông hay Tây, đều có tham nhũng, nhưng cũng có nhiều
người quyết liệt từ chối tham nhũng. Cho rằng tham nhũng
chỉ bắt nguồn từ một chế độ chính trị nào đó, là
chưa hiểu gì về lý duyên khởi của nhà Phật...
(Xem
tiếp VHPG số 9)